Hôm nay,  

Những trở ngại trong quan hệ Mỹ-Việt từ sau 1975

26/09/202510:24:00(Xem: 1878)
BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H01
Giáo sư Peter Zinoman, bên trái, và Giáo sư Tường Vũ (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt vào ngày 30/4/1975, ghi dấu sự thất bại của Hoa Kỳ sau 20 năm can dự, qua 5 đời tổng thống.
 
Cuộc chiến đó đã làm hao tốn xương máu và tài nguyên của các bên tham gia, cùng biết bao giấy mực để ghi lại, phân tích những biến cố, những chính sách và chiến lược.
 
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội.
 
Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
 
Hội nghị "The Challenges of Peace: US-Vietnam Relations Since 1975" (Các thách thức của hòa bình: Quan hệ Mỹ-Việt từ 1975) do Center for Southeast Asian Studies (Trung tâm Đông Nam Á học, Đại học U.C. Berkeley) và US-VN Research Center (Trung tâm Nghiên cứu Mỹ-Việt, Đại học Oregon, Eugene) phối hợp tổ chức.
 
Có những đề tài kinh điển như quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ-Việt Nam từ 1986 đến 1988 của nghiên cứu sinh Zachary Tayler, Đại học Ohio.
 
Chính sách "Ngoại giao cây tre" được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh như là chủ trương của Việt Nam trong quan hệ với thế giới, đặc biệt là với các cường quốc Nga, Mỹ, Trung. Nhưng nay Tổng Bí thư Tô Lâm không dùng cụm từ đó, và Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng chỉ nhắc đến vài lần trong thời gian qua. Theo Tiến sĩ Nguyễn Khắc Giang, hiện đang nghiên cứu tại viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) và Trung tâm Nghiên cứu Mỹ-Việt, Đại học Oregon, đó có thể là tín hiệu sẽ có những thay đổi trong quan hệ Việt Nam với các cường quốc?
 
Nhìn lại quá khứ, những bài học rút ra từ quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa được đúc kết qua bài nói chuyện của ông Hoàng Đức Nhã, cựu Bí thư của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, và John Negroponte, cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ trong chính quyền của Tổng thống Richard Nixon.
 
Ông Nhã cho rằng lãnh đạo Mỹ đã đối xử với lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa theo kiểu "đại ca với đàn em" (big guy - small guy) chứ không phải là một đồng minh. Bài học kinh nghiệm cho Hoa Kỳ là nên biết lắng nghe đồng minh của mình, ông nói.
 
Đại sứ Negroponte nhận định cuộc chiến Việt Nam không phải là chiến tranh du kích mà là quy ước. Tết Mậu Thân du kích miền Nam đã bị Hà Nội thí mạng gần hết và Bắc Việt bắt đầu đem xe tăng vào chiến trường. Sai lầm của Mỹ là sau Mậu Thân, thay vì bắt đầu rút quân, Tướng Westmoreland lại yêu cầu Tổng thống Lyndon Johnson đưa thêm 200.000 lính Mỹ vào chiến trường. Hoa Kỳ đã có tầm nhìn sai khi cho rằng Trung Cộng có ý định nhuộm đỏ Đông Nam Á, mà thực ra Liên Xô khi đó và cho đến sau này mới là quốc gia yểm trợ Hà Nội bành trướng chủ thuyết cộng sản, theo ông.
 
Về kinh tế, yếu tố Trung Quốc có nhiều ảnh hưởng đến Việt Nam, từ gia nhập WTO đến ký kết các hiệp ước kinh tế song phương với các quốc gia, theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành từ Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược tại Hà Nội và hiện là giáo sư chính trị học tại Đại học Oregon. Đồ biểu ông đưa ra cho thấy Hoa Kỳ không phải là quốc gia có nhiều dự án FDI đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, mà đứng thứ 11, sau Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan, Hà Lan v.v… Theo diễn giả, tiền của người Việt từ nước ngoài gửi về không giúp cho phát triển kinh tế mà còn làm chậm lại, như trường hợp của Philippines có lượng kiều hối rất cao.
 
Về hợp tác quốc phòng, Tiến sĩ Khang Vũ từ Đại học Boston nhận định việc bán vũ khí cho Việt Nam thì Nga vẫn là nguồn cung cấp lớn nhất và thuận tiện hơn vì mua vũ khí của Mỹ có những ràng buộc đi kèm. Do đó, Mỹ và Việt Nam khó có thể trở thành một liên minh an ninh và Hà Nội không thể thoát Trung.
 
Bài nói chuyện về bia tưởng niệm John McCain bên bờ hồ Trúc Bạch ở Hà Nội có những điều ít người biết. Đó là nơi phi cơ chiến đấu của Thiếu tá John McCain, sau là thượng nghị sĩ và ứng viên tổng thống, bị bắn rơi trong một phi vụ oanh tạc miền Bắc năm 1967 và bị bắt làm tù binh. Theo Giáo sư Christina Schwenkel, Đại học U.C. Riverside, nguyên thủy đó là tấm bia ghi công dân quân đã bắn rơi máy bay và bắt sống được phi công McCain. Từ khi hai nước có quan hệ ngoại giao, nơi đây đã trở thành địa điểm thăm viếng của các dân cử Quốc hội, quan chức quốc phòng Mỹ và gần đây nhất, khi còn tại chức, Tổng thống Joe Biden và Phó Tổng thống Kamala Harris cũng đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm. Trong những năm qua, bia này đã được sửa chữa và tu bổ nhiều lần và tùy theo cảm nhận về chiến tranh của khách viếng, hành động đó có thể là để nhớ ơn dân quân đã bắn rơi máy bay Mỹ hay là để tưởng niệm một phi công, anh hùng của nước Mỹ.
 
Tiến sĩ Andrew Wells-Dang của Viện Hòa bình cho biết trong bài phát biểu của ông rằng Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh ở Thành phố Hồ Chí Minh có dự định được đổi tên thành Bảo tàng Hòa bình, nhưng tình hình lúc này phức tạp trên thế giới có liên quan đến Hoa Kỳ nên chưa thuận tiện. Là người trực tiếp làm việc với đối tác Việt Nam, ông nói rằng đã có những thêm bớt, sắp xếp lại nội dung trưng bày tại bảo tàng theo một dự án được sự hỗ trợ của cơ quan USAID, và điều đó cho thấy quan hệ hai nước dần có nhiều gắn bó hơn. Theo kế hoạch, bảo tàng với sự sắp xếp mới sẽ mở cửa vào giữa năm nay, nhưng vì chính sách mới của Hoa Kỳ đã dẹp bỏ USAID nên dự án phải dừng.
 
Nhiều đề tài liên quan đến di sản chiến tranh đã được các diễn giả trình bày, từ việc tìm kiếm và xác định hài cốt binh lính còn mất tích, cho đến số phận của Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, nơi chôn cất hàng vạn tử sĩ Việt Nam Cộng hòa.
 
BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H04

 Thành viên cộng tác với Trung tâm Nghiên cứu Mỹ-Việt, Đại học Oregon. Từ trái: Duyên Bùi,
Nguyễn Thiện Ý, Alex Thái Đình Võ, Tường Vũ và Thuỷ Nguyễn (Ảnh: Bùi Văn Phú) 

 

Tiến sĩ Alex-Thái Đình Võ từ Đại học Công nghệ Texas (TTU) đã nói về số phận của tử sĩ, mà cho đến nay chỉ có lính Mỹ hay bộ đội cộng sản được quan tâm, còn lính Việt Nam Cộng hòa bị bỏ ra ngoài. Trong mong muốn đem lại sự hòa giải, ông đã làm việc nhiều năm để đưa vấn đề Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa và số phận lính Việt Nam Cộng hòa còn mất tích vào trong các cuộc thảo luận liên quan đến quan hệ Việt-Mỹ. Đến nay vấn đề này đã được Hoa Kỳ quan tâm, nhưng phía Việt Nam vẫn chưa đồng ý.
 
Theo nghiên cứu sinh Hà Tiên-Dung từ Đại học Stanford, đó là một quyết định chính trị của Hà Nội, khi từ chối việc Hoa Kỳ đưa người lính Việt Nam Cộng vào nghị trình thương thảo, qua bài nói chuyện của cô về công tác tìm kiếm, xác định những liệt sĩ miền Bắc.
Hòa giải dân tộc cũng được nhiều người gốc Việt tham dự hội thảo nhắc đến, từ diễn giả cho đến khách tham dự. Câu hỏi là làm sao để có hòa giải?
 
Cựu phóng viên chiến trường và thuyền nhân vượt biển Vũ Thanh Thủy nói rằng Hà Nội chỉ cần thừa nhận lịch sử của học tập cải tạo, lịch sử của thuyền nhân vượt biên, vượt biển.
 
Tiến sĩ Phạm Thị Hồng Hà từ Viện Sử học Hà Nội nói về các chính sách hòa giải của nhà nước đối với Việt kiều từ sau chiến tranh cho đến cuối thập niên 1990. Sinh viên ban tiến sĩ sử tại Đại học Berkeley, Vincent Trần, đã có bài tham luận về những nỗ lực muốn hòa giải từ phía người Việt hải ngoại, điển hình là tổ chức Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, tức nhóm Thông Luận, của ông Nguyễn Gia Kiểng.
 
Tiến sĩ Alex-Thái đưa đề nghị cần "hóa giải" trước khi có "hòa giải". Tôi có nêu câu hỏi, nếu Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu đưa 3 đề nghị cụ thể để đem lại hòa giải thì theo ba diễn giả của hội thảo chủ đề "Các thách thức tiến tới hòa giải" (Challenges to Reconciliation) là những đề nghị gì. Nhưng không ai có câu trả lời.
 
Trong phần nói chuyện của ông Hoàng Đức Nhã, khi hỏi ông nghĩ gì về những tuyên bố của Tổng Bí thư Tô Lâm về một "kỷ nguyên mới" cho đất nước, ông Nhã trả lời rằng ông muốn thấy lãnh đạo Hà Nội "walk the talk", tức là lời nói phải đi đôi với việc làm, còn chỉ nói suông thì dễ lắm. Ông gợi ý cho trùng tu Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa và trả lại tài sản đã tịch thu của dân, của người đã bỏ nước ra đi.
 
BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H02_ElizabethPhu
Bà Elizabethe Phù, nguyên Cố vấn An ninh Quốc gia đặc trách Đông Á-Đông Nam Á-châu Đại Dương cho hai tổng thống Mỹ (Ảnh: Bùi Văn Phú)


Dù nhiều thập niên đã qua đi, khi nhắc lại quá khứ đau buồn, nhiều diễn giả đã xúc động, trong đó có diễn giả danh dự của hội nghị là bà Elizabeth Phù, một phụ nữ đã từng làm cố vấn phụ trách vùng Đông Á, Đông Nam Á và châu Đại Dương trong Hội đồng An ninh Quốc gia của Tổng thống George W. Bush (con) và Tổng thống Barack Obama.
 
Bà đã khóc khi kể lại chuyện cùng cha mẹ vượt biên thất bại và bị bắt đưa vào trại cải tạo. Chuyến đi thứ nhì vào năm 1979, gia đình bà cùng 250 người khác ra đến hải phận quốc tế thì tàu bị hỏng máy. Gặp một tàu đánh cá, họ đòi 10 chiếc nhẫn vàng thì mới kéo tàu hư vào bờ. Cha của bà đã gom đủ 10 chiếc nhẫn, bơi qua tàu kia đưa cho họ và sau đó con tàu vượt biển được kéo vào bờ, rồi vào trại Pulau Bidong. Khi đó bà mới 4 tuổi.
 
Bà tốt nghiệp Đại học U.C. Berkeley với bằng cử nhân chính trị học và thạc sĩ quan hệ quốc tế từ U.C. San Diego. Bà chọn ngành học này vì muốn chu du thế giới. Công việc trong chính phủ của bà là tại Bộ Quốc phòng và nhờ khả năng và tính chuyên cần, bà đã trở thành cố vấn cho hai tổng thống Mỹ và có cơ hội đi đến nhiều quốc gia như từng mơ ước.
 
Bà nói làm chính sách là đặt quyền lợi nước Mỹ lên trên hết. Khi Tổng thống Barack Obama đón tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Bạch Ốc, bà có mặt tại đó, trong khi cha của bà tham gia biểu tình ở California để phản đối chuyến viếng thăm của lãnh đạo Hà Nội. Bà hiểu người cha và cộng đồng người Việt có những quan tâm về quê hương, khi có thể bà tìm cách đưa vào chính sách.
 
Đinh Phương Thảo hiện là sinh viên ban tiến sĩ tại Đại học Michigan, là một nhà hoạt động cho nhân quyền và từng bị quấy nhiễu ở Việt Nam. Cô đã rơi nước mắt khi nhớ về những bạn cùng chí hướng đang còn bị giam tù. Theo cô, từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện thì những nhà ngoại giao Mỹ và từ các đại sứ quán khác cũng đã ít quan tâm hơn đến những anh chị em ở tù vì lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ.
 
Hoàng Thị Minh Hồng là nhà hoạt động môi trường bị nhà nước cáo buộc trốn thuế, bị kết án tù và phạt tiền. Nhờ can thiệp của Hoa Kỳ, các trường đại học và tổ chức quốc tế, năm ngoái bà đã được qua Mỹ tị nạn. Bà Hồng cho biết các tổ chức xã hội dân sự và NGO hiện nay hoặc do nhà nước kiểm soát hoặc phải giải thể.
 
Ngoài những bài nói chuyện về quan hệ hai nước, về hòa giải, hội thảo còn có những nghiên cứu về cách nhìn của giới trẻ về cuộc chiến Việt Nam, qua những dữ liệu từ những thảo luận trên mạng xã hội đã được Tiến sĩ Thủy Nguyễn của Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ, Đại học Oregon thu thập và phân tích.

BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H03
 Thảo luận chủ đề “Những thách thức cho việc hoà giải” với Giáo sư Nguyễn Thị Liên Hằng, trên bục điều hợp, Phạm Thị Hồng Hà, Vincent Trần và Alex Thái Đình Võ (Ảnh: Bùi Văn Phú)
 
Hay một cuộc thăm dò ý kiến với sự tham gia của 51 sinh viên từ 4 đại học ở Việt Nam về suy nghĩ của các bạn liên quan đến dân chủ, hoạt động sinh viên, thực hiện bởi Hoàng Cẩm Thanh, đang giảng dạy tại Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và Nguyễn Thúc Cường, sinh viên ban tiến sĩ Đại học McGill. Kết quả của thăm dò cho thấy quan điểm của đa số sinh viên rất giống với nhà nước, khiến có ý kiến nói rằng không thể tin được các thăm dò thực hiện trong nước Việt Nam vì ít ai dám nói thật.
 
Trong lãnh vực văn học là bài thuyết trình của Vinh Phú Phạm, phó giáo sư trường Bard HSEC, về văn chương của người Việt hải ngoại. Theo ông, nhiều tác giả nay không viết về quá khứ chiến tranh, như Ocean Vương với On Earth We're Briefly Gorgeous và Thao Thai với Banyan Moon mà ông trích dẫn và phân tích. Ông chỉ đề cập đến các tác phẩm bằng tiếng Anh, mà thực ra văn học hải ngoại còn một mảng nữa, ít được giới học thuật nghiên cứu, đó là những tác phẩm tiếng Việt, theo nhận định của Tiến sĩ Alex-Thái Đình Võ.
 
Đó cũng là điều còn thiếu trong ngành Việt học, mà theo Giáo sư Peter Zinoman trong phần đúc kết sau hai ngày hội thảo, với đường hướng coi Việt Nam là trung tâm, theo ông mảng về Việt Nam Cộng hòa, về những nhà hoạt động và về cộng đồng người Việt ở Mỹ còn nhiều chủ đề cần nghiên cứu.
 
Qua hội thảo, 15 bài thuyết trình có thể triển khai thành những bài nghiên cứu học thuật để xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành.
 
Kết thúc chương trình, các thành viên của US-VN Research Center tại Đại học Oregon, dưới sự điều hành của Giáo sư Tường Vũ, đã trình bày về các hoạt động, dự án xuất bản, quan hệ và sinh hoạt với cộng đồng người Việt, khuyến khích sinh viên nghiên cứu về Việt Nam để giới học thuật biết đến và hiểu hơn về cộng đồng người Việt ở Mỹ và về một nước Việt Nam Cộng hòa nay không còn nhưng đã từng hiện hữu trong 20 năm.
 
Trong 30 năm qua, từ ngày Giáo sư Peter Zinoman dạy sử tại Đại học U.C. Berkeley, ông đã đào tạo được một số tiến sĩ sử chuyên về Việt Nam, trong đó có nhiều người gốc Việt: Tường Vũ, Nữ-Anh Trần, Martina Nguyễn, Jenny Phạm, Uyên Nguyễn, Alex Holcombe, Jason Picard và họ đang giảng dạy tại các đại học ở Hoa Kỳ và Việt Nam.

Bùi Văn Phú

  • Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng, nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California.
 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.