Hôm nay,  

Tưởng Nhớ ‘Ông Xếp Lớn’ Người Úc Và Những Nẻo Đường Việt Nam

07/01/202608:24:00(Xem: 1287)
greg dodd
Greg Dodds (đứng thứ tư từ phải hàng dưới) chụp cùng nhân viên Phòng Thương Vụ Úc Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 1990s

Cách đây vài năm, tin ông Gred Dodds qua đời ở tuổi 71 tại Perth (Úc Đại Lợi) được truyền đi nhanh chóng trong giới ngoại giao, thương mại Úc. Nhóm cựu nhân viên Austrade (Phòng Thương Vụ Úc) người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email thông báo cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.

 

Trên trang web của Austrade có nhắc lại về tiểu sử của Greg Dodds. Ông là nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến hoạt động phát triển thương mại của Úc tại Châu Á, đặc biệt là vùng Đông Bắc Á với các thị trường xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan. Ông bắt đầu làm việc tại Austrade từ năm 1985 khi được bổ nhiệm làm Tham tán Thương mại Cao cấp tại Tokyo, phụ trách thị trường Nhật. Dưới thời ông, quan hệ thương mại Nhật- Úc phát triển mạnh mẽ. Đến giữa thập niên 1990s, ông trở thành Tổng Giám đốc Điều hành Austrade khu vực Đông Bắc Á, văn phòng cũng đặt tại Tokyo. Trong suốt nhiều năm làm việc tại Austrade, Greg được thủ tướng, doanh nhân, đồng nghiệp Úc đánh giá cao, kính trọng vì tầm nhìn và khả năng lãnh đạo xuất sắc. Ông là người góp công nâng tầm quan trọng của Austrade trong việc hỗ trợ phát triển xuất khẩu của Úc, đặc biệt ở Châu Á. Ông truyền cảm hứng cho những người làm việc chung với mình; giúp nhiều nhân viên phát huy hết tiềm năng cá nhân; khuyến khích mọi người suy nghĩ rộng hơn, sáng tạo hơn trong công tác xúc tiến thương mại. Ông về hưu khoảng giữa những năm 2000s.

 

Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á cùng với Singapore, Mã Lai, Thái Lan…, là một sự phân chia hợp lý thường thấy về phương diện địa lý, kinh tế. Tuy nhiên, khi lên nắm vai trò lãnh đạo Austrade vùng Đông Bắc Á, Greg quyết định chuyển Việt Nam vào khu vực của mình. Lập luận của ông là Việt Nam có nền văn hóa giống với Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn. Dân tộc Việt Nam sử dụng đũa, chịu ảnh hưởng văn hóa Khổng Mạnh, có chữ Nôm cùng nguồn gốc với chữ Hán… Do có uy tín và tầm ảnh hưởng lớn, đề nghị của ông dễ dàng được chấp nhận. Về mặt thương mại, từ thời ông trở đi, người Việt Nam bắt đầu thấy thịt bò Úc, bò giống Úc, rượu Vang Úc xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường. Học sinh Việt Nam bắt đầu chọn Úc để đi du học nhiều hơn. Còn trong nội bộ Austrade, do Việt Nam thuộc khu vực thị trường quan trọng nhất, cho nên nhân viên được hưởng nhiều ưu đãi hơn.

 

Đối với Austrade Việt Nam, ngoài vai trò là một ông “xếp lớn của vùng”, Greg còn có nhiều tình thân hơn. Ông từng phục vụ trong quân đội Úc 10 năm trong chiến tranh Việt Nam tại một đơn vị tình báo chiến trường. Vào năm 2019, ông hoàn tất và cho xuất bản cuốn hồi ký Ships in the Night, có nhắc đến giai đoạn này. Có lẽ đó là lý do chính khiến ông có cảm tình đặc biệt với Việt Nam. Đưa Việt Nam vào vùng Đông Bắc Á, Greg có cơ hội trở lại Việt Nam để làm việc, có dịp thăm lại khu vực chiến trường xưa ở Long Tân thuộc Bà Rịa Vũng Tàu, nơi quân đội Úc đóng quân trong thời chiến. Nghe nói ở Nhật, nhân viên Austrade cả Úc lẫn Nhật đều sợ ông như “sợ cọp”! Nhưng đến Việt Nam, ông xuề xòa, dễ dãi, thường hay nói chuyện với nhân viên người Việt.

 

Greg yêu văn hóa Việt Nam. Trong một lần tổ chức “team building” cho nhân viên Autrade Đông Bắc Á ở Nha Trang vào khoảng năm 2004, nhân viên Việt Nam với tư cách chủ nhà có thực hiện một hoạt cảnh Dân Ca Ba Miền trong tiệc khai mạc. Khi hát bài dân ca Miền Bắc Qua Cầu Gió Bay, nhân viên các quốc gia khác cử đại diện lên “cởi áo, cởi nhẫn, cởi nón cho nhau” để hiểu người Việt yêu nhau chia sẻ như thế nào. Dân ca Miền Trung là bài Lý Chiều Chiều để thấy giọng buồn xứ Huế. Dân Ca Miền Nam là bài Đèn Cao Châu Đốc, Gió Độc Gò Công; tất cả người tham dự được tập để cùng hát chung câu “Hò lơ, hó lơ, lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ…” Sau màn trình diễn này, Greg và nhân viên từ các quốc gia khác khen ngợi team Việt Nam giàu tinh thần văn hóa.

 

 Austrade Việt Nam có văn phòng ở Hà Nội và Sài Gòn, nằm trong tòa đại sứ và tổng lãnh sự Úc. Trong những lần sang Việt Nam, Greg thường dành nhiều thời gian trong Sài Gòn hơn. Tôi là nhân viên của Autrade Sài Gòn từ năm 2001 đến 2006, cho nên có dịp gặp “xếp lớn” ở văn phòng. Tôi có một bộ bản đồ đường bộ quân sự bốn vùng chiến thuật rất chi tiết. Biết ông là cựu quân nhân Úc tham chiến ở Việt Nam, có lần tôi đem bản đồ vào cho ông xem. Ông rất thích, nhờ photo một bộ để giữ làm kỷ niệm. Cũng từ đó, ông biết tôi thích đi du lịch bằng đường bộ, đã đi qua rất nhiều tỉnh thành của Việt Nam, thích khám phá những khu vực xa xôi hẻo lánh. Ông nói để khi có dịp đi công tác ở Miền Nam, ông sẽ nhờ cùng tháp tùng bằng xe hơi thay vì đi máy bay như hầu hết các xếp Úc khác. Thế là hành trình trên những nẻo đường Việt Nam với ông “xếp lớn” cựu chiến binh Úc bắt đầu.

 

Khi chọn đường bộ để đi làm việc xúc tiến thương mại, Greg đề nghị nếu được thì chọn những tuyến đường đi qua những khu vực từng là chiến trường xưa. Đa số những đoạn đường này còn hoang sơ, chưa phát triển vào đầu thập niên 2000s. Có lần trong một chuyến đi công tác Miền Trung, các điểm đến làm việc là Đà Lạt, Ban Mê Thuộc, Đà Nẵng. Chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn đi Đà Lạt qua quốc lộ 20; sau đó dùng quốc lộ 27 để đi Ban Mê Thuộc; rồi dùng quốc lộ 14 đi qua Pleiku, Kontum; theo quốc lộ 24 đổ từ cao nguyên xuống vùng đồng bằng Ba Tơ thuộc Quảng Ngãi; rồi theo quốc lộ 1 đến Đà Nẵng. Đó là một chuyến đi đáng nhớ, qua những đoạn đường hoang vắng tuyệt đẹp mà chính tôi cũng chưa từng đi qua. Quốc lộ 27 vào thời đó còn rất xấu, chưa được sửa chữa từ sau chiến tranh, nên rất ít xe cộ qua lại. Xe của Phòng Thương Vụ Úc là chiếc Toyota Land Cruiser mới toanh, biển số ngoại giao đỏ. Với chiếc SUV chuyên vượt địa hình này, hai thầy trò cùng bác tài rong ruổi qua những cánh rừng thông hoang sơ, có những đoạn qua những con suối chảy, thác đổ từ trên sườn núi dọc bên đường. Trên 200 km đường đi hầu như chỉ có một mình xe chúng tôi vượt qua những đoạn đường hiểm trở. Có lúc cảnh đẹp quá, Greg nói tài xế dừng lại để hút thuốc lá, ngắm cảnh. Còn khó đi hơn là quốc lộ 24, đoạn đổ đèo Măng Đen từ Kon Tum xuống Ba Tơ Quảng Ngãi. Thời đó đường đèo xấu, hẹp, chỉ đi được mỗi bên một xe, mà xe này đi thì xe bên kia phải ngừng lại để tránh. Có những cây cầu bắc qua vực với thành cầu mục, rỉ sét, xe qua phải thật chậm. Bác tài dày dạn kinh nghiệm mà cũng nói rằng chưa bao giờ đi đoạn quốc lộ nào hiểm trở đến thế! Nhưng cũng tuyệt đẹp, với cảnh núi rừng nguyên sinh Trường Sơn trùng điệp thật ngoạn mục. Nghe nói hiện nay Măng Đen đã được xây dựng, phát triển thành một khu du lịch mới của Kontum. Greg còn sống chắc thế nào cũng trở lại thăm nơi này.

 

Một chuyến đi nữa cũng đáng nhớ là chuyến công tác qua nhiều tỉnh thành thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau… Từ Tiền Giang đến Vĩnh Long qua cây cầu Mỹ Thuận do Úc xây dựng theo dự án viện trợ phát triển cho Việt Nam. Qua những cánh đồng lúa cò bay thẳng cánh, những sông rạch chằng chịt của Miền Nam. Dọc đường, Greg dừng lại các quán nhỏ bên đường để uống cà phê đen, hút thuốc lá, hỏi thăm về cuộc sống của người nông dân. Sau khi làm việc ở tỉnh Cà Mau, Greg đề nghị mướn một chiếc ca nô để ra tận vùng Đất Mũi, thời đó đi bằng đường bộ còn rất khó. Buổi tối đi ăn ở một quán địa phương có đờn ca tài tử, nghe bài vọng cổ xa xưa Tình Anh Bán Chiếu “ Hò ơi… Chiếc chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm…” nhớ giọng ca Út Trà Ôn. Greg nói như vậy là ông đã đi được từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau của Việt Nam rồi, một điều mà không phải người Việt Nam cũng thực hiện được. Chuyến đi thật thanh bình như hương đồng cỏ nội Miền Nam.

 

Trong những chuyến đi như vậy, hai thầy trò nói với nhau rất nhiều chuyện, từ văn hóa, lịch sử, chiến tranh Việt Nam, đến những mối quan hệ quốc tế với Việt Nam thời bấy giờ. Kiến thức về văn hóa, lịch sử của Greg về các quốc gia Châu Á rất rộng. Ông cũng thích tìm hiểu về nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Khi nói về thân phận của Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh, tôi tặng cho ông cuốn truyện ngắn Con Cá Mắc Cạn của Doãn Quốc Sỹ, có cả hai thứ tiếng Anh-Việt. Ông hiểu Việt Nam trong cuộc chiến cũng giống như con cá trong truyện, không thể tự mình định đoạt số phận. Khi đi qua khu rừng tràm ở Cà Mau, tôi nói với ông về cuốn tiểu thuyết Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam. Khi dừng chân ở Pleiku, tôi hát cho ông nghe ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ của Phạm Duy. Đi ngang qua Tuy Hòa là giai điệu man mác buồn của bài Chiều Qua Tuy Hòa của Nguyễn Đức Quang. Có lần hoàng hôn qua một ngôi làng nghèo dọc theo quốc lộ 1 ở Quảng Ngãi, tôi hát một vài câu trong ca khúc Về Miền Trung:

“…Ôi quê hương xứ dân gầy
Ôi bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ
Về miền Trung! Người về đây sống cùng người dân
Lửa chinh chiến cháy bừng thôn làng điêu tàn…”

Lần đó, ông nói không ngờ một kỹ sư cơ khí như tôi mà cũng lãng mạn đến thế!

 

Đến năm 2006, tôi đi Mỹ. Trước khi đi, chưa rõ mình sang Mỹ sẽ làm gì, tôi viết email xin ông một lá thư giới thiệu, để phòng trường hợp xin vào làm cho Phòng Thương Vụ Mỹ. Lúc đó ông đã nghỉ hưu, nhưng vẫn viết một lá thư giới thiệu thật trân trọng, với tư cách là cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á kể về một nhân viên xúc tiến thương mại cấp thấp, không thuộc hàng trực tiếp làm việc với ông. Lá thư đó tôi không sử dụng đến, rồi bận bịu với nhiều loại công việc mưu sinh ở Mỹ. Vào năm 2017, tôi trở lại Úc, có ghé văn phòng Austrade ở Sydney, hỏi thăm tin tức về Greg, biết là ông vẫn sống đời hưu trí ở Perth. Tôi có email hỏi thăm. Chỉ sau một ngày, ông trả lời, và còn nói rằng vẫn còn giữ cuốn sách về “fish elf” mà tôi tặng. Ba năm sau thì nhận được tin ông qua đời.

 

Nhìn lại hơn 40 năm đi làm ở hai xứ Mỹ-Việt, tôi nghiệm lại thời làm việc ở Austrade là một trong những giai đoạn thích thú nhất. Một phần vì công việc thích hợp, làm có kết quả tốt. Một phần là vì được dịp kết thân với ông “xếp lớn” người Úc dễ thương, yêu mến đất nước và con người Việt Nam. Nhớ về Greg Dodds, tôi nhớ đến ca khúc Những Nẻo Đường Việt Nam (Thanh Bình):

Những nẻo đường Việt Nam.
Suốt từ Cà Mau thẳng tới Nam Quan.
Ôi! Những nẻo đường Việt Nam…
Những nẻo đường về đâu?
Ánh chiều chìm rơi bờ lúa nương dâu.
Ôi! Những nẻo đường về đâu?...

 

Doãn Hưng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.