Hôm nay,  

Bí ẩn Miễn dịch COVID-19: Các Nhà Khoa học Có Thể Đã Tìm Ra Câu Trả

28/06/202400:00:00(Xem: 2117)

Mien dich Covic

Nghiên cứu mới được thực hiện tại Anh đã phát hiện ra rằng sự kết hợp giữa khả năng phòng thủ mạnh mẽ của tế bào mũi và hoạt động cao của một gen cụ thể có thể hợp tác để chống lại vi-rút ở một số cá nhân trước khi nó kịp bám trụ. Hình: istock.com

 
Một nghiên cứu mới đã tiết lộ về phản ứng miễn dịch của con người khi đối mặt với SARS-CoV-2 và các bệnh truyền nhiễm khác.

Hơn bốn năm kể từ khi Covid-19 được tuyên bố là đại dịch với tổng số ca bệnh trên toàn thế giới vượt quá 775 triệu, các nhà khoa học đang làm sáng tỏ những phản ứng miễn dịch cụ thể giúp một số người dường như không bị nhiễm virus.

Nghiên cứu mới được thực hiện tại Anh Quốc, một phần của Nghiên cứu Con Người Thách thức Covid-19 và dự án Bản Đồ Tế Bào Người, đã phát hiện ra rằng sự kết hợp giữa khả năng phòng thủ mạnh mẽ của tế bào mũi và hoạt động cao của một gen cụ thể có thể hợp tác để chống lại vi-rút ở một số cá nhân trước khi nó kịp bám trụ.

Được công bố trên tạp chí Nature vào tuần trước, nghiên cứu cung cấp thông tin chi tiết về mốc thời gian phản ứng miễn dịch của cơ thể người đối với SARS-CoV-2 và các bệnh truyền nhiễm khác.

"Những phát hiện này cung cấp cái nhìn mới về các sự kiện quan trọng ban đầu cho phép virus bám trụ hoặc nhanh chóng loại bỏ nó trước khi các triệu chứng phát triển", Marko Nikolić, tác giả chính của nghiên cứu và là chuyên gia tư vấn danh dự khoa hô hấp tại Đại học College London (UCL), cho biết trong một tuyên bố. "Bây giờ chúng tôi hiểu rõ hơn về toàn bộ các phản ứng miễn dịch, có thể cung cấp cơ sở để phát triển các phương pháp điều trị và vắc xin tiềm năng nhái theo các phản ứng bảo vệ tự nhiên này."

Thực hiện vào năm 2021, nghiên cứu bắt đầu với việc các nhà nghiên cứu xịt một lượng nhỏ biến thể SARS-CoV-2 ban đầu vào mũi của 36 tình nguyện viên người lớn khỏe mạnh chưa được tiêm chủng và chưa từng mắc bệnh trước đó.

Từ nhóm này, các nhà nghiên cứu đã thu thập mẫu máu và dung dịch mũi của 16 tình nguyện viên nhiều lần - trước khi tiếp xúc và nhiều lần trong 28 ngày tiếp theo - để theo dõi sự lây lan của vi-rút và phản ứng miễn dịch của những người tham gia. Giải trình tự các mẫu này, nhóm nghiên cứu đã tạo ra một bộ dữ liệu chứa hơn 600,000 tế bào riêng lẻ và hành vi hoạt động của chúng trước, trong và sau khi tiếp xúc.

Phản ứng của tình nguyện viên được chia thành ba nhóm riêng biệt. Sáu người bị ốm và có triệu chứng; ba người có kết quả xét nghiệm Covid-19 dương tính trong thời gian ngắn nhưng không có triệu chứng, được gọi là nhiễm trùng tạm thời; và bảy người liên tục có kết quả xét nghiệm âm tính và không có triệu chứng, nhưng đã xây dựng được phản ứng miễn dịch với vi-rút - nhóm nghiên cứu gọi đây là loại bỏ nhiễm trùng.

Ở hai nhóm sau, những người tham gia cho thấy nền tảng hoạt động cao của một gen gọi là HLA-DQA2, giúp cảnh báo hiệu quả cho hệ thống miễn dịch về các mối đe dọa tiềm ẩn.

"Những tế bào này sẽ lấy một ít vi-rút và cho các tế bào miễn dịch xem: 'Đây là vật lạ: Bạn cần phải xem và giải quyết nó,'" Kaylee Worlock, nhà sinh học phân tử và nghiên cứu sinh tiến sĩ tại UCL, nói với Hannah Devlin của Guardian.

Một đặc điểm chung khác giữa những người trong hai nhóm sau liên quan đến việc sản xuất chất miễn dịch “interferon”, hoặc các protein giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể. Đối với những tình nguyện viên này, lượng “interferon” được sản xuất trong máu trước khi xuất hiện ở vùng mũi trên.

Hai nhóm người có phản ứng tạm thờiloại bỏ đã phát triển một phản ứng miễn dịch nhanh chóng - được hình thành trong khoảng một ngày - bên trong mũi của họ. Trong khi đó, những người có kết quả xét nghiệm dương tính với Covid-19 mất trung bình năm ngày mới có được phản ứng miễn dịch ở mũi.

Đáng chú ý, những người tham gia không miễn nhiễm với việc mắc Covid-19 - một số người sau đó đã nhiễm vi-rút trong cộng đồng, sau khi nghiên cứu kết thúc. Và hiện nay, một số biến thể khác của SARS-CoV-2 đang lưu hành - không chỉ riêng biến thể ban đầu được thử nghiệm. Nhưng các nhà khoa học cho biết nghiên cứu cung cấp những manh mối quan trọng về khả năng kháng bệnh.

Chống lại Covid-19: Còn nhiều điều cần nghiên cứu

Mặc dù nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về phản ứng miễn dịch sớm, các nhà khoa học vẫn cần nghiên cứu thêm để xác định chính xác lý do. Nghiên cứu về các biến thể mới hơn và tuổi tác của người tham gia cũng cần được tiến hành để có được bức tranh toàn cảnh hơn về khả năng miễn dịch.

Tuy nhiên, nghiên cứu này mở ra những hướng đi mới cho việc phát triển các phương pháp điều trị và vắc xin hiệu quả hơn trong tương lai.

Nguyên Hòa biên dịch
Nguồn:https://www.smithsonianmag.com/smart-news/why-are-some-people-seemingly-immune-to-covid-19-scientists-may-now-have-an-answer-180984581/ 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vitamin D là một dưỡng chất thiết yếu, giúp cơ thể hấp thu canxi và duy trì sức khỏe xương. Tuy nhiên, khoảng một phần ba người Mỹ hiện nay bị thiếu vitamin D; trong số đó, phụ nữ chiếm tỷ lệ cao hơn. Với phụ nữ, tình trạng thiếu vitamin D không chỉ là câu chuyện của xương khớp mà còn liên quan đến nhiều mặt khác của sức khỏe. Phụ nữ có tỷ lệ loãng xương cao hơn nam giới nhiều lần. Khi thiếu vitamin D, xương dễ trở nên mềm và yếu, lâu dài dẫn đến gãy xương. Do cấu trúc xương nhỏ và mỏng hơn, phụ nữ chịu ảnh hưởng rõ rệt hơn khi thiếu dưỡng chất này. Các giai đoạn sinh học quan trọng như mang thai và sau mãn kinh càng làm nhu cầu vitamin D tăng cao.
Hãy thử tưởng tượng: một ngày nào đó, bạn vào bệnh viện vì nhiễm trùng tai do vi khuẩn, và bác sĩ nói thẳng: “Chúng tôi hết thuốc rồi.” Nghe có vẻ không tin nỗi, nhưng viễn cảnh ấy đang tiến gần hơn nhiều người nghĩ. Năm 2016, tại Nevada, một phụ nữ đã tử vong vì nhiễm trùng do một loại vi khuẩn kháng toàn bộ 26 loại kháng sinh hiện có tại Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Riêng Hoa Kỳ mỗi năm ghi nhận hơn 2,8 triệu ca bệnh liên quan đến vi khuẩn kháng thuốc. Trên quy mô toàn cầu, kháng thuốc kháng sinh có liên quan đến gần 5 triệu ca tử vong mỗi năm. Đây không còn là chuyện hiếm, cũng không còn là cảnh báo lý thuyết.
Tổ chức American Academy of Pediatrics (AAP) vừa công bố hướng dẫn chích ngừa cho trẻ em trong năm 2026, đánh dấu lần rạn nứt lớn đầu tiên với chính phủ liên bang về lịch chích ngừa sau gần 30 năm thống nhất. Theo AAP, trẻ em Hoa Kỳ vẫn cần được chích ngừa để phòng ngừa 18 loại bệnh nguy hiểm, trong đó có Covid-19, cúm mùa, viêm gan A và B, sởi, RSV và một số bệnh truyền nhiễm khác. Hướng dẫn này đi ngược lại quyết định mới của Centers for Disease Control and Prevention (CDC), vốn đã cắt giảm lịch chích ngừa chính thức từ 18 bệnh xuống còn 11 bệnh kể từ đầu tháng Giêng.
Hàng chục ngàn người dân California thuộc tầng lớp trung lưu đang phải trả phí bảo hiểm y tế cao hơn nhiều trong năm nay, sau khi các khoản trợ cấp liên bang tăng cường theo Luật Chăm Sóc Sức Khỏe Giá Phải Chăng (Affordable Care Act, thường gọi là Obamacare) chính thức chấm dứt vào cuối năm 2025.
Có một nỗi khổ mà các bà, các cô thường phải âm thầm gánh chịu nhiều hơn các ông, đó là chứng nhức nửa đầu, hay còn gọi là migraine. Nhức đầu thì ai cũng từng bị, nhưng với nhiều phụ nữ, đây không phải chuyện đau vài tiếng rồi thôi, mà là một thứ bệnh đeo đẳng suốt nhiều năm, ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày và cả công ăn việc làm.
Mỗi độ đầu năm, hàng loạt chế độ ăn uống lại xuất hiện, hứa hẹn những thay đổi nhanh chóng cho sức khỏe. Nhưng giữa những lời quảng cáo rầm rộ ấy, chỉ có một mô hình ăn uống được y giới đánh giá cao suốt gần ba thập niên vì hiệu quả thực sự và có cơ sở khoa học vững chắc: chế độ ăn DASH. Chế độ DASH, viết tắt của “Dietary Approaches to Stop Hypertension” (những phương pháp dinh dưỡng nhằm ngăn chặn cao huyết áp), được các nhà nghiên cứu thuộc National Heart, Lung, and Blood Institute xây dựng cách đây gần 30 năm. Mục tiêu ban đầu không phải để tạo ra một trào lưu, mà là tìm một cách ăn uống lâu dài, có thể cải thiện huyết áp và sức khỏe tim mạch mà không cần dựa vào thuốc men.
Đầu Tháng Giêng, trong hệ thống y tế Hoa Kỳ đã xảy ra một thay đổi lớn khiến nhiều bác sĩ và phụ huynh không khỏi lo ngại. Các viên chức y tế liên bang đã sửa đổi lịch chủng ngừa cho trẻ em. Trước giờ, có những mũi vắc-xin được xem là “chuẩn chung,” tức là hầu như đứa trẻ nào cũng nên chích. Phòng khám chuẩn bị sẵn thuốc, bác sĩ theo dõi theo lịch, cha mẹ chỉ cần đưa con đi đúng hẹn. Mọi việc diễn ra suôn sẻ, ít rắc rối.
Những năm gần đây, sức khỏe phụ nữ được nói tới nhiều hơn trước. Từ mạng xã hội, podcast cho tới phim ảnh và bản tin thời sự, các đề tài như ung thư vú, mãn kinh hay liệu pháp hormone đã trở thành chuyện thường ngày. Đây là một thay đổi tích cực. Tuy nhiên, theo nhiều bác sĩ, sự quan tâm ấy cũng mang theo một rủi ro: thông tin thường bị nói quá gọn, thiếu bối cảnh, thậm chí sai lệch. Vì vậy, không ít phòng mạch phải dành thời gian giải thích lại, giúp bệnh nhân hiểu đúng vấn đề.
Lần đầu tiên, nhiều người tại Hoa Kỳ thuộc diện cần tầm soát ung thư cổ tử cung sẽ có thêm lựa chọn ngoài cuộc khám phụ khoa truyền thống vốn gây e ngại cho không ít người. Hướng dẫn y tế liên bang mới công bố khuyến nghị cho phép tự lấy mẫu xét nghiệm virus HPV tại nhà hoặc tại cơ sở y tế. Hướng dẫn cập nhật do Health Resources and Services Administration (HRSA) ban hành ngày 5 tháng 1 cho biết: những người từ 30 đến 65 tuổi, thuộc nhóm nguy cơ trung bình, có thể tự lấy mẫu bằng dụng cụ tương tự tampon để xét nghiệm HPV. Mẫu được gửi đến phòng thí nghiệm nhằm phát hiện các chủng HPV nguy cơ cao, vốn là nguyên nhân của hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung.
Các thuốc kích thích thần kinh như Ritalin và Adderall đã được dùng rộng rãi nhiều thập niên để chữa rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), song một công trình nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Cell cho thấy chúng không thật sự tác động lên hệ thống điều khiển sự chú ý của não bộ như giới chuyên môn từng tin tưởng. Trái lại, các loại thuốc ấy chủ yếu ảnh hưởng lên vùng phần thưởng và vùng tỉnh thức, hai trung khu chi phối hứng thú và sự tỉnh táo. Nghiên cứu được tiến hành trên gần 5.800 trẻ em từ 8 đến 11 tuổi, đồng thời nêu bật vai trò quan trọng của thiếu ngủ trong căn bệnh này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.