Hôm nay,  

Chữ Nghĩa và Căn Tính: Võ Phú, Những Ngày Thơ Ấu

07/03/202510:35:00(Xem: 2871)

chu nghĩa và căn tín
Tác phẩm mở ra như một dòng sông, đưa người đọc trôi về miền ký ức xa xăm, nơi quá khứ vừa là một câu chuyện kể, vừa là một phần của căn tính, một mảnh hồn không thể tách rời. Những Ngày Thơ Ấu của Võ Phú là cánh cửa mở ra thế giới tuổi thơ, tựa một bản giao hưởng của nỗi nhớ, nhưng cùng lúc chính là tiếng vọng của văn học Việt Nam hải ngoại, vốn từ lâu vẫn luôn phải đối diện với những câu hỏi không dễ trả lời:

 

Chúng ta viết gì?

Viết cho ai?

Và viết bằng ngôn ngữ nào?

 

Trong một không gian mà thế hệ trước mang theo tiếng mẹ đẻ như một hành trang tinh thần, nhưng thế hệ sau có thể đã xa rời nó, làm thế nào để văn chương giữ được sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa quê hương và nơi chốn lưu vong? Những Ngày Thơ Ấu xuất hiện trong bối cảnh ấy phải chăng là một câu trả lời đầy chân thành—một tác phẩm không những kể lại một thời thơ ấu đã qua mà còn giúp độc giả, dù thuộc thế hệ nào, tìm lại một phần của chính mình trong dòng chảy ký ức.

 

Võ Phú không viết về tuổi thơ với sự nuối tiếc hay luyến lưu đơn thuần. Phú viết như một chứng nhân, với tất cả sự tươi mới của những ngày tháng rong chơi, nhưng cũng đầy đủ nỗi khắc khoải của một người đã đi xa, nhìn lại quê hương bằng đôi mắt của ký ức. Ở đó có những con đường đất đỏ của miền ven biển, có những mái tranh đơn sơ treo lưới đánh cá, có giếng nước chung nơi cả xóm tụ họp mỗi sáng. Và trên hết, có những tâm hồn non trẻ, lớn lên trong sự chật vật của một xã hội biến động, nhưng vẫn giữ trong lòng niềm vui trong trẻo của những ngày thơ dại.

 

Điều đặc biệt trong Những Ngày Thơ Ấu là cách Võ Phú để những kỷ niệm tự chảy trôi mà không cần gò ép. Phú không cường điệu hóa, cũng không tô vẽ một hình ảnh quê hương lý tưởng. Thay vào đó, tác phẩm là một bức tranh chân thực về những điều giản dị nhất—một ngôi trường cũ với bàn ghế xiêu vẹo, những ngày hè rong chơi với bạn bè, một chuyến phiêu lưu trên biển cùng Phúc Ròm, hay chỉ đơn giản là bữa cơm đạm bạc nhưng đầy ắp yêu thương trong một gia đình nghèo. Chính sự chân thật đó làm cho Những Ngày Thơ Ấu không riêng là một câu chuyện cá nhân, mà là ký ức tập thể của nhiều thế hệ đã từng lớn lên trong những năm tháng khó khăn ấy.

 

Nhưng vượt lên trên những ký ức cá thể, tác phẩm này còn đặt ra một câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để những thế hệ sau có thể hiểu được những gì đã qua? Khi chúng ta đi xa hơn, khi những thế hệ mới được sinh ra trong một thế giới không còn những giếng nước chung, những phiên chợ quê, khi tiếng Việt dần trở thành một ngôn ngữ thứ hai, thậm chí là xa lạ đối với nhiều người trẻ trong cộng đồng hải ngoại—liệu văn chương có thể là sợi dây níu giữ họ lại với nguồn cội?

 

Bấy giờ, Những Ngày Thơ Ấu là một cuốn sách để đọc, nhưng còn là một cây cầu nối giữa các thế hệ. Đối với những người lớn lên ở quê nhà, nó là một hồi chuông nhắc nhở về những giá trị đã từng tồn tại. Đối với những người trẻ lớn lên ở hải ngoại, nó là một lời mời gọi để hiểu hơn về nơi cha mẹ họ đã từng sống, về những gian khó mà họ chưa từng trải qua và về những điều đã làm nên bản sắc của một dân tộc.

 

Văn học hải ngoại từ lâu đã mang trong mình một sứ mệnh khó khăn: không riêng gìn giữ ngôn ngữ, mà còn gìn giữ tinh thần, truyền tải những câu chuyện của quá khứ vào tương lai. Trong bối cảnh đó, mỗi tác phẩm được viết ra sẽ là một sự sáng tạo cá nhân, cùng lúc là một phần của dòng chảy lớn hơn—dòng chảy của ký ức, của bản sắc, của nỗ lực tìm kiếm chính mình trong những đổi thay không ngừng.

 

Khi khép lại những trang sách này, người đọc không rời khỏi một câu chuyện, để còn mang theo một nỗi niềm, một chút suy tư về nơi mình đã từng thuộc về, hoặc nơi mình đang cố gắng tìm lại. Và có lẽ, đó chính là điều tuyệt vời nhất mà văn chương nói chung và Những Ngày Thơ Ấu  nói riêng có thể làm được: kết nối chúng ta với quá khứ, với chính mình, và với nhau.

 

Chốn Bụi, ngày 07 tháng 03 năm 2025

Uyên Nguyên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mở đầu tuyển tập Đuổi Bắt Một Mùi Hương*, là bốn câu thơ: Bên trời ngồi viết, tóc rối như mây, quê nhà mờ mịt, chữ lạnh đôi tay. Tôi rất thích hình ảnh, bên trời ngồi viết, có lẽ bởi cái vô định của không gian, và vô cùng điểm xô đẩy nhau trên dòng thời gian, cái ẩn chủ thể của viết, của tóc rối, của lạnh đôi tay trong không khí bài thơ này...
Ở tuổi mười bảy, trong sân chùa Xá Lợi một buổi chiều Sài Gòn, nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Đuổi Bắt Một Mùi Hương bất chợt nắm tay một cô bé áo trắng. Đúng khoảnh khắc ấy, một mùi hương lạ thoảng qua trong gió. Cái nắm tay run rẩy và mùi hương mong manh đó đã bám theo nhân vật chính suốt nhiều thập niên
Tuyển Tập PHAN TẤN HẢI VĂN HỌC PRESS & VIỆT BÁO FOUNDATION đồng xuất bản, 2026 .... o .... Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…? – BS Đỗ Hồng Ngọc
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.