Người Mỹ đã nhiều lần cảm thấy trật tự sắp đổ vỡ, rồi vẫn tìm được đường điều chỉnh. Những lần hồi phục trước đây đều đòi hỏi công dân sẵn sàng đối mặt thất bại, chống lại lạm dụng quyền lực và không ngừng làm mới các nguyên lý lập quốc – trong đó có nguyên lý chính quyền của dân vận hành qua Quốc hội, chứ không phải qua tổng thống một mình. Ảnh do AI minh họa.
LTS: Việt Báo giới thiệu và lược dịch bài viết từ tuần báo The Economist, nhìn lại những giai đoạn khủng hoảng trong lịch sử Hoa Kỳ để soi chiếu nhiệm kỳ Tổng thống Donald Trump trong một bối cảnh rộng và tỉnh táo hơn.
Bài báo không nhằm bênh vực hay kết án cá nhân, mà nhắc rằng mỗi lần nước Mỹ vượt qua thử thách đều nhờ vào việc công dân đứng lên chống lạm dụng quyền lực và làm mới các nguyên tắc lập quốc.
***
Khi Hoa Kỳ tiến gần mốc 250 năm lập quốc, đời sống chính trị của đất nước này đang ở trong tình trạng rối ren, chia rẽ và đầy biến động. Vụ một nhân viên Di trú và Hải quan (ICE) bắn chết bà Renee Good tại Minneapolis hôm 7 tháng Giêng chỉ là thí dụ mới nhất: người dân xem cùng một đoạn phim từ ‘camera’ gắn trên người cảnh sát nhưng rút ra những kết luận trái ngược. Điều mới mẻ là chính quyền liên bang vội vã gán cho nạn nhân cái nhãn “khủng bố” và tìm cách dập tắt cuộc điều tra, như thể Tổng thống Donald Trump muốn đẩy xã hội vào bất ổn để rồi có cớ siết chặt bàn tay trấn áp.
Lịch sử cho thấy tiến bộ ở Mỹ hiếm khi đi theo đường thẳng. Xã hội này lớn lên qua những chu kỳ thất bại và chấn chỉnh, tiến rồi lùi, rồi lại tiến, và trong mỗi bước ngoặt đều có những người đứng dậy khi khủng hoảng gõ cửa. Chính từ những thời khắc ấy mà nền cộng hòa được định hình lại, thay vì tan rã.
Tờ Economist trong bảy số báo liên tiếp cho tới mùng 4 tháng Bảy sẽ đăng một loạt bài lần lượt trở lại những thời kỳ mà nền cộng hòa bị thử thách nặng nề, qua chính các tư liệu và tường thuật đương thời. Mục đích theo ban biên tập là để đặt tình thế nước Mỹ hiện nay vào một khung cảnh rộng hơn. Nhiệm kỳ của ông Trump là một phép thử gay gắt, nhưng không hoàn toàn xa lạ với lịch sử Hoa Kỳ.
Ông không phải là vị tổng thống đầu tiên xem những người bất đồng chính kiến như kẻ thù quốc gia. Năm 1798, dưới thời John Adams, các đạo luật về ngoại kiều và kiểm duyệt (Alien and Sedition Acts) biến những bài viết “sai sự thật, phỉ báng, độc hại” nhắm vào chính quyền thành tội hình sự. Hơn một thế kỷ sau, thời Thế chiến thứ nhất và giai đoạn kế tiếp, chính quyền Woodrow Wilson bỏ tù và trục xuất những người bất đồng, kiểm soát báo chí, làm ngơ trước các vụ bạo lực nhắm vào những ai bị coi là “phi Mỹ”. Mỗi lần như vậy, đàn áp đều được biện minh là “hợp pháp và cần thiết” nhân danh an ninh, trật tự và lòng yêu nước – thứ ngôn từ nay lại hùng hồn vang lên.
Nước Mỹ cũng từng chứng kiến sự suy đồi các chuẩn tắc về cách sử dụng quyền lực và chấp nhận thất bại. Sau Nội chiến, Tổng thống Andrew Johnson chống lại các nỗ lực bảo đảm quyền dân sự cho nô lệ được giải phóng, làm suy yếu tiến trình Tái thiết và trong một thời gian dài khiến dân chủ miền Nam bị rỗng ruột. Vụ Watergate sau đó phơi bày việc cơ quan điều tra và tình báo bị lôi kéo phục vụ mục tiêu phe phái, đồng thời cho thấy sự sống còn của nền dân chủ tùy thuộc vào những công chức và ký giả không chịu cúi đầu. Trong cả hai trường hợp, những chuẩn mực tối thiểu về lương tri và pháp quyền sau cùng vẫn được cứu vãn, bởi có đủ số người Mỹ quyết tâm bảo vệ chúng.
Cảm giác nước Mỹ đứng bên bờ vực, chới với giữa một công luận phân cực, cũng không phải chuyện mới mẻ. Bản hiến pháp đầu tiên – Articles of Confederation – đã tỏ ra quá yếu để giữ chặt các tiểu bang trong một khung chung, đẩy nền cộng hòa vào nguy cơ tan rã; bản hiến pháp kế tiếp thì lẩn tránh vấn đề nô lệ bằng những thoả hiệp và lối nói vòng, dời cuộc đối diện thật sự sang cuộc Nội chiến đẫm máu. Đến thập niên 1930, nạn Đại khủng hoảng làm lộ ra một hệ thống chính trị lúng túng trước cảnh thất nghiệp hàng loạt. Gần đây hơn, cuộc bầu cử năm 2000 – rốt cục do Tối cao Pháp viện phân xử – cho thấy trật tự hiến định phụ thuộc đến mức nào vào thiện chí và sự tự chế, những phẩm chất rõ ràng nay đã suy yếu.
Dĩ nhiên, hiện tại không hoàn toàn trùng lặp với quá khứ. Lịch sử không lặp lại y nguyên. Nhưng khuynh hướng cho rằng “chưa bao giờ tệ như bây giờ” vừa tâng bốc thời đại hiện tại, vừa hạ thấp những thế hệ từng đối đầu với hiểm họa còn lớn hơn. Người Mỹ đã nhiều lần cảm thấy trật tự sắp đổ vỡ, rồi vẫn tìm được đường điều chỉnh. Quá khứ không bảo đảm tương lai, cũng không cho phép an tâm nằm chờ mọi chuyện tự động khá lên. Những lần hồi phục trước đây đều đòi hỏi công dân sẵn sàng đối mặt thất bại, chống lại lạm dụng quyền lực và không ngừng làm mới các nguyên lý lập quốc – trong đó có nguyên lý chính quyền của dân vận hành qua Quốc hội, chứ không phải qua tổng thống một mình.
Tuy vậy, lịch sử cũng nhắc rằng sự đổi hướng đôi khi chỉ diễn ra sau một cú sốc lớn: một cuộc nội chiến, một cơn đại suy thoái hay một mối đe dọa sinh tử từ một cường quốc đối thủ. Thách thức dành cho thế hệ người Mỹ hôm nay là phải một lần nữa chỉnh lại hướng đi của quốc gia mà không cần trả giá bằng một tai họa ở tầm vóc như thế.
Hoa Trang lược dịch
Gửi ý kiến của bạn


