Hôm nay,  

Bài học từ Ukraine: Đồng minh hay thay đổi, vũ khí hạt nhân lại trường tồn.

14/03/202516:30:00(Xem: 2429)

Nếu Kyiv bị bỏ mặc phải đầu hàng, những người khác sẽ thấy là an ninh bắt nguồn từ quyền lực, không phải từ sự (hứa hẹn) đảm bảo.

CaptureNếu Nga giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh Ukraine, sự phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ lan rộng vì các quốc gia sẽ coi vũ khí chứ không phải các thỏa thuận là cách duy nhất để bảo vệ chủ quyền của họ. Hình: Youttube.

 

Ukraine đã từng có kho vũ khí hạt nhân lớn thứ ba trên thế giới. Ngày nay, trong cuộc chiến để sinh tồn của họ lại thiếu vắng sự bảo vệ của những đảm bảo trước đây, từng được dùng để thuyết phục họ giải trừ những vũ khí hạt nhân này.

Số phận của họ gửi đến thế giới một thông điệp lạnh lùng: Trong kỷ nguyên của những lời hứa tan vỡ và những liên minh thay đổi, an ninh không đến từ các hiệp ước và thỏa thuận, mà đến từ quyền lực. Và đối với nhiều quốc gia, quyền lực có nghĩa là vũ khí hạt nhân.

 

Khi Ukraine từ bỏ kho vũ khí nguyên tử và tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT Nuclear Nonproliferation Treaty) với tư cách là một quốc gia phi hạt nhân vào năm 1994, họ đã thi hành một phần của Bản ghi nhớ Budapest (Budapest Memorandum), gồm một số các đảm bảo an ninh bởi Nga, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh.

Những đảm bảo này nhằm bảo vệ chủ quyền của Kyiv, và biên giới của họ sẽ được tôn trọng.

 

Nhưng khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014 và tiến hành cuộc xâm lược toàn diện vào năm 2022, những cam kết đó đã chứng tỏ là vô nghĩa. Ukraine thấy mình đơn độc, sự sống còn phụ thuộc vào thiện chí của phương Tây và nằm trong tay một kẻ thù được trang bị bằng chính những vũ khí mà Kyiv đã giao nộp.

 

Những tác động này không dừng tại Ukraine mà lan rộng.

Trên toàn cầu, các chính phủ đang đánh giá lại ý nghĩa thực sự của các bảo đảm an ninh.

Thủ tướng Đức sắp nhậm chức Friedrich Merz đã ra tín hiệu về ý định tăng mạnh chi tiêu quốc phòng bằng cách thúc đẩy cải cách các quy tắc vay nợ của chính phủ. Ông cũng muốn đàm phán với Pháp và Anh mở rộng phạm vi bảo vệ hạt nhân của họ để bao phủ nhiều khu vực rộng lớn hơn ở Âu châu— một ý tưởng được Tổng thống Pháp Emmanuel Macron ủng hộ. Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk tuần trước cho biết đất nước của ông, nơi có chung đường biên giới với Nga, phải "hướng tới các cơ hội liên quan đến vũ khí hạt nhân".

 

Những thay đổi này không phải không có cơ sở.

Việc Ukraine bị loại khỏi các cuộc đàm phán an ninh quan trọng được tổ chức giữa Hoa Kỳ và Nga tại Ả Rập Xê Út vào tháng trước là sự xác nhận rõ ràng về một sự thật địa chính trị khắc nghiệt: những bên không có đòn bẩy sẽ không được quyết định số phận của chính mình.


Nếu bạn không ngồi tại bàn ăn, bạn đã nằm trong thực đơn.

 

Trong một thế giới mà lòng tin vào sự ủng hộ của Hoa Kỳ đang dần bị xói mòn, việc Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump rút lui khỏi sự ủng hộ Ukraine đã xác nhận điều mà nhiều người lo sợ: liên minh tùy thuộc điều kiện, nhưng vũ khí hạt nhân thì trường tồn.

 

Trong nhiều thập kỷ, sự đe dọa hạt nhân dựa trên học thuyết “ đảm bảo hủy diệt lẫn nhau”  (MAD Mutual Assured Destruction), một sự cân bằng đen tối nhưng hiệu quả đã ngăn các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân tấn công lẫn nhau. Chỉ với chín quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân — năm quốc gia được Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (Non-Proliferation Treaty NPT)  công nhận, cộng với Ấn Độ, Pakistan, Triều Tiên và Israel (với kho vũ khí được cho là của họ) — một sự cân bằng tinh tế đã được duy trì.

Nhưng khi ngày càng nhiều quốc gia cân nhắc đến việc sở hữu vũ khí hạt nhân, tình hình có nguy cơ trở nên bấp bênh hơn nhiều. NPT có hiệu lực từ năm 1970, được xây dựng trên tiền đề rằng các cường quốc hạt nhân trên thế giới sẽ dần giải trừ vũ khí trong khi ngăn chặn các quốc gia mới sở hữu những vũ khí này. Để đổi lấy việc từ bỏ vũ khí hạt nhân, các quốc gia không sở hữu vũ khí hạt nhân được cho là sẽ nhận được sự đảm bảo an ninh từ các cường quốc lớn hơn — Ukraine là một trường hợp điển hình.

 

Nếu kinh nghiệm của Kyiv cho các quốc gia nhỏ là giải trừ vũ khí chỉ dẫn đến sự dễ bị tổn thương, thì toàn bộ tiền đề của NPT sẽ sụp đổ. Các quốc gia trước đây từng dựa vào các liên minh hoặc thỏa thuận an ninh giờ đây có thể kết luận rằng, sự đảm bảo thực sự duy nhất của họ là khả năng chính họ sở hữu hạt nhân.

Viễn cảnh này không chỉ là lý thuyết. Hàn Quốc — từng hài lòng với việc dựa vào ô dù hạt nhân của Hoa Kỳ — đang bàn luận liệu họ có nên phát triển vũ khí hạt nhân của riêng mình để ứng phó với kho vũ khí ngày càng tăng của Triều Tiên hay không.

Nhật Bản, một quốc gia phi hạt nhân lâu đời, đang củng cố quân đội của mình theo đường hướng cho thấy sự thay đổi suy nghĩ về các điểm yếu chiến lược của mình.

Ở Trung Đông, việc Iran theo đuổi vũ khí hạt nhân từ lâu là một mối quan tâm và Ả Rập Saudi đã tuyên bố nếu Tehran có bom (nguyên tử), Riyadh sẽ làm theo.

 

Một thế giới có 10 hoặc 15 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân không chỉ đơn thuần là một thế giới có nhiều khả năng răn đe hơn. Nó còn kéo theo nhiều khả năng nhầm lẫn trong sự tính toán hoặc giao tiếp và khả năng gây thảm họa .

Học thuyết MAD giả định các tác nhân có lý trí cao, nhưng không có gì đảm bảo rằng mọi quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ hành động như mong đợi trong một cuộc khủng hoảng.

Tại những khu vực có nhiều bất ổn chính trị, hoặc theo chủ nghĩa cực đoan hoặc tranh chấp lãnh thổ, nguy cơ xảy ra xung đột hạt nhân vô tình hoặc cố ý, tăng lên gấp bội.

Thế cân bằng hạt nhân lưỡng cực trong Chiến tranh Lạnh với những hiểm nguy của nó, vẫn có một mức độ nào đó có thể  dự đoán được. Hoa Kỳ và Liên Xô hiểu rõ những rủi ro của một cuộc xung đột hạt nhân và đã thiết lập các đường dây liên lạc rõ ràng để tránh tình trạng vô tình leo thang. Ngay cả trong cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, khi thế giới đứng bên bờ vực chiến tranh hạt nhân, cả hai bên cuối cùng đều chọn cách kiềm chế.

 

Nhưng một thế giới mà các quốc gia nhỏ nhanh chóng có được vũ khí nguyên tử thì kém ổn định hơn nhiều. Nếu Ả Rập Saudi sở hữu vũ khí hạt nhân, họ sẽ không có nhiều thập kỷ kinh nghiệm kế hoạch chiến lược và học thuyết răn đe mà Hoa Kỳ và Nga đã phát triển trong nhiều năm. Nếu một quốc gia như Ba Lan hoặc Hàn Quốc tìm cách sở hữu những vũ khí như vậy để đối phó với các mối đe dọa họ nhận thức, thì nguy cơ các cuộc chạy đua vũ trang khu vực mất kiểm soát, sẽ tăng theo cấp số nhân.

 

Sự lan rộng của vũ khí hạt nhân đặt ra vấn đề khả năng chỉ huy và kiểm soát chúng.

Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc duy trì các hệ thống tinh vi để ngăn chặn các vụ sử dụng trái phép. Nhưng liệu một quốc gia mới được vũ trang, đặc biệt là một quốc gia bất ổn về chính trị, có thể đảm bảo được mức độ an ninh tương tự không? Nếu vũ khí hạt nhân bị đánh cắp, phóng nhầm hoặc được sử dụng trong khoảnh khắc tuyệt vọng, hậu quả có thể rất thảm khốc.

 

Hơn nữa, càng có nhiều bên sở hữu vũ khí hạt nhân, thì càng khó ngăn chặn khủng hoảng leo thang. Sự cạnh tranh hiện tại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã mang theo mối đe dọa xung đột quân sự, đặc biệt liên quan đến Đài Loan. Nếu Bắc Kinh và Washington đã nằm trong tình trạng bế tắc, một thế giới có nhiều bên có sức mạnh hạt nhân sẽ khiến việc giảm leo thang ngoại giao trở nên phức tạp hơn nhiều.

 

Kiến trúc không phổ biến vũ khí hạt nhân của thế giới đã mong manh trước cuộc xâm lược của Ukraine. Giờ đây, nó phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng hiện sinh.

 

Việc Kyiv từ bỏ vũ khí hạt nhân từng được ca ngợi là chiến thắng của ngoại giao hậu Chiến tranh Lạnh, nhưng giờ đây nó chính là một lời cảnh báo. Nếu Nga giành chiến thắng sau cuộc xâm lược Ukraine, các quốc gia nhỏ hơn có thể coi vũ khí hạt nhân là điều cần thiết để bảo vệ chủ quyền của họ, quan trọng hơn bất kỳ áp lực ngoại giao hoặc kinh tế nào nhằm ngăn chặn việc sở hữu vũ khí hạt nhân với nguy cơ phá vỡ trật tự không phổ biến vũ khí hạt nhân.

 

Các cánh cửa chống lụt đang nứt và một khi chúng vỡ, sẽ không còn đường lui.

Câu hỏi đặt ra bây giờ là liệu phương Tây và NATO có thể khôi phục niềm tin vào các đảm bảo an ninh trước khi thế giới rơi vào chu kỳ phổ biến vũ khí hạt nhân mới hay không?

Liệu cuộc chiến tranh Ukraine có đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên mà vũ khí nguyên tử là ngoại lệ chứ không phải là quy luật?

 

Nếu vậy, cuộc khủng hoảng lớn tiếp theo sẽ không tập trung vào việc ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, mà là sống sót sau nó.

 

Thomas O. Falk là một nhà báo và bình luận viên chính trị có trụ sở tại London.

 

Thục Quyên lược dịch

 

Nguồn: Bài “Lessons from Ukraine: Allies are fickle, nukes are forever“ của Thomas O. Falk đăng ngày 12.03. 2025 trên báo The Japan Times.

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
Ngày 24 tháng 2 năm 2022, Putin phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt”, thực chất là cuộc xâm lược toàn diện nhằm vào lãnh thổ Ukraine. Trái với nhiều dự đoán ban đầu, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky từ chối rời khỏi đất nước để xin tỵ nạn Hoa kỳ và kêu gọi toàn dân kháng chiến, đồng thời nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế...
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết với tỷ lệ 6-3 trong vụ kiện Trump rằng Đạo Luật Quyền Lực Kinh Tế Khẩn Cấp Quốc Tế (IEEPA) không cho phép tổng thống áp đặt thuế quan, vô hiệu hóa các mức thuế quan rộng khắp đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, đến Mexico và Canada, đã được chính quyền Trump ban hành nhằm chống lại nạn buôn bán fentanyl và giải quyết thâm hụt thương mại.
Khi những trang hồ sơ Epstein lần lượt phơi bày ra trước công chúng như một trận mưa giấy màu đen đầy chất độc hại, có hai người phụ nữ bước ra trong bóng tối của kẻ săn mồi. Họ hiện diện ở hai tư thế hoàn toàn khác nhau, nhưng có một điểm trùng lắp với cái tên đang là nỗi ám ảnh trong ngôi nhà quyền lực nhất ở Washington, DC. Cuộc đời của hai người phụ nữ này, trực tiếp và gián tiếp, đều liên quan đến Jeffrey Epstein, tội phạm tình dục đã bị kết án và được cho là đã tự tử trong lúc thụ án.
Trên mặt tiền trụ sở của Mussolini ở Rome, từng có một dãy chữ khổng lồ lặp đi lặp lại: “SI SI SI SI SI” – “vâng, vâng, vâng, vâng, vâng” in kín cả mấy tầng lầu. Hình ảnh ấy không phải khẩu hiệu phức tạp, cũng không phải bản cương lĩnh chính trị. Nó giống như bản tóm tắt cô đọng của một chế độ sống nhờ thói quen gật đầu: chủ nghĩa phát xít không chỉ đứng trên những mệnh lệnh, mà đứng trên những tiếng “vâng” người ta nói ra – và cả những tiếng “không” bị nuốt lại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.