Hôm nay,  

Nguyệt Cầm khơi mãi tình sâu

13/02/202600:00:00(Xem: 194)
Nguyet cam
 
Ca khúc “Nguyệt Cầm” của Cung Tiến là một hiệu quả đồng cảm với bài thơ “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu. Cả hai là sự đồng cảm với câu chuyện Bến Tầm Dương của nhà thơ Bạch Cư Dị.

Chuyện Bến Tầm Dương nơi Bạch Cư Dị gặp gỡ một kỹ nữ cao niên. Ông nghe bà đàn hát kể lại thân phận trong cuộc sống nổi trôi. Đồng cảm “Cùng một lứa bên trời lận đận / Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau,” (1) qua lời kể với tiếng đàn dưới trăng, Bạch Cư Dị đã viết tác phẩm “Tỳ Bà Hành.” Một tuyệt tác của thi ca cổ điển Trung Quốc.

Đồng cảm với Tỳ Bà Hành, Xuân Diệu viết bài thơ “Nguyệt Cầm,” là một tuyệt phẩm của thi ca Việt. Đồng cảm với Xuân Diệu và Bạch Cư Dị, Cung Tiến phổ thơ ca khúc “Nguyệt Cầm,” là một tuyệt phẩm trong âm nhạc Việt.

Ca khúc “Nguyệt Cầm” từ ca từ cho đến phong cách viết nhạc, chẳng những cho người nghe một nghệ thuật hay đẹp, mà còn cho chúng ta những suy nghĩ trải nghiệm về ca từ và âm nhạc, nhưng cao hơn nữa, cho chúng ta trầm tư thêm về khả năng đồng cảm. Một khả năng lớn mà chúng ta thường xuyên không quan tâm, không sử dụng, khiến cho đời sống chúng ta nghèo nàn và khó khăn.

Nghệ thuật đồng cảm trong thơ và nhạc có thể mượn biểu tượng:” Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh,” Chữ “nhập” là tác động đồng cảm. “Giọt tàn như lệ” là cảm giác đồng cảm. “Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh” là tâm trạng đồng cảm. “Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu,” là một thỏa thuận sâu lắng về đồng cảm.

Nguyệt Cầm làm vỡ hồn anh.

Trong bản in nguyên thủy của ca khúc Nguyệt Cầm, có bốn câu thơ trích Nguyệt Cầm của Xuân Diệu. Sự trích diễn là một ký hiệu cho chúng ta thấy, bốn câu thơ này đã rung cảm Cung Tiến để khởi sự quá trình sáng tác.

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh,
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Những tứ thơ trong bốn câu này tràn ngập trong ca khúc qua những biến dạng khác nhau theo sự đổi thay của giai điệu.

Nghệ thuật hành nhạc của Cung Tiến.

Chọn E Major (Mi trưởng) làm khóa chính của ca khúc, tác giả muốn sử dụng đặc tính của thang âm này, thường được mô tả là sáng, lộng lẫy, mạnh mẽ, tạo ra cảm giác vui, thích thú. Nghệ thuật của Nguyệt Cầm nằm ở mức độ sáng mà tác giả muốn diễn đạt, từ độ sáng tự nhiên với bốn nốt thăng (#) được thủ thuật hóa bởi dấu bình và dấu giảm để mức sáng có thể tối dần và khi chuyển sang khóa Em (Mi thứ) hoặc C#m (Do thăng thứ) giai điệu sẽ âm u, trữ tình hoặc buồn bã.

Nhạc sĩ Cung Tiến là người sáng tạo với nhạc lý. Phân tích giai điệu và cách hành âm, chuyển khóa trên năm dòng kẻ, mới tận hưởng tài năng của tác giả trong thịt xương của tác phẩm Nguyệt Cầm. Ông sáng tác bài này năm 1956, lúc ông mười tám tuổi. Lúc này ông chưa tinh thông hết ngỏ ngách của âm nhạc nhưng chúng ta có thể nhận ra khả năng tự nhiên về sáng tác của ông đã đặc biệt trong cả giai điệu lẫn ca từ. 

Cấu trúc của Nguyệt Cầm chia làm ba khúc:

Khúc một: từ “Đêm mùa trăng úa …….Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh.” Khóa Mi trưởng (EM).

Khúc hai: từ “Long lanh long lanh …. Khơi mãi nguồn đêm.”   Khóa Mi thứ (Em). Câu nhạc “Khơi mãi nguồn…” là câu lưỡng nhiệm, vừa chấm dứt khúc hai, vừa dẫn vào khúc 3.

Khúc ba: từ “Đêm mùa trăng úa….Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh.” Khóa Mi trưởng. Nhạc và lời lập lại khúc một.

Ông mở đầu bằng: “làm vỡ hồn ta” và chấm dứt bằng “làm vỡ hồn anh.” Chữ “ta” có thể hiểu là chúng ta hoặc người ta, là số đông người. Chữ “anh” xác định là một người, nhân vật chính trong ca khúc hoặc là tác giả. Điểm muốn hiểu ở đây là sự lập lại y hệt của khúc một và khúc ba, tác giả muốn nhấn mạnh điều gì? Nhưng chắc chắn là Cung Tiến muốn đưa ca khúc từ sáng qua tối rồi trở lại sáng. Không phải sáng rực rỡ mà là một thứ sáng trong mùa thu trăng úa.

“Đêm mùa trăng úa làm vỡ hồn ta... / Ngập ngừng xa...suối thu dồn lá úa trôi qua / Sầu thu, sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa thu
Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng, từng thoáng lệ ngân, mà hồn phân vân cuồng điên nhớ
Long lanh tiếng Nguyệt Cầm, tiếng đàn trầm
Ai nhớ nương tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát... chết theo nước xanh...Chết theo nước xanh...
Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh...”                

Ca từ lãng mạn và trữ tình. Đây cũng là điểm chung cho nhiều ca khúc của một số nhạc sĩ tài danh như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, … vân vân. Riêng ca khúc Nguyệt Cầm, ca từ rất văn chương, tự nó đã là một bài thơ tự do có giá trị.

“Mùa trăng úa” là mùa trăng đang khuyết dần trong dạng lưỡi liềm hay là những tuần trăng buồn bã? Trăng úa rồi lá úa làm mùa thu thêm u sầu vì tưởng chừng nhớ hương kỷ niệm của mùa thu cũ. Tứ ca từ này là hư cấu những hình ảnh chung, dùng để lót đường trước khi đưa ra những hình ảnh hoặc ngụ ý đặc sắc, như: chết theo nước xanh…làm vỡ hồn anh…

Cụm từ “lung linh” đi với “lệ ngân” làm cho trăng Tầm Dương sống động trong u uẩn.

“Cuồng điên nhớ” là ca từ cường điệu, trong khi “chết theo nước xanh” là một tứ diễn đẹp, cắt ra từ câu thơ “Vì nghe nương tử trong câu hát / đã chết trăng rằm trong nước xanh” (Xuân Diệu) Và đẹp hơn nữa ”Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh”.

Câu cuối này nói lên tâm sự của nhạc sĩ một cách buồn sâu mà thi vị.

Nguyệt Cầm trăng nhập vào dây

Đồng cảm là khả năng cảm thông, cảm hiểu và chia sẻ tình cảm về sự kiện, câu chuyện của người khác bằng đồng cảm lý trí hay đồng cảm tình cảm. Sự đồng cảm trong Nguyệt Cầm bao gồm cả trí lẫn tình.

Đồng cảm là yếu tố nền tảng kết nối mạnh mẽ giữa thơ ca và sáng tác nhạc, đóng vai trò mạnh mẽ để thể hiện cảm xúc, kết nối và thấu hiểu trong cả hai loại hình thể nghệ thuật. Cả hai thể loại đều đóng vai trò là phương tiện để nghệ sĩ thu hẹp khoảng cách giữa trải nghiệm của chính họ và người thưởng ngoạn, nuôi dưỡng cảm giác nhân văn và sự đồng cảm về mặt cảm xúc.

Khi phổ bài thơ thành ca khúc, khả năng đồng cảm giữa nhạc sĩ và thi sĩ rất quan trọng. Lời thơ sẽ là phương tiện trung gian để hai tác giả gặp gỡ.

Việc đầu tiên, nhạc sĩ phải chọn lựa bài thơ làm cho mình rung động, cảm nhận được những gì thi sĩ muốn chia sẻ. Bài thơ đó phải là bài thơ có giá trị. Nhiều người phổ nhạc chọn bài thơ không đủ điều kiện, tiêu chuẩn ngay từ đầu, vì vậy, sẽ không đủ điều kiện về sau. Nhiều người phổ ca khúc vì có người quen nhờ phổ giùm bài thơ mà họ yêu thích, không phải bài thơ mà nhạc sĩ yêu thích. Dĩ nhiên, ở đây, không đề cập đến việc được trả tiền để phổ thơ thành nhạc, hoặc trả bằng tình ái.

Tiếp theo, bài thơ được chọn phải sống với nhạc sĩ một thời gian, trăn trở, nghiền ngẫm. Đây là lúc sự đồng cảm nảy sinh, càng đậm đà, càng thông suốt, càng có hiệu quả cao. Khả năng đồng cảm càng cao, càng mạnh thì khả năng sáng tạo càng long lanh. Đó là sự kỳ diệu của âm nhạc. (2)


Khi phổ một bài thơ, hoàn tất y hệt như lời bài thơ, theo nhịp điệu, tiết tấu sẵn có trong câu thơ, thường là kiểu thơ nhạc trả bài. Ca khúc đó thường là kết quả của cố gắng thay vì tự nhiên. Cố gắng ráp nốt nhạc cao thấp theo dấu chữ trong câu thơ rồi nổ lực tạo một giai điệu quen thuộc, có thể hát, nghe thuận tai, đó là thể loại ca khúc cắt dán, nghe khá sượng sùng. Phổ thơ đôi khi cần nhiều sáng tạo hơn cả sáng tác ca khúc. 

Dĩ nhiên tác giả nhạc sĩ tự biết phẩm hạnh của bài phổ thơ. Còn người thưởng ngoạn làm sao biết? Một người có trình độ âm nhạc nghe sẽ biết.  Còn người bình thường chỉ cần chú ý đến lời nhạc:  ca từ đến từ bài thơ gốc cảm xúc với giai điệu trở thành một bài thơ tương tựa hay bài thơ khác. 

Bài thơ khác đó là ca khúc “Nguyệt Cầm”.

Long lanh long lanh ... trăng chiếu một mình, / khơi vơi khơi vơi ... nhạc lắng tỏ ngời / Nguyệt cầm ơi từng lệ ngân, ... / chết từng mùa Xuân... /Đêm ngời men nhớ...Nhạc tê người thuở xưa / Trăng sầu riêng chiếc... Trăng sầu riêng chiếc, sầu cho tới bao giờ ?
Hồn ghê bốn bề sao ngợp hồn xanh biếc trời cao / Kià thuyền trăng, trăng nhớ Tầm Dương, nhớ nhạc vàng, đêm ấy thuyền neo bến ấy /
Nguyệt Cầm nghe nấc từng câu... / Có hàng mây trắng về đâu? / Mắt chìm sâu, đêm lắng đời sâu / Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu.
Khơi mãi nguồn đêm ...

Trong khả năng ràng buộc của giai điệu và âm sắc + thanh điệu của ngôn ngữ Việt, những cụm từ “nhạc lắng tỏ ngời”, “đêm ngời men nhớ”, “nhạc tê người”, diễn đạt được ý thơ và nói lên tài năng tạo chữ theo âm điệu của tác giả.

Cụm “Hồn ghê bốn bể sao” chữ ghê khiến cho tôi cảm lạnh. Còn “Nguyệt Cầm nghe nấc từng câu”  chữ nấc cho tôi cảm xúc. Chữ nghĩa của Cung Tiến biến hóa từ bài thơ của Xuân Diệu vào giai điệu khiến tôi kinh ngạc, tôi tự hỏi, giá như Cung Tiến làm thơ thì sao?

Eliot Sorde nhận định: “Ca từ không giống với lời thơ. Khi các nhà thơ viết riêng cho trang giấy, họ phải quan tâm đến cách người đọc sẽ đọc câu thơ; còn nhạc sĩ thì có thể viết chủ yếu để truyền tải cảm xúc của riêng mình. Thơ có thể có đủ loại nhịp điệu và hình thức; lời bài hát phải theo dòng chảy của âm nhạc. Lời bài hát cũng bị đánh giá thấp hơn thơ. Chúng không làm hết công việc của loại hình nghệ thuật; thơ ca mới làm hết công việc của mình. […] Nếu bạn đã suy nghĩ nhiều về ngôn ngữ, việc viết lời trong khuôn khổ bài hát sẽ không quá khó khăn. Không câu nào cần phải quá ấn tượng; chúng chỉ cần được suy nghĩ ở một mức độ nào đó, để có ý nghĩa trong bài hát, để tránh sáo rỗng hoặc những điều ngớ ngẩn vô nghĩa (nếu đó không phải là điều bạn hướng tới), và thậm chí (nếu đó là điều bạn hướng tới) để nói lên điều gì chân thành theo cách chưa từng được nói chính xác như vậy trước đây. […]”
Cả âm nhạc và thơ ca là hai nghệ thuật lộng lẫy khơi gợi tình cảm và truyền tải trí tuệ. Ý định của tác giả là đóng một vai trò kết nối mọi người với mức độ hoà hợp  cao giữa hai loại hình thơ và nhạc.

Cả hai hình thức đều có thể gợi lên những phản ứng thể chất mạnh mẽ, chẳng hạn như "rùng mình" và "nổi da gà", thể hiện mối liên hệ cảm xúc sâu sắc giữa giới thưởng ngoạn và tác phẩm.

Ca sĩ Quỳnh Giao viết về ca khúc Nguyệt Cầm:

“Dòng nhạc mở đầu của Nguyệt Cầm phảng phất tấu khúc Romance en Fa của Beethoven, nhưng ca khúc kén người hát và người nghe. Nhạc trưởng Vũ Thành thường trao cho Anh Ngọc vì chỉ danh ca này mới hát câu “trăng sầu riêng chiếc, trăng sầu riêng chiếc, sầu cho tới bao giờ…” crescendo da diết và dài hơi hơn mọi người! “  Nói một cách nghệ thuật, Nhạc trưởng Vũ Thành đã trao cho tiếng hát Anh Ngọc nhiệm vụ tạo sự đồng cảm cho người thưởng ngoạn.

Có thể xác định, một bài thơ phổ nhạc nếu không có yếu tố đồng cảm thì khó có cảm xúc trung thực. Cảm xúc giả tạo thì không thể tạo ra hiệu quả một bài thơ phổ nhạc có giá trị. 

Đánh giá ca khúc Nguyệt Cầm.

Bài thơ là những ngôn ngữ bị động, luôn chờ đợi có người đến đọc. Trong khi ca khúc là những ngôn ngữ sinh động, luôn hướng tới sinh hoạt ca hát để truyền cảm đến người nghe.

Ca từ Nguyệt Cầm của Cung Tiến là một bài thơ hay tạo ra giá trị cao khi hòa hợp với giai điệu sáng tạo. Nhạc khúc này thành công khi thể hiện nỗi buồn thanh cảnh, sang trọng, dễ cảm nhận. Ca từ thành công khi khơi gợi những ký ức và cảm xúc riêng tư của người nghe. Nhờ vậy, tạo ra sự đồng cảm giữa tác giả và khán thính giả.

Tôi đọc thơ Nguyệt Cầm. Tôi hát nhạc Nguyệt Cầm. Chân lông không khỏi run lên khi đọc “Đàn ghê như nước lạnh, trời ơi…” và nội cảm không khỏi chùng xuống pha một chút tơi bời khi chấm dứt, ngân dài “Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ ……… hồn … anh.”

Ngu Yên
 
Ghi chú.
Nguyệt Cầm: là đàn Nguyệt. Có hộp đàn tròn như mặt trăng, xuất xứ từ Trung Quốc, ở miền nam gọi là đàn Kìm.
Nguyệt Cầm còn cưu mang nhiều nghĩa khác như: Trăng đàn; đàn dưới trăng; đàn nhớ người thiếu nữ tên Nguyệt, vân vân…
(1) Cùng một lứa bên trời lận đận / Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau. (Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,
Tương phùng hà tất tằng tương thức.Tỳ Bà Hành, Bạch Cư Dị.)  
(2) Sức mạnh kỳ diệu của âm nhạc trong việc khơi dậy oxytocin trong não bộ là trọng tâm của bộ phim năm 2004 mang tên Câu chuyện về lạc đà khóc. Trong bộ phim về một gia đình du mục ở Mông Cổ, một con lạc đà vừa mới sinh con, nhưng rất khó khăn. Do đó, lạc đà mẹ tỏ ra không mấy quan tâm đến con mình và từ chối cho con bú. Theo truyền thống, việc chơi đàn violin có thể khích lệ một con lạc đà và giúp nó đoàn tụ với con của mình. Đây chính xác là những gì gia đình đã làm. Họ mời một nhạc công đến làng và chơi nhạc cho cả mẹ và con lạc đà. Sau một lúc, lạc đà mẹ bắt đầu khóc và dần dần tiến lại gần con mình hơn, cuối cùng cho phép nó bú.
(3) Song lyrics aren’t the same as poetry. When poets are writing specifically for the page, they have to be concerned with how a reader will say the line; a songwriter can write primarily for his or her own delivery. All kinds of rhythms and forms are possible in poetry; lyrics must follow the flow of the music. Song lyrics are also held to lower standards than poems. They’re not doing all of the work of their art form; poems are doing all the work of theirs.
If you’ve thought a lot about language, it won’t be too hard to write within the loose confines of song lyrics. None of the lines need to be stunning on their own; they just need to be thought out to some extent, to make sense in the song, to avoid cliches or pointless silliness (if that’s not what you’re going for), and even (if that is what you’re going for) to say something honest in a way that hasn’t been said exactly like that before.
 
Nguyet cam
NC1
NC2
NC3
NC4
NC5

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Ngựa phi, ngựa phi đường xa Tiến trên đường cát trắng trắng xóa Tiến trên đường nắng chói chói lóa Trên đồng lúa theo cánh chim trời bay trên cao…” Đó là tiếng vó ngựa vang lên giữa khu phố Little Saigon vào một ngày giáp Tết Bính Ngọ tại quán Cà Phê Factory do ban nhạc NTM hợp ca bản “Ngựa Phi Đường Xa” của nhạc sĩ Lê Yên trong buổi chiều tất niên của Việt Báo và ra mắt sách “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của nhà văn Phan Tấn Hải hôm 13 tháng 2 năm 2026.
Năm nay 31 tuổi, Bad Bunny sinh ra tại Puerto Rico, lãnh thổ nói tiếng Tây Ban Nha của Mỹ và cũng là sanh quán của không ít ca sĩ tên tuổi của Mỹ. Gia đình Bunny là những người Công giáo, với cha Bunny là một tài xế xe tải và mẹ anh là một cô giáo tiếng Anh ngoan đạo. Bunny hát trong ca đoàn của nhà thờ từ nhỏ và sáng tác nhạc từ năm 14 tuổi với giấc mơ trở thành một nghệ sĩ, dù anh theo học đại học về truyền thông thu thanh truyền hình để trở thành một người dẫn chương trình radio hay truyền hình.
“Chúng ta sẽ đứng lại trên mảnh đất này, Và không bỏ rơi người xa lạ giữa chúng ta. Chúng ta sẽ nhớ những tên người đã chết Trên đường phố Minneapolis.”
ashington bước vào mùa đông năm nay với âm thanh đứt quãng của một khúc giao hưởng chưa thành. Sau sáu năm thai nghén, bản Giao hưởng số 15 của Philip Glass — nhà soạn nhạc Hoa Kỳ được xem là người có công đưa ngôn ngữ tối giản vào đời sống âm nhạc đương đại — đáng lẽ phải vang lên tại Kennedy Center, như lời chào mừng kỷ niệm bán thế kỷ của trung tâm nghệ thuật danh tiếng này. Nhưng chỉ ít tháng trước buổi công diễn, nhạc sĩ 88 tuổi ấy tuyên bố rút tác phẩm. “Những giá trị mà Kennedy Center hôm nay biểu trưng không còn phù hợp với tinh thần của Abraham Lincoln,” ông viết, như hồi chuông cảnh tỉnh giữa một bầu không khí vốn đã nhiều sấm sét. Sự rút lui của Glass không chỉ là một “biến cố âm nhạc”; nó là một tín hiệu thời đại. Từ khi Tổng thống Trump trở lại quyền lực và đặt tên mình bên cạnh John F. Kennedy trên mặt tiền trung tâm — giới nghệ thuật thủ đô Hoa Thịnh đã không khỏi phân tâm. Một bên là danh dự nghề nghiệp, một bên là cảm thức công dân.
Ni Sư Daehae, cũng là nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng, đã thắng giải thưởng Phim truyện xuất sắc nhất (Best Fiction Film) tại Đại hội điện ảnh Bangladesh, theo tin của báo Korea Joong Ang Daily ngày 19/1/0226.
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.