Hôm nay,  

Giới Thiệu Truyện Việt Nam Yêu Dấu

23/07/201500:00:00(Xem: 6836)

Sau khi trang sử của cuộc chiến tranh Việt Nam khép lại ở ngày 30 tháng 4 năm 1975, những quyển hồi ký của những nhân vật thời cuộc của đất nước Việt Nam bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại sau một thời gian người Việt Nam tị nạn cộng sản có cuộc sống tạm ổn định. Tất cả những quyển sách viết về cuộc chiến tranh Việt Nam cho đến mốc ngày lịch sử 30-4-1975, hay viết về tù đày, cải tạo… dưới chế độ cộng sản trước hoặc sau 1975, hầu hết đều do quý ông, những tên tuổi, già dặn, viết ra. Cho mãi đến khi xuất hiện quyển truyện VIỆT NAM YÊU DẤU của “tác giả nữ” PHẠM THU DUNG mà đọc giả đang cầm trên tay.

Thật đặc biệt, quyển truyện này gần như là hồi ký kể lại cuộc đời của nhân vật chính, từ khi em sinh ra trong bom đạn chiến tranh tại miền Bắc Việt Nam nên em bị trúng miểng bom của Mỹ rải xuống; rồi cha mẹ em tìm cách dùng thuyền câu để mang con cái vượt qua dòng sông Bến Hải sang bên kia bờ tìm tự do và vì tương lai của các con. Họ đã may mắn thành công sang được bến bờ tự do, nhưng đứa con gái bị trúng miểng bom lại bất hạnh trở thành tàn tật suốt đời.

blank
Bìa sách.

Đứa bé ấy là tác giả viết nên truyện VIỆT NAM YÊU DẤU.

Bằng lối văn trong sáng và cô đọng, tác giả thản nhiên diễn tả một cách linh động về gia đình của cô gồm cha mẹ cùng các anh chị em của mình, cho thấy tuổi thơ luôn hồn nhiên, luôn dâng tràn sức sống mãnh liệt của những bục măng non dưới tàng tre xanh che chở, luôn luôn yêu thương, tận tâm, giáo dục, lo tròn trách nhiệm của đôi vợ chồng có 7 người con.

Có thể tác giả có chủ ý, hoặc sẽ còn viết tiếp sau quyển truyện này, cho thấy tác giả tránh đi tối đa những phát biểu của người lớn về chiến tranh, chỉ cụ thể vẽ thoáng cái hoàn cảnh con người đối diện với cuộc sinh tồn trong khi đất nước ngày càng bước đến mức độ chiến tranh toàn diện trên khắp lãnh thổ. Ngoài ra, tác giả cũng cho biết đã tự giới hạn mọi câu chuyện buồn đau, ngoại trừ bất đắc dĩ để cho trọn vẹn mảng chuyện kể đến.

Tuổi thơ trong truyện phải chấp nhận mọi thứ, mọi hoàn cảnh, vì chúng còn là trẻ con, trước nhất là LUẬT của người cha trong đường lối giáo dục của một thanh niên có học thức Âu Mỹ, bên cạnh là người mẹ được đi học đến trung học rồi bị nghỉ học vì là nữ nhi. Bảy người con của đôi vợ chồng này thật may mắn và hạnh phúc sống trong vòng tay yêu thương bảo bọc của bố mẹ như thế. Tuổi thơ của chúng được phát triển hồn nhiên, nhưng trong kỷ luật giáo dục nghiêm nhặt của cha mẹ. Sức sống hồn nhiên được tỉ mỉ kể lại, sự phát triển tự nhiên về nhân bản, tuổi thơ dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt thế nào, tuổi thơ vẫn là tuổi thơ.

Nhưng chính sự hồn nhiên và thơ ngây trong trắng của tuổi thơ, như là phản diện, một mặt trái, một sự thật, mà nhìn vào làm cho con người sẽ ngậm ngùi những cảnh sống trong hoàn cảnh chiến tranh. Chiến tranh thì đương nhiên khốc liệt, ác độc, tàn nhẫn v.v.. nó không nhân nhượng cho bất cứ mạng sống nào, hoàn cảnh nào cả, nó cứ thản nhiên xảy ra, bất kể tạo nên chết chóc hay tàn phế hay hủy diệt, những gì nằm trên bước chân nó đi qua đều trở thành bất hạnh, nhận lấy cái hậu quả do nó gây ra.

Tác giả đưa ra sự ngây thơ hồn nhiên của tuổi thơ như muốn đưa ra nỗi bất hạnh của con người trót sinh ra trong bầu trời khói lửa chiến chinh.

Tuổi thơ không làm được gì cả ngoài sự chấp nhận. Chấp nhận cha mẹ, chấp nhận côi cút, chấp nhận lên đường, chấp nhận hoàn cảnh sống, chấp nhận ngay cả tật nguyền, hay chết chóc trong chiến tranh, như hình ảnh của em Tép, em của Tôm, hai anh em ở giúp việc cho nhà họ Phạm, cố gắng sải tay chèo vượt qua sông Bến Hải, em Tép nhận chịu lằn đạn bắn theo, chỉ thốt lên một câu “em bị trúng đạn rồi anh Tôm ơi” và thân xác em rơi xuống dòng sông.

Tuổi thơ trong chiến tranh làm cho người tri thức, người trưởng thành hay người già nua cảm thấy bất nhẫn và đau lòng vì đó là thế hệ nối tiếp ông cha, là rường cột của quốc gia, là tương lai của đất nước.

Thế mà tuổi trẻ đó còn phải đương đầu trong một xã hội sau khi chấm dứt chiến tranh. Những thanh niên giã từ vũ khí ngậm ngùi cho thân phận còn sống sót của mình trước một tương lai mù mịt. Biết bao tuổi thơ có cha mẹ bị coi là tội đồ của chế độ, chịu bao thiệt thòi và nhục nhằn trong cuộc sống đổi mới, một đất nước vừa hòa bình chấm dứt chiến tranh.

Chúng ta có lẽ ai cũng biết cái xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đã phải trải qua giai đoạn gọi là “thời kỳ quá độ” một cách khắc nghiệt và tàn nhẫn như thế nào.

Tác giả ngừng lại, đóng lại quyển truyện khi nhân vật chính vừa đến tuổi 13, ở độ tuổi của một cô gái chưa đến giai đoạn biến đổi sinh lý cơ thể, và nếu dù là một cậu trai, cũng chưa có thể có được tư duy nào về chiến tranh để có thể phát biểu ra những ý nghĩ về chúng.

Tuy nhiên, tuổi thơ vẫn có những ấn tượng về chiến tranh qua cuộc sống bằng trí óc non dại của chúng, những ấn tượng không nhiều thì ít, cho chúng mường tượng có nhiều đau khổ, đau buồn đã xảy ra bởi chiến tranh. Một nỗi sợ hãi ám ảnh vô hình mà trẻ con không biết làm sao.

Trẻ con tùy thuộc vào cha mẹ, vào định mệnh, vào cộng nghiệp với những con người tạo nên chiến tranh, và, chúng hoàn toàn bất lực trước những thứ khó hiểu như thế.

Sự dừng bút kể truyện của cô bé 13 tuổi giống như một sự bất lực trước định mệnh của mình, của cha mẹ, của đất nước, của những người lớn hay xóm giềng chung quanh mà chúng biết. Không biết rồi cái gọi là định mệnh ấy sẽ đi về đâu?

Cuối cùng, cũng tùy thuộc vào người lớn, chúng giống như ngọn sóng nhỏ bị ngọn sóng lớn lùa đi. Phương trời trước mắt thật là vô định với chúng.

Tất cả do người lớn, người lớn quyết định, trách nhiệm những gì họ làm, chúng nào khác cái danh từ gọi là “nạn nhân”, hoàn toàn lệ thuộc và tùy thuộc. Cho nên, khi chúng lớn lên, trưởng thành, nếu không may tuổi thơ chúng bị xô đẩy vào một hoàn cảnh kiếp đời khốn khổ, thì lời than oán của chúng không phải là vô nghĩa.

Tuổi thơ không biết oán trách, chỉ biết tuân phục. Sự hồn nhiên tuân phục ấy, đồng thời sự hồn nhiên của sức sống ấy, có bao giờ làm cho những ai từng góp phần trong chiến tranh, sẽ bùi ngùi, cảm thấy ray rứt khi quyển truyện VIỆT NAM YÊU DẤU khép lại ở trang cuối cùng?

Nếu lương tâm cảm thấy xót xa cho tuổi trẻ thơ, thì con người ít nhất trong cuộc sống hiện tại đừng bao giờ tiếp tục tạo nên đau khổ cho tuổi thơ.

Có phải đó là lời nhắn gởi của tác giả Phạm Thu Dung chăng?

Lê Giang Trần

GHI CHÚ:
Thiệp Mời
NXB Sống trân trọng kính mời Quý Độc Giả Tham dự buổi ra mắt tác phẩm
VIỆT NAM YÊU DẤU
Tác giả: PHẠM THU DUNG

Được tổ chức tại:
Phòng sinh hoạt Việt Báo
14841 Moran St.,
Westminster, CA 92683
Vào lúc 3pm,
Thứ Bảy, 25 Tháng 7, 2015
Trân trọng kính mời.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.