Hôm nay,  

Song ngữ: Học Đạo Từ Khi Nằm Nôi // Learning Buddhism from the Cradle

12/01/202507:14:00(Xem: 4065)
blank 

Học Đạo Từ Khi Nằm Nôi
 

Nguyên Giác

 

Khi chúng ta nói rằng nhiều người Việt Nam đã học đạo từ khi nằm nôi, chỉ là một hình ảnh cho thấy Phật giáo đã gắn bó với lịch sử dân tộc Việt Nam từ nhiểu ngàn năm. Nhiều lời dạy trong Kinh Phật đã ăn sâu vào trong chính sử, và cả huyền sử của dân tộc Việt.
 

Huyền sử, tức là những chuyện cổ tích hư cấu, kể rằng dân tộc Việt Nam xuất phát từ khoảng hơn bốn ngàn năm trước, rằng nàng tiên xinh đẹp Âu Cơ từ trên những ngọn núi cao thường xuyên đi lại trên vùng đồng bằng để đem tài năng về y thuật chữa trị những người đang lâm bệnh và gặp khó khăn. Một hôm, một con quái vật làm nàng sợ hãi. Nàng tiên Âu Cơ liền biến thành phượng hoàng mà bay đi. Lúc đó, Lạc Long Quân, là thần rồng từ biển cả, thấy nàng đang gặp nguy hiểm liền hiện ra, cầm lấy cục đá, ném ra và xua đuổi quái vật.
 

Nàng tiên Âu Cơ và thần rồng Lạc Long Quân kết hôn, sinh ra 100 người con. Một ngày nọ, Lạc Long Quân nói với nàng Âu Cơ rằng nàng là tiên và chàng là rồng, nên khó ở chung với nhau trọn đời. Hai người chia nhau, 50 con theo mẹ lên núi và 50 con theo cha xuống biển. Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Mười mấy đời truyền nối vua đều lấy hiệu là Hùng Vương.

Tiền nhân khi nghĩ ra chuyện cổ tích trên, hàm ý nói rằng người Việt đừng nên nghĩ rằng căn cước của mình là tiên, hay là rồng, mà sự thật nên nghĩ là vô ngã. Thêm nữa, sự dị biệt giữa người này với người kia không có thật, vì tất cả chỉ là 100 bọt sóng trong một chùm trứng của mẹ. Tất cả chỉ là một thoáng hiện của vô thường, và rồi là một thoáng tan đi.
 

Do vậy, trong lời dạy cổ điển của Việt Nam có nhiều lời dạy rằng hãy yêu thương người khác như yêu thương chính bản thân mình. Câu “Thương người như thể thương thân” có nghĩa rằng hãy thấy người khác như chính bản thân mình, rằng tất cả ta và người khác chỉ là những chùm ngũ uẩn kết hợp, trống rỗng, không tự ngã, và đều chịu đau khổ. Thấy như thế, lòng từ bi sẽ hiển lộ, sẽ thương người khác như thương chính mình.
 

Từ đó, dân tộc Việt khuyến khích nhau hãy sống với hạnh bố thí. Thí dụ, câu nói phổ biến từ xa xưa là: Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Hay là: Lá lành đùm lá rách.
 

Có nhiều thời đại, nếp sống từ bi được vua đưa vào luật để thi hành. Như trường hợp Vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã ghi trong luật rằng, khi trong làng có người bệnh mà không ai nuôi, và người bệnh này phải nằm ngoài đường, thì quan xã phải dựng lều lên để chăm sóc, cho họ cơm cháo, thuốc men, nhằm cứu cho họ sống, không được bỏ mặc cho họ khốn khổ. Nếu bệnh nhân chết, thì quan xã phải trình quan trên và chôn cất. Viên quan nào trái lệnh sẽ bị bãi chức.
 

Phật Giáo đã vào Việt Nam rất sớm, khoảng thế kỷ thứ hai, hay thế kỷ thứ ba theo dương lịch. Theo nghiên cứu của Giáo sư Lê Mạnh Thát, một số Kinh điển Pali được dịch ra tiếng Việt cổ từ trước năm 220 theo dương lịch, trong đó có cuốn Tạp Thí Dụ Kinh mà không rõ người dịch là ai. Các chi tiết về nghiên cứu này ghi trong sách Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, nơi chương Phật Giáo Sau Thời Hai Bà Trưng (PGSTHBT).
 

Giáo sư Lê Mạnh Thát viết về cội nguồn các cuốn sách Phật học đầu tiên được chuyển từ tiếng Pali sang tiếng Việt cổ: “Ban đầu khi Phật giáo mới truyền vào nước ta, một số truyện có nguồn gốc Phật giáo Ấn Độ xuất phát từ nền văn học bản sinh Phạn văn hay các phương ngôn như Pàli đã được dùng để thuyết minh giáo lý trong những buổi giảng. Một thời gian, một tác giả Việt Nam vô danh nào đó đã tập hợp chúng lại, gồm luôn các truyện có nguồn gốc địa phương và biên tập thành Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Việt, để sau đó đã trở thành bản đáy cho Khương Tăng Hội dịch ra tiếng Trung Quốc. Một khi đã thế, người viết các truyện trên không thể ai khác hơn là vị "thánh hiền" Việt Nam sống khoảng giữa thế kỷ thứ nhất và thứ hai sau Dương Lịch, mà ta hiện chưa truy tìm được tên tuổi...” (PGSTHBT)
 

Giáo sư Lê Mạnh Thát ghi nhận rằng sách Tạp Thí Dụ Kinh có một nét nổi bật là nhấn mạnh đến việc cúng dường và những lợi ích của cúng dường. Trong 12 truyện đề cập đến khía cạnh này, có ba truyện nói tới việc cúng dường đức Phật (truyện 10, 17 và 28), có hai truyện nói tới việc cúng dường tháp tượng. Bảy truyện còn lại đề cập tới việc cúng dường cho các đệ tử Phật, các "đạo nhân".
 

Nghiên cứu của GS Lê Mạnh Thát cũng ghi nhận như sau: “Điểm thứ hai là khi nói đến cúng dường, Tạp Thí Dụ Kinh đã có một quan tâm đặc biệt đến những người nghèo, đến những người với những phương tiện hạn chế, như ba tiều phu của truyện 31, thậm chí không có một phương tiện gì như lão mẫu của truyện 3. Đây là một mối quan tâm đặc biệt, bởi vì theo truyện 21, nó là bản nguyện cả vị đệ tử số một của đức Phật, là Ma Ha Ca Diếp. Ca Diếp chỉ muốn "độ người bần cùng, một mình không chịu nhận" sự cúng dường của nhà giàu. Phải nói đó là một nét đặc trưng khá lôi cuốn của bản kinh này. Nó nói lên một thực trạng là vào những ngày tháng đầu tiên lúc mới truyền tới nước ta, Phật giáo đã chọn đứng về phía những người nghèo (truyện 3, 21, 28, 30 và 31), bất hạnh đang khổ đau (truyện 20, 23), không hướng tới những kẻ giàu keo kiệt bủn xỉn (truyện 17), những kẻ ỷ quyền vào sức mạnh (truyện 13), bạo lực (truyện 8).” (PGSTHBT)
 

GS Lê Mạnh Thát ghi rằng các lời dạy từ Kinh Phật như thế đã in sâu vào lòng dân tộc Việt Nam: “Nó xác định cho Phật giáo một chỗ đứng giữa lòng dân tộc Việt Nam, đặc biệt sau sự biến năm 43 sdl, khi nhà nước Hùng Vương bị quân đội Mã Viện đánh sụp, kéo theo một loạt đổ vỡ dây chuyền trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa, mà phải mất hàng chục năm mới có thể ổn định lại được. Trong cơn lốc chính trị, kinh tế, văn hóa đó, việc chọn đứng về phía những người nghèo, người bất hạnh, khổ đau bất định đem lại cho Phật giáo một vị thế có được những tiếng nói có quyền uy giữa đại đa số quần chúng. Đây cũng là lý do tại sao Phật giáo trở thành nơi gửi gắm những đạo lý tinh hoa của dân tộc, những truyền thống ngàn đời của người Việt, như ta đã thấy trong Lục độ tập kinh.” (PGSTHBT)
 

Từ đó, người dân Việt đời này sang đời kia vẫn giữ truyền thống cúng dường Tam Bảo và bố thí cho tất cả chúng sinh. Ngay tới miếng ăn cuối cùng cũng sẵn sàng bố thí cho người khác. Như Đức Phật đã dạy trong Kinh Iti 26:
 

Này các Tỷ-kheo, nếu chúng sinh chỉ biết, như Ta biết, quả của sự bố thí và chia sẻ, họ sẽ không ăn mà không bố thí trước, và vết nhơ của sự keo kiệt sẽ không chiếm giữ tâm họ. Họ sẽ không ăn mà không chia sẻ ngay cả miếng ăn cuối cùng, miếng ăn cuối cùng của họ, miễn là có người nhận nó. Chính vì chúng sinh không biết, như Ta đã biết, quả của sự bố thí và chia sẻ, nên chúng sinh ăn mà không bố thí trước, và vết nhơ của sự keo kiệt sẽ chiếm giữ tâm họ.”
 

Là những người con dân tộc Việt, dù đang ở trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam, chúng ta hãy giữ gìn truyền thống học Phật của tiền nhân. Hãy nhìn tất cả mọi người, tất cả chúng sanh nơi cõi này, đều cùng chung trong một bọc nước của vô ngã, đang bập bềnh trên mặt nước vô thường. Hãy luôn luôn giữ hạnh cúng dường Tam Bảo và bố thí cho tất cả những người đang cần giúp đỡ. Đặc biệt, hãy nhớ rằng bố thí với tâm không mong cầu sẽ đưa người tu lên một cõi trời và sẽ đó sẽ chứng quả Bất lai nơi đó, không trở về cõi khổ này nữa.
 

Đức Phật dạy như thế trong Kinh AN 7.52, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích: “Ở đây, này Sàriputta, có người bố thí không với tâm cầu mong, bố thí không với tâm trói buộc, bố thí không với mong cầu được chất chứa, bố thí không với ý nghĩ: “Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”... [...]...Nhưng vị ấy bố thí với ý nghĩ để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm. Do vị ấy bố thí như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Và khi vị ấy, nghiệp được đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy được đoạn tận, vị ấy trở thành vị Bất lai, không trở lui trạng thái này.”
 

Do vậy, bạn hãy sống với tâm hồn thơ mộng như một hậu sinh của rồng và tiên, hãy thường trực nhìn thấy tất cả chúng sinh và mình như chung trong một chùm bọt nước. Và hãy sẵn sàng bố thí dù là miếng ăn cuối cùng của mình, và hãy bố thí trong mọi trường hợp có thể, chỉ để trang nghiêm tâm của mình. Đó cũng là con đường để chứng thánh quả Bất Lai.

.... o ....
 

Learning Buddhism from the Cradle
 

Written and translated by Nguyên Giác
 

When we say that many Vietnamese people have studied Buddhism since their cradle, we are illustrating the deep connection between Buddhism and the history of the Vietnamese people that spans thousands of years. Numerous teachings found in Buddhist scriptures have become deeply embedded in both the official and legendary histories of Vietnam.
 

Legends, which are fictional fairy tales, tell that the Vietnamese people originated more than four thousand years ago. The beautiful fairy Âu Cơ, who lived in the high mountains, often traveled across the plains to share her medical talents and treat those who were sick or in need. One day, a monster frightened her. The fairy Âu Cơ immediately transformed into a phoenix and flew away. At that moment, Lạc Long Quân, the dragon god from the sea, saw that she was in danger. He appeared, picked up a rock, and threw it to chase away the monster.


 

The fairy Âu Cơ and the dragon god Lạc Long Quân were married and had one hundred children. One day, Lạc Long Quân explained to Âu Cơ that as a fairy and a dragon, it would be challenging for them to live together for the rest of their lives. Consequently, they decided to separate: fifty children accompanied their mother to the mountains, while the other fifty followed their father to the sea. The eldest son remained with Âu Cơ and was crowned king, adopting the title Hùng Vương. He established the capital in Phong Châu and named the country Văn Lang. For more than ten generations, all subsequent kings bore the title Hùng Vương.
 

When our ancestors created the aforementioned fairy tale, they suggested that Vietnamese people should not perceive their identity as that of a fairy or a dragon. Instead, they should consider the truth as non-self. Moreover, the distinction between one person and another is illusory, as all individuals are merely 100 bubbles within a cluster of a mother's eggs. Each person is simply a transient manifestation of impermanence, destined for eventual disappearance.
 

Therefore, in the classical teachings of Vietnam, there are numerous principles that emphasize loving others as you love yourself. The phrase "Love others as you love yourself" refers to seeing others as yourself, understanding that we are all just clusters of five aggregates, empty, without self, and subject to suffering. Seeing this way, compassion will manifest; you will love others as you love yourself.
 

Since then, Vietnamese have encouraged acts of charity. For example, a popular saying from ancient times states: A piece of food when hungry is worth a whole package when full. Similarly, another saying goes, "An intact leaf covers a torn leaf."
 

Throughout numerous eras, the king codified a compassionate lifestyle into laws for enforcement. For instance, King Lê Thánh Tông (1460-1497) enacted laws requiring a village official to set up a tent, provide care, offer rice porridge, and administer medicine to a sick person lying on the street, ensuring they did not suffer. If the patient died, the village official was obligated to report the incident to their superior and arrange for a burial. Disobeying this order would result in the official's dismissal from their position.
 

Vietnam first encountered Buddhism in the second or third century CE. According to Professor Lê Mạnh Thát's research, several Pali scriptures were translated into ancient Vietnamese prior to 220 CE, including the Tạp Thí Dụ Kinh (Miscellaneous Parables Sutra), although the identity of the translator remains unknown. The details of this research are documented in the book "Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam" (History of Vietnamese Buddhism), specifically in the chapter titled Phật Giáo Sau Thời Hai Bà Trưng (Buddhism After the Trưng Sisters' Period).
 

Professor Lê Mạnh Thát discussed the origins of the first Buddhist texts translated from Pali into ancient Vietnamese: “In the beginning, when Buddhism was first introduced to our country, certain stories of Indian Buddhist origin, derived from Sanskrit birth literature or Pali texts, were utilized to elucidate Buddhist teachings. After some time, an anonymous Vietnamese author compiled these stories, including those of local origin, and edited them into the Vietnamese version of the 'Cựu Tạp Thí Dụ Kinh' (Old Miscellaneous Parables Sutra), which later served as the foundation for Khương Tăng Hội's translation into Chinese. Consequently, the author of these stories could only be a Vietnamese 'saint' who lived between the first and second centuries CE, although we have yet to identify their name.”
 

Professor Lê Mạnh Thát observed that the book 'Miscellaneous Parables Sutra' prominently emphasizes the significance of offerings and their benefits. Among the twelve stories that highlight this theme, three focus on offerings made to the Buddha (stories 10, 17, and 28), while two discuss offerings to stupas and statues. The remaining seven stories center on offerings made to the Buddha's disciples and other religious figures.
 

Professor Lê Mạnh Thát's research also noted the following: “The second point is that when discussing offerings, the 'Miscellaneous Parables Sutra' places a special emphasis on the poor and those with limited means, such as the three woodcutters in story 31, or even those without any means at all, like the old woman in story 3. This concern is significant because, according to story 21, it was the vow of the Buddha's foremost disciple, Ma Ha Ca Diếp, who only wished to 'save the poor' and refused to expect offerings from the wealthy. This aspect of the sutra is particularly compelling. It illustrates that during its initial introduction to our country, Buddhism chose to align itself with the poor (as seen in stories 3, 21, 28, 30, and 31), the unfortunate, and the suffering (as depicted in stories 20 and 23), rather than with the stingy rich (as in story 17), those who rely on power and strength (as in story 13), or those who resort to violence (as in story 8).
 

Professor Lê Mạnh Thát observed that the teachings of Buddhist scriptures are deeply embedded in the hearts of the Vietnamese people: “Buddhism established a significant presence among the Vietnamese, particularly following the events of 43 CE, when the Hùng King state was defeated by Mã Viện's army. This defeat triggered a series of disruptions in economic, social, and cultural life that took decades to stabilize. Amidst this political, economic, and cultural turmoil, Buddhism chose to align itself with the poor, the unfortunate, and the suffering, thereby gaining an authoritative voice among the majority. This alignment is also why Buddhism became the custodian of the nation's moral teachings and the millennia-old traditions of the Vietnamese people, as exemplified in the 'Lục độ tập kinh' (The Six Paramitas Sutra).”
 

Since then, Vietnamese people have upheld the tradition of making offerings to the Triple Gem and sharing with all living beings across generations. Even the last bite of food is willingly shared with others. This practice reflects the teachings of the Buddha, as outlined in the Iti 26 Sutta.
 

Mendicants, if sentient beings only knew, as I do, the fruit of giving and sharing, they would not eat without first giving, and the stain of stinginess would not occupy their minds. They would not eat without sharing even their last mouthful, their last morsel, so long as there was someone to receive it. It is because sentient beings do not know, as I do, the fruit of giving and sharing, that they eat without first giving, and the stain of stinginess occupies their minds.” (Translated by Bhikkhu Sujato)
 

As Vietnamese people, whether residing inside or outside of Vietnam, let us preserve the tradition of practicing Buddhism passed down by our ancestors. Recognizing the interconnectedness of all people and living beings in this world, like bubbles in water, is crucial. It is essential to uphold the virtue of making offerings to the Triple Gem and providing for those in need. In particular, remember that giving without expectation will elevate the practitioner to a heavenly realm, where they will attain the fruit of Non-return, never to return to this realm of suffering again.
 

The Buddha taught this in the AN 7.52 Sutta, as translated by Bhikkhu Sujato, and is quoted as follows: “Next, take the case of a someone who gives a gift not as an investment, their mind not tied to it, not expecting to keep it, and not thinking, ‘I’ll enjoy this in my next life’... [...] ...Sāriputta, someone who gives gifts, not for any other reason, but thinking, ‘This is an adornment and requisite for the mind’, when their body breaks up, after death, is reborn among the gods of the Divinity’s host. When that deed, success, glory, and sovereignty is spent they are a non-returner; they do not return to this place.”
 

Therefore, live with a poetic heart, like a descendant of dragons and fairies, always perceiving all living beings and yourself as part of a cluster of bubbles. Be prepared to make donations, even with your last morsel of food, and offer assistance in every possible situation simply to enrich your mind. This is also the path to attaining the state of Non-Returner.

.

Tham Khảo / Reference:

-- Lê Mạnh Thát, Phật Giáo Sau Thời Hai Bà Trưng: https://thuvienhoasen.org/a29018/phat-giao-sau-thoi-hai-ba-trung

-- Kinh Iti 26: https://suttacentral.net/iti26/en/sujato

-- Kinh AN 7.52, HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an7.52/vi/minh_chau

AN 7.52 Sutta, trans. by Bhikkhu Sujato: https://suttacentral.net/an7.52/en/sujato

.... o ....



Theo các nhà chức trách, vào sáng sớm Chủ nhật, một tay súng tại Louisiana đã giết 8 trẻ em—trong đó có 7 người con ruột của hắn—và bắn trọng thương hai người khác trong một vụ bạo lực gia đình kinh hoàng diễn ra tại hai ngôi nhà. Vụ này đã gây chấn động một khu dân cư tại Shreveport và trở thành một trong những vụ xả súng hàng loạt đẫm máu nhất cả nước trong hơn hai năm qua.
Patel từng say rượu tới mức biến mất trong phòng, FBI phải kêu đội SWAT tới phá cửa cứu ra. - Bất kể lệnh tòa, ICE trục xuất 174 người DACA tòa bảo vệ, bắt thêm 270 người DACA. - ICE bắt, sửa soạn trục xuất người thông ngôn duy nhất ở tòa án Texas chuyên về 3 ngôn ngữ Punjabi, Hindi, và Urdu - Bị Trump loại ra vòng ngoài, Giám Đốc Tình Báo vuốt ve Trump bằng cách công bố hồ sơ luận tội Trump vì Trump xin Ukraine truy tố gia đình Biden, nghi do Dân Chủ móc nối CIA.
- Eo biển Hormuz tiếp tục căng thẳng: tàu chở dầu bị tàu vũ trang Iran khai hỏa. - Lốc xoáy tàn phá thị trấn Lena, Illinois. - Ba người bị kết án vì giả gấu để lừa đảo, lấy tiền bảo hiểm. - Trump tham gia đọc Kinh Thánh sau tranh cãi với giới Kitô giáo. - Nga tung tin giả về chuyến thăm Ukraine của Quốc vương Thụy Điển. - California kêu gọi chủng ngừa mpox sau khi phát hiện biến chủng nghiêm trọng hơn tại San Francisco. - Binh sĩ Pháp thiệt mạng tại Lebanon.
Cựu viên chức ngoại giao Hoa Kỳ Lionel Rosenblatt, ân nhân của gần 400 người dân miền Nam Việt Nam, vừa qua đời ngày Thứ Bảy, 11/4, sau thời gian dài chiến đấu với căn bệnh ung thư, thọ 82 tuổi. Tổ chức Refugees International loan tin trên trang nhà. Ông là người đã thực hiện một cuộc sơ tán “không được phép”, đưa hàng trăm người dân Việt Nam rời khỏi Sài Gòn trước ngày 30/4/1975.
Hiện tại đã có 33 tiểu bang có luật yêu cầu các khu học chánh thực hiện lệnh cấm sử dụng điện thoại di động trong các lớp học thuộc các trường phổ thông (K-12). Hầu hết các lệnh này cấm việc sử dụng điện thoại trong toàn bộ thời gian học tập tại trường.
Tôi xúc động vì nghĩ rằng mình là kẻ di dân trôi giạt qua đây, dù nghèo nhưng cũng có một mái ấm gia đình, cuộc sống tương đối bình yên, đâu phải sống đời vô gia cư lang thang như thế này. Còn cô ta, một người Mỹ trắng, quê hương của cô là đây, tổ tiên của cô đã đóng góp mồ hôi nước mắt để xây dựng đất nước này. Tại sao cô lại là người vô gia cư không cửa không nhà? Tôi ngồi xuống và rút tờ giấy 20 đô-la đưa cho cô. Cô ta không nói gì mà chỉ lặng lẽ gật đầu.
Bà Rosa María Carranza nhoài người về phía trước, giữ lưng cho một bé gái 3 tuổi trong lúc cô bé trèo lên một tảng đá trên những ngọn đồi rậm rạp phía đông bắc Oakland. Trong trang phục leo núi và đeo những chuỗi vòng hạt, bà Carranza, 67 tuổi, đi lại linh hoạt giữa những hàng cây và lũ trẻ trong một buổi sáng đầy nắng của Tháng Mười Hai. "Bám chắc vào cành cây đó con," bà nói bằng tiếng Tây Ban Nha. "Con làm được mà, tình yêu của bà!"
Theo cuộc điều tra của Nicholas Nehamas, Allison McCann, Steven Rich, Jazmine Ulloa và Hamed Aleaziz, đăng trên The New York Times ngày 9 tháng 4 năm 2026, chính quyền Trump đã gây sức ép rộng khắp lên hệ thống tòa di trú, sa thải hơn 100 thẩm phán, bổ nhiệm thêm nhiều người mới có khuynh hướng cứng rắn hơn, và dùng cả theo dõi nội bộ lẫn chỉ thị hành chánh để đẩy số lệnh trục xuất lên cao, trong khi tỷ lệ chấp thuận đơn tị nạn rơi xuống mức thấp chưa từng thấy.
Quyền công dân theo nơi sinh tại Hoa Kỳ hiện đang được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xem xét lại một lần nữa. Tổng thống Donald Trump đã đích thân tham dự phiên tranh luận miệng tại Tòa, điều mà nhiều người cho là không phù hợp. Quyền công dân theo nơi sinh có nghĩa là hầu hết các em bé sinh ra tại Hoa Kỳ được tự động trở thành công dân Hoa Kỳ. Luật này xuất phát từ Hiến pháp. Trường hợp ngoại lệ chính là con của các nhà ngoại giao nước ngoài.
Trung Quốc hiện nắm vị trí gần như áp đảo trong việc sản xuất hầu hết những bộ phận then chốt của lưới điện hiện đại, từ tấm pin mặt trời, cáp điện cao thế, máy biến thế cho đến các loại pin dùng để tích điện. Ngay trước khi chiến sự với Iran nổ ra, các công ty Trung Quốc đã đẩy mạnh bước chân ra ngoài nước, giúp nhiều quốc gia xây những hệ thống điện mới để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng lớn, nhất là trong thời đại trí tuệ nhân tạo đang ngốn điện khắp nơi.
Chính quyền Trump đã đạt thỏa thuận với Hiệp Hội Thư Viện Hoa Kỳ và một nghiệp đoàn công nhân văn hóa, chấm dứt nỗ lực kéo dài suốt một năm nhằm giải thể Viện Bảo Tàng Và Dịch Vụ Thư Viện, tức cơ quan liên bang phụ trách cấp ngân khoản cho thư viện, viện bảo tàng và nhiều định chế văn hóa trên toàn quốc. Thỏa thuận, do Bộ Tư pháp đạt được vào tuần trước, xác nhận rằng cơ quan này sẽ tiếp tục cấp trợ khoản và duy trì các chương trình đang có tại mọi tiểu bang và lãnh thổ của Hoa Kỳ. Chính quyền Trump cũng xác nhận đã phục hồi toàn bộ những khoản trợ cấp từng bị hủy bỏ trước đó, đúng theo một phán quyết pháp lý riêng ban hành từ năm ngoái, đồng thời thu hồi các quyết định cắt giảm nhân sự và cam kết sẽ không tiến thêm bước nào để thu nhỏ cơ quan này nữa.
Theo Sonja Anderson, phóng viên thường trực của Smithsonian Magazine, viết ngày 3 tháng 4 năm 2026, một hệ thống thang cuốn ngoài trời dài gần 3.000 foot vừa được đưa vào sử dụng tại huyện Vu Sơn, Trùng Khánh, mở ra một lối đi mới lên vùng cao vốn từ lâu rất khó qua lại. Công trình này mang tên “Nữ Thần”, gồm 21 thang cuốn riêng biệt, 8 thang máy, 4 lối đi chuyển động cùng nhiều cầu bộ hành nối tiếp nhau. Toàn bộ hành trình đưa người đi lên độ cao khoảng 800 foot, tương đương một tòa nhà chừng 80 tầng. Nếu đi trọn hệ thống, hành khách mất khoảng hơn 20 phút.
Jess Reia, giáo sư phụ khảo về khoa học dữ liệu tại Đại học Virginia, viết trên The Conversation ngày 27 tháng 3 năm 2026 rằng hàng ngàn thành phố và thị trấn tại Hoa Kỳ đã âm thầm lắp đặt hệ thống máy ảnh đọc bảng số xe, và nay khi được ghép với trí tuệ nhân tạo, mạng lưới này đang làm dấy lên nhiều lo ngại về quyền riêng tư, tự do dân sự và khả năng bị nhà chức trách dùng để theo dõi dân chúng trên quy mô lớn.
Theo Ellen Wexler, phụ tá biên tập mục nhân văn, viết trên Smithsonian Magazine ngày 10 tháng 4 năm 2026, bức tranh The Parsonage Garden at Nuenen in Spring của Vincent van Gogh, từng bị đánh cắp khỏi một viện bảo tàng Hòa Lan rồi được tìm lại trong một túi Ikea cùng chiếc gối dính máu, nay đã được phục chế và đưa ra trưng bày trở lại.
Một công trình nghiên cứu dài hạn mới công bố cho thấy việc lớn lên trong cộng đồng có pha chất fluoride vào nước máy không làm giảm chỉ số I.Q. cũng không làm suy yếu chức năng não về sau. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Hoa Kỳ theo dõi mức phơi nhiễm fluoride trong nước sinh hoạt từ thời thơ ấu rồi đối chiếu với khả năng nhận thức cho đến tuổi 80.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.