Thế Hệ Nữ Thi Sĩ Sinh Sau 1975: Chiêu Anh Nguyễn, Khương Hà, Đoàn Minh Châu, Trần Lê Sơn Ý

21/10/202200:00:00(Xem: 3381)
 
Minh họa_Bay Đêm_Sông Văn
Minh họa “Bay Đêm” - Sông Văn
 
Phần lớn các nhà thơ nữ sinh sau cột mốc đau thương 1975, đã dường như nhẹ nhàng hơn, những ám ảnh của chiến tranh, ít bị day dứt hơn vấn đề ý thức hệ. Họ ít nhiều đã hưởng được quả ngọt của nữ quyền, thoát ra khỏi khung cửa chật hẹp của định kiến, góp phần nở rộ một dòng thơ mạnh mẽ, tự tin, khao khát tự do, và bản lĩnh, nói rất thực nhân sinh quan của mình về những mối tương quan trong một thế giới vật chất như hiện nay. Họ cũng rất phóng khoáng thể hiện những cảm xúc đam mê dạt dào nữ tính. Mang những trạng thái có vẻ như đối nghịch nhau như thế khiến dòng thơ của lớp thơ nữ này tỏa sức quyến rũ lạ lẫm, tạo nên một lớp độc giả với cảm thụ thi ca mới mẻ.
 
Kỳ này xin giới thiệu các nhà thơ nữ nổi tiếng trong nước như Chiêu Anh Nguyễn, Khương Hà, Đoàn Minh Châu, Trần Lê Sơn Ý. Và chúng ta sẽ thấy được lớp áo đủ sắc mầu mà các nhà thơ nữ này khoác lên nhân vật “Anh” trong chiếc kén tình yêu của họ.
 
*
 
CHIÊU ANH NGUYỄN
 
 
KÝ ỨC MUỘN
 
Em đi tới đầu nguồn
Tìm lại…
Mùa này
Ngã ba sông
 
Thông lô nhô khấp khởi
Sim chín rục dậy mùi
Những nấm mồ nâu trống hoác
Ngọn đồi rực hoa vàng
 
Giấc mơ anh cõng em bay trên ngọc lan sau căn phòng
                       chúng ta đánh rơi chiếc chìa khoá duy nhất
Đành yêu nhau bên hàng hiên giữa gạch ngói ngổn ngang
Đêm như dài, sâu hơn chìm trong đáy ly vang uống dở
Anh rót vào em ngày chóng vánh
Tất cả còn treo trên mười ngón tay anh
Em buộc vào đấy một nụ hôn
 
 
VỌNG ÂM
 
Ngọn ngọc lan bị phạt ngang sau cơn bão
Sài Gòn khan hiếm tai ương
Vài trận bão trong năm
Vài cơn nóng rát
Đã rêm mình
Bờ kênh triều cường xuống lên thấp thỏm
Nồng nặc mùi cam phận
Ngã ba lơ đễnh những hố hầm
 
Góc Duy Tân
hẻm 47 quán cà phê còn dăm chiếc bàn chỏng chơ thảm hại
Giờ ưu tiên hẻm spa
Xe hơi vào ra tấp nập
(biết đâu, vài năm nữa chắc sẽ không còn ai nhớ tên hẻm Trịnh!)
Chỗ hẹn hò nhăng cuội bạn bè
Thơ thẩn, xi nê mấy gã hoạ sĩ đương thời cũng chả còn nơi tá túc
Buổi sáng nào ngồi tán gẫu tình yêu tình báo
Lơ ngơ nghe ngóng chuyện phố phường
Lề phải, trái chung chiếc bàn con
Hỉ hả cười như dân cày được ruộng
 
Sài Gòn 2 giờ 40 phút sáng
Loay hoay chờ tiếng chim từ cành ngọc lan cụt đầu vọng tới
Mưa khuya
Lũ chim chắc cũng tràn trề thất vọng
Buông tiếng thở dài kéo chiếc chăn phủ ngang chân
Dỗ mãi vẫn không vào giấc ngủ...
 
*
 
KHƯƠNG HÀ
 
 
NHỮNG RỜI VÀ RẠC
 
khi em bay trên những con đường không có “những ngã tư và
những cột đèn”
anh ở đâu, làm gì, với ai?
 
khi em nhắm mắt để không phải thấy khuôn mặt người tình sau một đêm biến thành quỷ dữ
anh ở đâu, làm gì, với ai?
 
khi chúng ta tưởng như đã nắm được ngón út của nhau qua những ngất ngư cười và im lặng
anh bỏ đi đâu, làm gì, với ai?
 
khi những người da đen lục tục xếp lại cây kèn trumpet
ngón tay em uể oải dạo nốt cuối cùng của bản nhạc jazz
điếu thuốc trên môi anh vẫn cháy
 
đừng nghĩ về nhau bằng biểu tượng và những dây thần kinh nhếch nhác
trên những trang sách bất trị
lão già Murakami vẫn tiếp tục khoe khoang về sự văn minh của loài người
khi chúng ta băn khoăn về vỏ sò nguyên thuỷ
 
quên nỗi buồn đi
và bay vào trong em bằng cơn yêu đời sau cuối
những lọn sóng sẽ vẽ lên con hải âu lạc bầy
bức tranh của đến và đi
cô đơn và tận diệt
 
anh đã ở đâu, làm gì, với ai
khi chuyến xe tải bắt đầu hành trình xuyên qua lòng biển?
ở đâu đó một con sứa thốt lên ánh sáng cuối đời
bằng một cơn giận dữ tột đỉnh
 
thức dậy đi thôi
cái bóng của hai nghìn năm ký ức loài người
dòng máu của Eva và rắn lục tuôn thành huyền sử
gã Adam ôm trái cấm nằm yên như một cơn đau họng
và những con chim ruồi trở về
rỉa tung nỗi chết
 
ai kéo vĩ cầm trên đỉnh núi
xiết như một trưa hè
và nỗi buồn ngồi trên ngọn cây
huýt sáo
 
anh ở đâu, làm gì, với ai?
 
 
BÀN TAY ANH
 
Áp vào bàn tay anh
em thấy những cánh đồng
Những cánh đồng trải ra hút tầm mắt
Hoa cúc dại dưới nắng chiều gay gắt
Ngọn núi đắm mình trong mưa rơi…
Miền Trung xa xôi cơn lũ trắng trời
Miền Trung xa xôi khô cằn hạn hán
Dòng sông miệt mài trôi
chẳng thể nào xoa dịu vết thương của đất
Cơn lũ không xóa nổi chân chim nứt nẻ cánh đồng
sau mùa nắng cháy
 
Đôi bàn tay anh
Hằn sâu những đường cày số phận
trên thửa ruộng cuộc đời
cuộc đời lận đận
Hoa cúc buồn trắng những cơn đau…
 
Áp vào bàn tay anh
em nghe tiếng thì thầm của dòng sông trong từng mạch máu
Dòng sông lớn lên cùng chiến tranh
ôm vào lòng những người con bất hạnh
Dòng sông chảy qua tuổi thơ anh
mang đi tuổi thơ anh
Con người soi mình xuống nước
Chỉ thấy màu khói lửa
và khuôn mặt những người thân yêu
nhòa đi trong nắng chiều…
 
*
 
ĐOÀN MINH CHÂU
 
 
TƯỢNG HÌNH KÍN
 
anh sóng sánh chao nghiêng những cái nhìn
em không dứt được
em cũng không gỡ nổi
tuổi xanh mềm rạo rực cứ quấn quít chân anh
và những ý nghĩ
thơm thơm mùi tóc anh xoã ngợp
 
giờ làm việc
căn phòng nhỏ giọt tên anh
em giấu vào đâu được gương mặt anh quanh quẩn tìm một góc nhỏ ủ anh thật kín
nỗi nhớ cứ nôn nao sóng
 
câu chuyện hôm qua
không có em trong đó
và ban tối, em đã chui vào bức tranh tung toé những khát vọng dang dở
tìm anh
giấc mơ tượng hình.
 
 
 PHỐ
 
Những con phố trổ dài xuống ngực
chặn những con phố trổ dài xuống ngực…
Từng ngày.
Phố âm âm lạnh
giở trang giấy chủ nhật
rác vô hồn bay lên
tình cờ khuôn vào ý nghĩ nhoe nhoét cả thanh âm lộn xộn tiếng rao tiếng còi xe tiếng phố
tự lúc nào
giấc ngủ chằng chịt bụi
những buổi sáng rũ mềm hơi sương
xoè tay hứng mặt người chảy dòng dòng quết dày mặt phố
ngẫu nhiên thấy mặt ai trong đó
quen quen như mặt mình.
 
 
CHẲNG ĐIỀU GÌ ĐỔI THAY
 
có thể chẳng điều gì đổi thay
những ngày không gặp nhau
mùa đông vẫn đầy đôi mắt
và em vẫn cố giữ nhịp đập con tim mình
đều đặn
bằng tất bật với những điều vô nghĩa
 
chẳng gì đổi thay
mùa bình yên qua phố
anh vẫn bình thản với những thân quen hằng ngày
em như một niềm hư ảo
 
cơn mưa đầu đông cứ cứa vào ước vọng
chẳng còn vẹn nguyên
em giấu đi từng ngày tuổi mình thêm một chút
giấc ngủ về khuya chắp vá
 
có thể lúc nào em chỉ hiện hữu giữa một mộng mị bất chợt
cũng chẳng phải điều đổi thay trong những thói quen
 
ước mơ bỗng thành xa lạ.
 
*
 
TRẦN LÊ SƠN Ý
 
 
BAO NHIÊU LÀ ĐỦ?
 
Bao nhiêu là đủ cho một khu vườn?
Đôi khi chỉ một cành cây. Một cành khô. Thậm chí là một viên cuội nhỏ
Bao nhiêu là đủ cho một khu rừng?
Một tia chớp ngang. Một đốm thuốc tàn. Một mồi lửa nhỏ
Bao nhiêu là đủ cho một khu biển?
1234567890 dự án, 987654321 hồ sơ và cộng cả hai những thư thỉnh nguyện
Hay chỉ cần một cánh chim lướt trên đầu sóng
Một con rùa mù
Một mảnh sứa trong
Một tinh thể muối?
Bao nhiêu là đủ cho một đại dương người?
Một cơn bão lũ
Một trận dịch càn
Một con virus
Một manh chiếu mòn
Hay một bàn tay chắp
Thắp lên những bông sen và những ngọn đèn?
 
 
 ĐU TREND
 
Chào em, anh đứng đây từ chiều (*)
Chào em, anh đứng đây từ sáng
Rồi chào anh, em đứng đây từ hôm qua
Chào anh, em đứng đây từ kiếp trước
Hot trend tình yêu ngập tràn facebook
Mỗi một status là mỗi một lần thời gian (không gian) bị đẩy lùi.
Những vui đùa, bỡn cợt, hoan ca trùm trên đầu chiếc mũ đen sáng tạo
Tôi đu theo trend: “chào anh, em đứng đây từ vô lượng kiếp”
Phút nhấp vào chữ “đăng” trên màn hình phải, tôi biết mình ở lại vô lượng kiếp
Bất động vô lượng kiếp
Vô tri vô lượng kiếp
!!!!
Chào anh!
 
 (*) Câu tán gái của một youtuber trong một clip giải trí, được cộng đồng mạng ưa thích, gây bão trên mạng xã hội đầu năm 2020.
 
 
ĐỒNG THOẠI
 
Như những con bướm vàng chẳng bao giờ đợi nổi nắng tháng ba
Tôi chỉ thấy quanh mình hoa mùa xuân và cỏ mật
Thôi ước làm chi một đời bất tận
Chỉ mong một ngày biết nắng tháng tư
 
Chẳng bao giờ tôi dám ước mơ
Được một lần sống trong đời nhau sống hết
Chỉ xin làm con phù du đơn độc
Một lần bay chạm mặt bình minh
 
Tôi đã hát những đêm đông xám buốt, những trưa vàng
Hát trên đầu ngọn sóng, hát dưới đồi sỏi xanh
Hát bằng nỗi sợ hãi của chú ve
Dưới sân khấu chỉ có mùa hè mặc áo đen làm thính giả
 
Chỉ giản đơn thôi mà bị phạt
thành những đám mây không mang nổi chính mình lang thang cuối bể đầu sông
Để khi nhẹ nhàng chạm đất
Là cơn mưa trọn đời không nhớ nổi tiền thân.
 
(Thơ được lấy từ các trang trên net)
 

Bên trong gương mùa đông đang chờ đợi… Trong biên vực ảo ảnh của chờ đợi thì anh có thể, dựa vào lưng gương lạnh giá/ hát nghêu ngao một cách vô tư… cho đến khi tiếng rung cuối cùng của tấm gương trong suốt ấy mở ra thiên địa mới… Có vẻ như trong bụng chờ đợi của mùa đông đang sửa soạn để khai sinh. Mời người lắng vào thơ của các tác giả Han Kang- Nguyễn Man Nhiên, Nguyễn Lương Vỵ, Trương Đình Phượng, Nguyễn Đạt, Bei Dao (Bắc Đảo)-Cù An Hưng, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Ngọc Diệp, Trịnh Thanh Thủy, Nguyễn Thị Khánh Minh, Vũ Hoàng Thư, Vân Thuyết, Hoàng Xuân Sơn, Trịnh Y Thư, Khế Iêm, Nguyễn Xuân Thiệp, để nghe nỗi trở dạ rộn ràng cùng u buồn của mùa Đông.
Thiên Lý Độc Hành, là tựa một tập thơ của Thầy, và cũng là bốn chữ được viết treo trên hương án của Thầy tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, nơi Thầy ở vào những năm tháng cuối đời. Thiên lý độc hành, hình ảnh biểu trưng nhất về Thầy Tuệ Sỹ, muôn dặm cô lữ dằng dặc nỗi ưu tư phận nhà vận nước…Và, khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, thấp thoáng ẩn hiện Người và cõi thơ tịnh tĩnh. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở/ Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan... Hỏi, tại sao, vì đâu, lòng muối kiên định... để bất khuất chưa tan?
Tháng tư nắng quái trên tàng lá / Ngày nóng rang, khô khốc tiếng người / Nước mắt ướt đầm trên mắt mẹ / Nghìn đêm ai khóc nỗi đầy vơi? / Tháng tư em dắt con ra biển / Hướng về nam theo sóng nổi trôi / Thôi cũng đành, xuôi triều nước lớn / Làm sao biết được, trôi về đâu?
Dù đứng bên bờ vực của tận diệt, con người vẫn có thể cứu chuộc chính mình bằng ngôn từ và ký ức, đó là tinh thần của giải Nobel Văn Chương năm nay. Trong ánh sáng của niềm tin, Việt Báo đăng lại bài thơ “Hãy để nước Mỹ lại là nước Mỹ” của Langston Hughes – một khúc ca vừa đau đớn vừa thiết tha, viết gần một thế kỷ trước, mà như viết cho thời đại ngày nay. Giấc mơ Hughes gọi tên lại vang lên – giấc mơ về một xứ sở nơi lời hứa của nước Mỹ là hơi thở chung của những người cùng dựng lại niềm tin vào công lý, vào tự do, vào chính con người.
Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhất là trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, nếu cho là chủ quan, tôi vẫn nói rằng, Khí thơ của Nguyễn Xuân Thiệp là khí thu. Trăng ở thơ đó là trăng thu. Gió ở thơ đó mang cái hắt hiu thu. Không biết tại sao, chỉ thấy Khi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp tôi lại liên tưởng đến cảm xúc của Trương Trào trong U Mộng Ảnh xưa: “Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì là hay.”. Nguyễn Xuân Thiệp, xuất hiện lần đầu tiên trên dòng thơ của văn học miền Nam Việt Nam vào năm 1954 trên Thẩm Mỹ Tuần Báo với bài thơ Nhịp Bước Mùa Thu. Bài thơ tính đến lúc này là 71 năm -tiếng thở dài một đời người-, hôm nay tôi đọc lại, cảm xúc vẫn bị lay động bởi hình ảnh u buồn của lịch sử vào thời gian xa xăm đó.
Nguyên Yên, một trong những nhà thơ đương đại nổi tiếng ở hải ngoại. Cô chưa in một tập thơ nào, chỉ xuất hiện trên một số trang web như Việt Báo, Văn Việt, Hợp Lưu, Blog Trần thị Nguyệt Mai, Phố Văn… Ngoài những bài viết về thời sự, bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình. Tôi thực sự bị dòng thơ này lôi cuốn.
Theo đại thi hào R.Tagore "Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong". Theo tác giả cổ đại Ovid (khoảng năm 43 trước Công Nguyên) thì: “Có ít nhiều sự thoải mái trong cơn khóc”. Thi sĩ Colley khẳng định: “Lời nói để khóc và nước mắt để nói” Thi sĩ người Pháp Alfred de Musset có câu thơ: “Cái duy nhất còn lại cho tôi ở trên đời/ Chính là những lúc đã đôi lần nhỏ lệ”. Thi sĩ người Anh Robert Herrick: “Giọt lệ chính là ngôn ngữ cao quý của đôi mắt” .Nhà thơ trẻ Nepal, Santosh Kalwar tâm sự: Tôi đã mỉm cười ngày hôm qua. Tôi đang mỉm cười ngày hôm nay và khi ngày mai đến, tôi sẽ mỉm cười. Vì đơn giản, cuộc sống quá ngắn để ta khóc về mọi thứ – Và ai đó đã cho rằng: Không có gì đẹp hơn một nụ cười đã trải qua những giọt nước mắt.
Trong tập Bốn Mùa Trời và Đất, Márai Sándor cảm giác về mùa hè, …Tôi đứng trên ban công, giữa một vùng xanh, nghe tiếng rì rào thức dậy của cây cỏ. Mùa hè đây rồi, tôi nghĩ; và nó giống như một cảm xúc tràn ngập trong tôi, không khoan nhượng, và đầy những kỷ niệm giản dị… (Giáp Văn Chung dịch) Trong tản văn Hoa Nở Vì Ai, Vũ Hoàng Thư viết, …Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm… Và mùa hè trong truyện của Đặng Thơ Thơ, … Đó là lúc chín nhất của mùa hè. Những trái táo bắt đầu căng mật. Từ trong lá cây thoảng ra những ngọn gió màu xanh thẫm...Ở Cảnh Nhàn của Bạch Vân Cư Sĩ có thú sống, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…, có lẽ thời của người, nước còn trong ao còn sạch.
Bạn đang nghe thấy gì trong khí hậu tháng Tư? / Tiếng kêu từ đáy huyệt cuối trời. / Tiếng gió xoáy những cột cờ tử thương tuẫn tiết. / Tiếng phố vỡ triệu mảnh thủy tinh cắt lồng ngực tháng tư rỉ máu mãi chưa khô. / Tiếng sóng hôi dao mùi hải tặc từ oan nghiệt một thời biển huyết. / Tiếng oan hồn dật dờ tìm về cố quận, đáy vực kia bầy cá hoang tảo mộ. / Tiếng hậu chấn từ tâm hồn con dân tháng Tư choàng lên thảng thốt. Dấu chàm xanh lưu xứ để nhận ra nhau. / Tiếng con bướm gáy trong giấc ngủ đôi bờ chiến tuyến. / Tiếng vô vọng của dòng thơ đớn đau, sỉ nhục trải dài trên đất đai tổ quốc. /Tiếng mong mỏi trên những dòng thơ đang vuốt mắt lịch sử, xin hãy chết yên, chết quên, và mở lòng ra ôm những vết thương, trồng lại bóng Quê Nhà…
“Chìm trong biển chết trôi tim người / Còn gì đâu tiếc thương xa xôi …” Chiếc tàu nhỏ rời bến Constantine, Algeria, chở Enrico Macias đến một nơi xa lạ, người lưu vong không bao giờ được phép trở về. Làm sao cánh chim di có thể quên lối cũ? Chiến tranh xua đuổi ông ra khỏi quê nhà. Tàu khởi hành không một người đưa tiễn. “Người tình ơi, ta xa nhau. Mượn đôi mắt em lên đường.” Với cây guitar làm hành trang, ông ghi lại, “J'ai quitté mon pays …”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.