Hôm nay,  

Nhân Quyền của Riêng Ai?

06/02/202600:00:00(Xem: 693)

“Điều-cần-thiết-duy-nhất-để-cái-ác-thắng-thế-là-người-tử-tế-khoanh-tay-đứng-nhìn 
Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.
 
Những chiếc ghe rời Việt Nam thời ấy trong một bối cảnh rất rõ ràng. Người Việt bỏ quê hương ra đi vì nhân phẩm bị chà đạp, bắt không cần án, “học tập cải tạo” vô hạn định, đánh tư sản, đuổi khỏi nhà, đàn áp tôn giáo, phân biệt con em “Mỹ ngụy”, mọi tiếng nói trái ý đều bị chụp mũ là “phản động”, bị kết tôi chống phá chính quyền. Hàng hàng lớp lớp người Việt bỏ xứ ra đi vì ở quê hương, con người không đứng trước luật mà đứng dưới gót chân nhà nước. Khi quyền lực không bị tòa án độc lập, báo chí tự do hay bất cứ cơ chế kiểm soát nào ghìm lại, thì “nhân quyền” không còn là khái niệm để tranh luận – nó đơn giản là điều vắng mặt trong đời sống thường nhật.
 
Ở đầu kia của hành trình, điều cứu họ không chỉ là lòng từ tâm của vài ông thuyền trưởng hay mấy bà sơ. Đằng sau những tấm lòng đó là một trật tự pháp luật và đạo lý được dựng lên sau Thế chiến thứ hai: Công ước Tị nạn1, phán quyết của tòa án, hệ thống luật Hoa Kỳ, và cả một truyền thống chính trị thế giới thừa nhận một điều rất đơn giản: người chạy trốn khỏi các chế độ đàn áp nhân quyền có quyền gõ cửa các quốc gia xin che chở. Nhân quyền trong quy chế dành cho người tị nạn không phải là món quà chính quyền “thương thì cho, ghét thì thôi”, mà là nghĩa vụ ràng buộc. Người Việt chúng ta may mắn vì thời đó, Hoa Kỳ vẫn còn biết giữ luật chơi, vẫn nhớ mình đã đặt bút ký vào đâu.

Lẽ ra, kinh nghiệm đó phải là cái gương treo giữa nhà cho cộng đồng người Việt tị nạn. Chúng ta có được hôm nay không phải nhờ “trời thương”, mà nhờ một thế giới trong đó quyền lực bị giới hạn bởi luật lệ và thiết chế, coi nhân quyền là chuẩn mực chung chứ không phải món hàng treo ra mặc cả trong phòng kín. Vậy mà trong lúc này, cái khung bảo vệ nhân quyền – mà nước Mỹ từng là một trong những cây cột chính – lại đang bị tháo gỡ ngay tại Washington. Người tháo ốc không ai xa lạ: một tổng thống nổi tiếng về chuyện phá luật nhanh hơn đọc luật.

Trong bài “Will Human Rights Survive the Donald Trump Era?” 2, Philippe Bolopion nhắc lại một điều tưởng ai cũng biết: nhân quyền không đến hiển nhiên và cũng không phải là thứ được bảo hiểm trọn đời. Sau Thế chiến II, người ta dựng lên mớ quyền căn bản trên tro tàn trại tập trung, trên những thành phố bị san bằng, nhằm tiến đến một thỏa thuận tối thiểu: quyền lực nhà nước phải bị ràng buộc bởi luật pháp, định chế và chút ít lương tri. Chính cái khung đó – công ước, tòa án, các định chế đa phương – đã giữ cho những chiếc ghe như Bolinao 52 không bị bỏ mặc giữa biển.

Ngày nay, dưới áp lực dồn dập từ chính quyền Trump, và vốn từ lâu bị Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa phá rối, trật tự dựa trên luật lệ đang tuột khỏi tay. Bolopion đặt câu hỏi thẳng thừng: nhân quyền có sống nổi nếu những quy tắc làm nên nó bị dỡ bỏ hay không? Câu trả lời, ông nói, không nằm ở chuyện ngồi tiếc nuối “thời xưa” mà ở khả năng dựng nên những liên minh mới giữa các xã hội còn coi trọng nhân quyền, đủ sức che chở chuẩn mực chung ngay cả khi một siêu cường quay mặt đi.
 
Nguy ở chỗ chuyện xuống cấp không bắt đầu với ông Trump. Hai mươi năm qua, làn sóng dân chủ lùi đều như nước rút. Tòa án độc lập, báo chí tự do, những cơ chế buộc người cầm quyền phải chịu trách nhiệm lần lượt bị làm cho tê liệt. Các nền dân chủ dĩ nhiên chẳng phải thiên đường – chẳng có thiên đường nào trên mặt đất – nhưng cho tới giờ, chưa có kiểu chế độ nào bảo vệ nhân quyền khá hơn nó. Sự trở lại của Trump ở Nhà Trắng chỉ làm cho mọi thứ diễn ra nhanh hơn, thô bạo hơn, và phần nào, “thành thật” hơn về cách chính quyền coi nhẹ luật.

Trong một thời gian ngắn, chính quyền Trump đã công khai chĩa mũi dùi vào các trụ cột của chế độ pháp quyền: thách thức tính độc lập của tư pháp, coi thường lệnh tòa, nhét bàn tay chính trị vào những cơ quan lẽ ra phải độc lập, và sử dụng sức mạnh nhà nước để hăm dọa mọi tiếng nói chỉ trích – từ ký giả, đại học, hãng luật cho tới giới nghệ sĩ, truyền thông. Với những ai từng sống dưới chế độ toàn trị, những tín hiệu đó không lạ: khi kẻ nắm chính quyền hết sợ luật pháp vì không phải chịu hậu quả tương xứng, không chỉ những cột trụ chống đỡ nền dân chủ gãy đổ, mà toàn bộ hệ thống nhân quyền sớm muộn cũng trôi theo. 

Vượt ra ngoài biên giới Hoa Kỳ, chính quyền Trump liên tiếp thử giới hạn luật quốc tế trong việc sử dụng võ lực, đồng thời phớt lờ những cam kết mà nước Mỹ đã từng đặt bút ký. Chỉ trong thời gian ngắn, Washington đã kịp làm một việc mà các đối thủ của Mỹ mơ ước từ lâu: cắt rời vai trò “lãnh đạo thế giới tự do” khỏi ngay chính danh nghĩa nhân quyền. Nhân quyền bị kéo xuống thành thứ công cụ trong các bản phúc trình, Hoa Kỳ rút khỏi các diễn đàn đa phương then chốt, các chương trình viện trợ cứu người bị cắt ngân sách, hủy bỏ; cạnh đó, những nhà độc tài được Trump chiếu cố nồng hậu, đồng minh dân chủ bị xem nhẹ, Tòa án Hình sự Quốc tế bị đem ra doạ nạt.
 
Bên trong nước Mỹ, chỗ phơi trần rõ nhất sự đổi hướng ấy là di trú. Một chính quyền có quyền đặt chính sách biên giới, chuyện đó không ai cãi. Nhưng không một chính quyền nào, nếu còn coi trọng nhân quyền, lại có quyền chối bỏ quyền xin tị nạn, hay coi con người như kiện hàng có thể trả lui bất cứ lúc nào. Dưới thời Trump, những lệnh cấm nhập cư theo quốc tịch, bắt người xin tị nạn phải chờ trong cảnh hiểm nguy, giam trẻ em trong điều kiện tệ hại, cắt chương trình nhận người tị nạn, hủy bỏ những chương trình tị nạn khẩn cấp… đã làm nhạt đi hình ảnh “đất hứa” mà thế hệ thuyền nhân Việt từng biết. Với người đã từng lênh đênh trên biển, đây không phải chuyện tranh luận trên giấy. Đây là lời cảnh cáo: con đường từng mở cho mình đang từ từ đóng lại trước mặt người đến sau. Và nếu vỗ tay cổ vũ, thì ngày xưa việc người Việt trốn chạy cộng sản còn ý nghĩa gì?
 
Thực tế ở Minnesota và nhiều nơi khác cho thấy nhân quyền không phải là món xa xôi treo trên tường Liên Hiệp Quốc. Đó là chuyện rất cụ thể: khi một chiến dịch truy quét di trú dẫn tới người chết trên đường phố; khi dân chúng, nhà thờ, nghiệp đoàn, sinh viên xuống đường đòi hỏi phải điều tra, phải trả lời; khi luật sư và báo chí bám theo từng vụ án để buộc cơ quan liên bang phải trả lời, phải trả tự do cho em bé 5 tuổi3 bị bắt giam. Tất cả những điều đó là nhân quyền trong hành động – không phải khẩu hiệu, mà là quyền được sống, được phản đối, được buộc chính quyền phải trả lời.

Một hệ thống bảo vệ nhân quyền không “sống” được nhờ may mắn. Nó chỉ đứng vững khi các chính quyền và xã hội dân sự cùng chung tay xây nên những cơ cấu đủ vững để không bị lật bởi mỗi một nhiệm kỳ tổng thống. Nguy hiểm nhất là khi công chúng nuốt trọn lời hứa dối trá của chủ nghĩa độc đoán: hy sinh một chút quyền của người khác để đổi lấy “an ninh” cho riêng mình. Lịch sử đã cho thấy, khi người ta im lặng trước việc quyền của kẻ khác bị tước đoạt, thì đến lượt mình, sẽ không còn ai lên tiếng thay nữa.

Nghịch lý đau lòng nằm ngay trong cộng đồng người Việt ở Mỹ: những người từng trốn công an, tránh trại cải tạo, sống nơm nớp vì lệnh bắt không giấy, giam giữ không bản án, nay lại lên giọng cổ vũ “biện pháp mạnh” với di dân, tị nạn khác, gọi họ là “xâm lăng”, “đe dọa an ninh”, “ăn bám”. Những người Việt này quên mất rằng chính mình ngày xưa ra đi trên những chiếc ghe không giấy tờ, không visa, không chiếu khán, không có quy chế gì ngoài thân phận gửi vào lòng tử tế của thế giới. Họ chỉ được gọi là “tị nạn hợp pháp” sau này, nhờ những công ước và chương trình tiếp nhận của những bộ luật được tranh đấu dai dẳng mà hôm nay chính họ đang quay lưng chống lại.
 
Từ năm 1975 đến 1997, riêng Hoa Kỳ đã nhận vào trên bốn trăm ngàn người Việt4 tị nạn từ biển và các trại ở Đông Nam Á. Cộng đồng tị nạn Việt tại Mỹ không chỉ là những người “được cứu”, mà là một phần của xã hội dân sự nơi mình định cư. Với ký ức sống về con đường tìm tự do và về sự đàn áp tại quê nhà, họ có lợi thế đạo lý để đứng ở tuyến đầu bảo vệ dân chủ và nhân quyền, thay vì làm khán giả im lặng hay ngoảnh mặt với người đến sau. Đối với người Việt, đó không phải là lý luận sách vở, mà là món nợ: bảo vệ những nguyên tắc đã từng cứu mình – tòa án độc lập, báo chí tự do, quyền xin tị nạn, trật tự quốc tế dựa trên luật lệ và lương tâm con người – để những chiếc ghe Bolinao đến sau còn hy vọng được cứu vớt.
 
Cuối cùng, Bolinao 52 không chỉ là một bi kịch giữa biển Đông. Đó là tấm gương soi lại thái độ của chúng ta hôm nay. Nếu chúng ta quên rằng 52 người sống sót ấy được cứu chính nhờ một trật tự tôn trọng nhân quyền mà quay lưng đứng về phía kẻ đang phá trật tự đó – thì những cái chết trên biển năm xưa hóa vô nghĩa.

Trân quý quyền của mình mà phủi tay trước quyền của người khác không phải là bảo vệ nhân quyền. Đó chỉ là giữ khư khư một thứ ‘nhân quyền của riêng mình’  – một thứ nhân quyền có dây rút: gặp “phe ta” thì nới, gặp người khác thì siết.

Đó là cách nhanh nhất để phản bội chính lý do người Việt chúng ta được gọi là ‘người tị nạn’.
 
Nina HB Lê
 
Chú thích & tham khảo:

(1) Hoa Kỳ gia nhập Nghị định thư 1967 về Quy chế Người Tị Nạn năm 1968 và về sau ban hành Refugee Act 1980, đặt nền pháp lý cho việc tiếp nhận và tái định cư hàng trăm ngàn người tị nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ. Quyết định đó không hề “được lòng” cử tri: một thăm dò CBS–New York Times lúc bấy giờ cho thấy 62% người Mỹ phản đối việc nhận thêm người tị nạn. Bất chấp điều đó, Tổng thống Jimmy Carter vẫn tuyên bố: “Chúng tôi sẵn sàng hành động với lòng trắc ẩn vốn từ lâu đã là đặc tính của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mỗi khi phải đối diện với những hoàn cảnh khủng hoảng nhân đạo như thế này.”

(2) Bài “Liệu Nhân Quyền Có Sống Nổi Qua Thời Donald Trump?” của Philippe Bolopion, đăng trên trang Human Rights Watch ngày 31-1-2026.

(3) Em bé 5 tuổi Liam Conejo Ramos và cha bị ICE bắt tại Minnesota, sau đó bị giam tại trại Dilley, Texas, rồi được tòa liên bang ra lệnh trả tự do, đã trở thành tâm điểm phản đối chính sách di trú của chính quyền Trump trong những tuần cuối tháng 1-2026.

(4) Số liệu về khoảng trên 400.000 người Việt tị nạn được Hoa Kỳ tiếp nhận từ 1975 đến cuối thập niên 1990 được rút ra từ các thống kê về “boat people” và chương trình tái định cư Đông Dương của Hoa Kỳ.
 
 

Ý kiến bạn đọc
07/02/202601:06:05
Khách
Bài viết rất trôi chay, cảm ơn tác giả đã nói lên tất cả những gì tôi đã nghĩ .
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
Ngày 24 tháng 2 năm 2022, Putin phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt”, thực chất là cuộc xâm lược toàn diện nhằm vào lãnh thổ Ukraine. Trái với nhiều dự đoán ban đầu, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky từ chối rời khỏi đất nước để xin tỵ nạn Hoa kỳ và kêu gọi toàn dân kháng chiến, đồng thời nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế...
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết với tỷ lệ 6-3 trong vụ kiện Trump rằng Đạo Luật Quyền Lực Kinh Tế Khẩn Cấp Quốc Tế (IEEPA) không cho phép tổng thống áp đặt thuế quan, vô hiệu hóa các mức thuế quan rộng khắp đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, đến Mexico và Canada, đã được chính quyền Trump ban hành nhằm chống lại nạn buôn bán fentanyl và giải quyết thâm hụt thương mại.
Khi những trang hồ sơ Epstein lần lượt phơi bày ra trước công chúng như một trận mưa giấy màu đen đầy chất độc hại, có hai người phụ nữ bước ra trong bóng tối của kẻ săn mồi. Họ hiện diện ở hai tư thế hoàn toàn khác nhau, nhưng có một điểm trùng lắp với cái tên đang là nỗi ám ảnh trong ngôi nhà quyền lực nhất ở Washington, DC. Cuộc đời của hai người phụ nữ này, trực tiếp và gián tiếp, đều liên quan đến Jeffrey Epstein, tội phạm tình dục đã bị kết án và được cho là đã tự tử trong lúc thụ án.
Trên mặt tiền trụ sở của Mussolini ở Rome, từng có một dãy chữ khổng lồ lặp đi lặp lại: “SI SI SI SI SI” – “vâng, vâng, vâng, vâng, vâng” in kín cả mấy tầng lầu. Hình ảnh ấy không phải khẩu hiệu phức tạp, cũng không phải bản cương lĩnh chính trị. Nó giống như bản tóm tắt cô đọng của một chế độ sống nhờ thói quen gật đầu: chủ nghĩa phát xít không chỉ đứng trên những mệnh lệnh, mà đứng trên những tiếng “vâng” người ta nói ra – và cả những tiếng “không” bị nuốt lại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.