Hôm nay,  

Mỹ-Hoa Tao Ngộ Mới Lạnh Mình

31/07/201500:00:00(Xem: 7469)

Cường quốc già nua đi xuống lại gặp một siêu cường đi lên

Căn cứ trên kinh nghiệm trăm năm về Đệ nhất Thế chiến 1914-1918, người ta thường cho rằng khi một tân cường quốc xuất hiện trước đà suy yếu của một cường quốc đã từng giữ vai bá chủ thì đại chiến dễ xảy ra vì sự thay đổi trong tương quan lực lượng. Cũng từ bài học đó, nhiều học giả hay sử gia luận bàn rằng siêu cường Hoa Kỳ đang suy yếu, với dấu mốc là vụ khủng hoảng tài chính năm 2008, và rằng Trung Quốc đang vươn lên thành nền kinh tế đứng thứ nhì thế giới, với dấu mốc là việc sản lượng đã vượt Nhật Bản năm 2010 và nay mai có thể bắt kịp Hoa Kỳ.

Từ đó, người ta suy đoán rằng một vụ xung đột Mỹ-Hoa là điều có thể xảy ra - hoặc nên tránh.

Nhưng dường như sự thật lại rắc rối hơn vậy - vì bốn lẽ.

* * *

Trước hết, tại khu vực Đông Á, cường quốc tân hưng là Trung Quốc lại tái ngộ một cường quốc từng là cừu thù trong quá khứ. Đấy là Nhật Bản, đang có tranh chấp về chủ quyền với Trung Quốc trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và mâu thuẫn về phạm vi định vị phòng không DIZ chồng chéo lên nhau. Chưa nói đến một vụ xung đột Mỹ-Hoa thì ta đã thấy ra chuyện đối đầu Hoa-Nhật. Bài viết trên cột báo này vào tuần trước có đề cập tới bổi cảnh của nguy cơ “Nhật-Hoa Tái Ngộ”.

Thứ hai, và ngược với nhận thức của nhiều người, Trung Quốc chỉ là cường quốc chưa lên mà đã xuống, chưa giàu mà đã già, chưa hùng mà đã hung. Chuyện “tân hưng” hay “quật khởi” chỉ là giấc mơ ngắn ngủi có ba chục năm. Chúng ta sẽ phải tìm hiểu hiện tượng này.

Thứ ba, rất ý thức được tình trạng suy yếu đã bắt đầu, lãnh đạo Trung Quốc đang cố tiến hành chiến lược “tiên hạ thủ”, là tích cực phòng vệ, như Bạch thư về Quốc phòng đã đề ra và được công bố ngày 26 Tháng Năm vừa qua. Chiến lược ấy nhắm vào việc ngăn ngừa Hoa Kỳ can thiệp khi Bắc Kinh mở chiến dịch kiểm soát và khuynh đảo các nước lân bang như “một sự đã rồi” trước khi chính mình đi vào thời suy yếu.

Và vì vậy, chính Hoa Kỳ mới đang bị thách đố, và đây là bài toán của lãnh đạo Hoa Kỳ sau cuộc bầu cử năm tới. Khi tuyên thệ nhậm chức vào ngày Thứ Sáu, 20 Tháng Giêng năm 2017, Tổng thống tân cử của Hoa Kỳ sẽ phải nhìn vào thách đố ấy.

Bài này sẽ lần lượt trình bày những khúc mắc nói trên.

* * *

Đầu tiên, ngược với nhận thức của nhiều người, ba chục năm tăng trưởng liên tục của Trung Quốc, từ khi Đặng Tiểu Bình khởi sự cải cách năm 1979 cho đến cột mốc 2009, không là một sự kỳ diệu kinh tế.

Nhiều quốc gia Đông Á đã có mấy chục năm tăng trưởng ngoạn mục khi chuyển hướng kinh tế theo quy luật thị trường. Sau giai đoạn khởi phát, cất cánh rất mạnh và nhanh, các nền kinh tế này đều thấy đà tăng trưởng giảm dần đến tốc độ “bình thường” của các nền kinh tế công nghiệp hóa Tây phương. Đấy là trường hợp của Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan trong các thập niên khởi phát 1950-1980 và sẽ là trường hợp của Ấn Độ sau này. Trung Quốc chỉ học chiến lược của các nước Đông Á đi trước và có ưu thế là dân số cao, nhân công đông và rẻ. Đây là chuyện bình thường, không là phép lạ.

Cho nên, cũng giống như các nước Đông Á đi trước, Trung Quốc đã có đà tăng trưởng ở khoảng 9-10% một năm trong ba chục năm liền kể từ 1980. Đà tăng trưởng ấy đang chậm lại, chỉ còn là 7,8% vào năm 2012, hay 7% vào năm nay, rồi sẽ còn giảm nữa, chỉ ở khoảng 3-4% một năm trong thập niên tới.

Nhưng khác với trường hợp Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan là các nước đã áp dụng quy luật tự do về kinh tế và dân chủ về chính trị nên tiến vào hàng ngũ công nghiệp hóa với lợi tức rất cao của người dân, còn Trung Quốc áp dụng chiến lược Đông Á với một chế độ chính trị độc tài và vai trò chủ đạo của nhà nước. Vì vậy, đà tăng trưởng trong mấy chục năm khởi phát lại có nhược điểm là thiếu phẩm chất, gây bất công, ô nhiễm và lãng phí. Từ những năm 2007-2008, lãnh đạo Bắc Kinh thời Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đã nói đến chuyện “bốn không” của kinh tế: không cân xứng, không phối hợp, không công bằng và không bền vững.

Giới lãnh đạo kinh tế xứ này công nhận mối nguy đã được các định chế tài chánh quốc tế đề ra là “rơi vào cái bẫy xập của lợi tức trung bình”. Và cứ nằm dưới đó như hầu hết mọi quốc gia đã từng theo kinh tế thị trường để phát triển thành một nước.

Việc kinh tế Trung Quốc sẽ sớm vượt Hoa Kỳ là giả thuyết cho vui.

Lợi tức một đầu người của Trung Quốc, là một tiêu chuẩn khác về năng suất, cho thấy một người Nhật kiếm ra 36.000 đô la một năm, người Đại Hàn 28 ngàn, Đài Loan 22 ngàn trong khi dân Tầu mới được 7.700, so với dân Mỹ là hơn 54 ngàn bạc, chỉ bằng 14%. May lắm thì 15 năm nữa sẽ bằng 33% và đến 2060 thì bằng phân nửa. Nếu như nước Tầu chưa có loạn!

Không, tình hình lại còn nguy ngập hơn vậy, vì Trung Quốc đang mất dần ưu thế dân đông và nhân công rẻ vì dân số lại sớm bị lão hóa do chính sách “mỗi hộ một con” đã áp dụng từ năm 1979.

Vài con số cụ thể sau đây có thể cho thấy sự chuyển động chậm rãi mà rất mạnh của tình trạng dân số Trung Quốc: thành phần trẻ tuổi từ 20 đến 24 của xứ này là 116 triệu vào năm 2012 sẽ chỉ còn 94 triệu vào năm 2020 và 67 triệu vào năm 2030. Trong 20 năm tới, tỷ số những người ở tuổi lao động so với người về hưu sẽ sụt từ 5/1 xuống 2/1, tức là hai người phải nuôi một.

Hậu quả chung cuộc là dân số Trung Quốc sẽ giảm dần, chưa tới một tỷ dân vào năm 2060 so với một tỷ 350 triệu ngày nay. Dân số co cụm và bị lão hóa như vậy tất nhiên ảnh hưởng đến sức nặng kinh tế và sức mạnh quân sự trong những thập niên sắp tới.

Và nếu so sánh thì Hoa Kỳ vẫn có dân số trẻ hơn trên một lãnh thổ vuông vức phì nhiêu, trong một xã hội có quyền tự do nên có sức sáng tạo rất cao. Siêu cường Hoa Kỳ không lụn bại như người ta thường nghĩ, mà cường quốc vừa quật khởi được 30 năm là Trung Quốc thì đã thấy con dốc trước mặt. Đấy mới là nỗi lo sợ của lãnh đạo Bắc Kinh, khi mà nguy cơ khủng hoảng tài chánh vẫn gia tăng vì núi nợ quá lớn, quá nặng.

Cho nên, ngoài Nhật Bản ở đầu ngõ và khủng hoảng ở bên trong, Trung Quốc không thể quên được siêu cường vẫn còn khả năng can thiệp toàn cầu trong nhiều thập niên tới, là Hoa Kỳ.

* * *

Chính là vì ý thức được những khó khăn đã bắt đầu và sẽ kéo dài trong vài chục năm, lãnh đạo Bắc Kinh mới có những ưu tiên khác, như ráo riết giải quyết hồ sơ Đài Loan; dẹp tan mầm động loạn vì mâu thuẫn xã hội và sắc tộc; khống chế tối đa khu vực cận duyên đang có tranh chấp về chủ quyền với các lân bang; và ngăn ngừa Hoa Kỳ can thiệp vào các cuộc tranh chấp này. Họ phải cấp bách hoàn thành những mục tiêu ấy trong vài chục năm tới, như môt sự đã rồi, trước khi cán cân lực lượng nghiêng dần về nước Mỹ vì sự lụn bại khó tránh của Trung Quốc.

Trong phạm vi an ninh, mà an ninh cũng là kinh tế, lãnh đạo Trung Quốc đang lấy rất nhiều rủi ro. Hoa Kỳ rất khó can gián Bắc Kinh nếu không tự chuẩn bị cho kịch bản đáng ngại nhất, là trực tiếp đụng độ với Trung Quốc trên vùng biển Đông Bắc Á và Đông Nam Á.

Kết luận là nhiều phần thì Trung Quốc sẽ có đụng độ. Nghĩa là Hoa Kỳ sẽ lại tham chiến, nhưng khác hẳn hình thái trận địa chiến ngày xưa. Mà lần này Mỹ lại có một chuỗi đồng minh bán đảo hay hải đảo, như Ấn Độ, Nhật Bản, Úc Đại Lợi hay một số quốc gia Đông Nam Á.

Đấy là những hồ sơ đang chờ đợi Tổng thống tân cử của Hoa Kỳ vào năm 2017.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.