Hôm nay,  

Đuổi Bắt Một Mùi Hương: Chữ Nghĩa Như Một Nơi Trú Ẩn

13/02/202600:00:00(Xem: 567)

HB-PTH

 

Ảnh: Phan Tấn Hải và Nina Hòa Bình Lê cầm trên tay những cuốn sách đầu tiên
 
Có những cuốn sách đọc xong khép lại. Có những cuốn, khép rồi mà vẫn còn mở, còn thở. Không phải vì câu chuyện chưa kể hết, cũng không vì ý tưởng còn dang dở, mà vì hương sách còn lan tỏa.

“Tôi chỉ viết lên những dòng chữ như thả lên những cánh chim trong tâm mình cho bay qua bầu trời văn học… Mỗi truyện là một kiếp sống tôi đã đi qua…” 1

Lời tự bạch ấy của tác giả cũng chính là luồng sinh khí thổi vào toàn bộ tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của Phan Tấn Hải: những chuyến bay ngang qua nhân gian, những giờ khắc tan rồi hiện, những tình cảm mất rồi còn. Cả tập truyện như một hành trình đuổi bắt không cùng — không để truy tìm thứ hữu hình, mà để nhận ra cái không thể nắm giữ cũng chính là cái không thể mất đi: mùi hương cuộc sống.

Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.

Ở truyện “Bệnh Nước”, khung cảnh Sài Gòn hậu 1975 hiện lên qua một căn bệnh không triệu chứng, không sốt, không đau, nhưng ngấm sâu vào da vào thịt, thấm dần vào tâm tính. Nhân vật trong truyện là người đọc rất lâu, rất kỹ — không để tin vào một điều gì, mà để giữ cho mình khỏi trôi theo dòng nước đục.

“Hắn đọc kỹ từng câu một, như một vị thầy trách nhiệm với luận án của học trò... ²

Câu văn như chính sự việc, không đẩy, không nhấn, mà để phân ranh giữa cá nhân và xã hội, để thấy một thái độ sống: giữa bụi đời hỗn độn, giữa cái đói bồn chồn, giữa sự im lặng của những tâm bão, ở lằn ranh sống chết — vẫn còn những mẩu đối thoại với chữ, với ý tưởng, với người.

Văn chương của Phan Tấn Hải không tìm sự kiện. Nó tìm khoảng nghỉ. Chỉ có người viết, trang giấy trắng và một khoảng đợi.

“Anh ngồi với trang giấy trắng
chờ em như chữ hiện về.”³

Viết — ở đây — không là hành động chiếm hữu chữ nghĩa, mà là sự nhẫn nại chờ chữ đến: một trạng thái gần với thiền, mà cũng gần với nhớ mong. Không ai cưỡng ép được sự thương nhớ da diết, như người viết không cưỡng ép được định mệnh của khoảng trống. Nhưng chính lúc ấy, văn chương đạt đến chỗ thuần khiết, để cái đẹp nảy sinh.

Và bởi vì Mỗi Trang Sách Là Một Cánh Cửa, tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” chính là trú xứ. Người đọc bước vào trang sách không để tìm kiếm điều gì, mà để tạm nghỉ chân giữa cõi đời chật hẹp.

“Sáng dậy, mùi hương vẫn thoang thoảng. Không phải hương hoa ngọc lan. Cũng không phải hương nước hoa hay gì hết, vì đây là hương từ sân chùa bay ra, tôi nghĩ, hẳn là hương trời. Nhưng, tại sao lại hương trời?” Không hiểu nổi.”

Câu văn tưởng chừng giản dị, nhưng đó là cái giản dị tự tại của kẻ đã “ăn nằm” lâu năm cùng chữ nghĩa, một sự trưởng thành đã thôi không cần chứng minh hay làm dáng.

Truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” cũng là một truyện ngắn dẫn nhan đề cho cả tập — là nhành ngọc lan ép vào mỗi trang giấy.  Ở đó, chữ nghĩa đi theo những điều mong manh nhất: một làn hương thoảng qua, một bàn tay trên cao, một ánh mắt nhìn, một buổi chiều muộn chỉ kịp nhận ra khi nắng đã tắt.

“Từ hôm đó trở đi, cô bé không ra đứng ở hiên chùa nữa…”⁵

Câu văn khẽ buông một ghi nhận, rồi thôi. Nhưng chính cái “rồi thôi” ấy tạo dư vị — vì có những cảm xúc chỉ tồn tại trong sát-na, không thuộc ký ức đông cứng, cũng chẳng đọng lại với thời gian – chỉ có mặt ở đó, nở đó, tàn đó.

Mùi hương thoảng sang những mẩu chuyện khác, nhập vào những mối liên hệ mong manh giữa người với người. Với “Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh”, đời sống trôi đi lặng lẽ quanh căn nhà như một “pharmacy ở Anaheim, nơi con người sống chung với thuốc men, bệnh tật mà không buồn để ý đến nó.

“Phải nhiều tháng sau, tôi mới biết cô nàng bị bệnh ung thư.”⁶

Câu văn nhập đề thẳng, không vòng vo, không giãi bày. Nó chỉ đến chậm, như cái biết thường đến muộn trong đời.
Với “Mối Tình Đầu Của Tôi”, “Khi Em Đứng Dậy và Bước Đi”, “Vết Son Ơi, Quên Nhau Là Chuyện Khó”… — tác giả bước vào chủ đề quen thuộc của tình yêu và xa cách thật tự nhiên, nhẹ nhàng, chỉ một âm vang tiếng guốc, bóng dáng một mái tóc, dấu vết một màu son, đôi khi chỉ là một thoáng bâng khuâng rất “lành” khiến người đọc không thể không phì cười:

“Tự nhiên tôi sợ… tôi sợ rằng nàng sẽ tỏ tình, rằng nàng đã thích tôi…”7

Dẫu nói thế, người kể chuyện hiền lành của chúng ta – hay nhân vật trong truyện, đã ngả bệnh “nằm mấy ngày như con cuốn chiếu”“cái gì đó đáng tiếc lắm đã bay mất”:

em đi bóng còn ở lại
một thời em đứng kiễng chân
thở vào hồn tôi nắng quái
nụ hôn lạc mấy đường trần.
 
Tình trong văn Phan Tấn Hải có khi nhẹ như màu nắng, có khi dữ dội đến vỡ tim mà chết. Nhưng có lẽ thứ tình trong sáng, dịu dàng nhất vẫn là tình người trong “Cậu Bé Và Hoa Mai”, “Đôi Giày Vạn Dặm”, và “Chị Tư” — những câu chuyện không mang theo ám ảnh, không chịu sức nặng của nuối tiếc; chỉ như một sáng sớm sương chưa tan, như những chuyến chân trần lang thang trên con phố với đôi giày cũ kỹ bạc màu.

““Khi tôi viết những dòng chữ này thì cậu bé vẫn còn ở trong trại. Nghĩa là bạn có thể gặp cậu bé ở một nơi nào đó, vào một lúc nào đó.”8

Câu văn để ngỏ như vạt nắng. Chính nhờ sự để ngỏ ấy mà tình còn mãi, như đôi giày vạn dặm in dấu tuổi thơ, như hoa mai báo hiệu mùa xuân trong lòng, hồn Sài Gòn xưa vẫn đâu đây với những kỷ niệm tan rồi còn lưu hương.

Vẫn còn nhiều truyện khác — “Bên Kia Dòng Hudson”, “Người Bạn Bên Kia Bờ Đại Dương”; “Những Dòng Sông Cuộc Đời”; “Chàng, Nàng Và Buổi Chiều”, v.v. — nối tiếp một cuộc kiếm tìm không dứt: đời sống chảy qua, thay hình đổi dạng; mỗi con người là một làn hương khác tan đi, mất rồi mà còn đó:
“Ông thấy nàng nửa như quen thuộc, nửa như xa lạ…”9

Văn Phan Tấn Hải mang khí hậu của một ngày xưa. Câu văn tựa như dòng nhạc nhịp đơn (2/4) có khi… có khi…, như nhịp sống tươi sáng của những buổi chiều tan trường. Hình ảnh đời thường — căn gác trọ ẩm mốc, tủ sách của Thầy Ký, con phố chiều tà, hồi chuông buổi sớm, bàn tay chai sần của người bệnh — tất cả được nâng niu bằng một thứ dịu dàng kín đáo, để rồi tự nhiên hóa thành thơ, thành những nét vẽ còn thơm mùi mực mới từ những hình ảnh xưa cũ tưởng đã ở yên trong ký ức.

Chính cái hồn xưa ấy làm văn ông, như mùi quê hương — thành nơi trú ẩn ấm áp, ở đó, hơi thở Phật giáo thổi vào rất nhẹ. Không thuyết giảng, không gọi tên. Chỉ là một cách nhìn về hợp – tan, về tình yêu như một không gian rộng hơn bản thân mình, nơi con người không giữ lại, mà học cách tan ra. Lối kể ngôi thứ nhất vì thế trở nên chân thành, không phô diễn cái tôi, mà như để hóa thân sống hộ nhiều kiếp người.

“Tụi mình như những con hải cẩu…”
… chỉ có một mùa để đến với cuộc đời.10

Sau cùng, khi khép sách lại, người đọc sẽ không mang theo một cốt truyện nào. Thứ giữ lại trong lòng là cái cảm giác lâng lâng — tựa buổi chiều cuối năm, nắng đã tắt mà hương nắng còn lẩn trong tay áo. Không biết bắt đầu từ đâu, cũng không biết sẽ tan vào đâu.

Chỉ biết rằng — nó còn ở đó. Và có lẽ, sẽ ở lại rất lâu.
 
Nina Hòa Bình Lê
 
Chú thích
1. Đuổi Bắt Một Mùi Hương, Lời Thưa, Văn Học Press, 2026, tr. 12.
2. Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Bệnh Nước”, tr 198.
3. Phan Tấn Hải, trích thơ, trong Đuổi Bắt Một Mùi Hương, mục “Nhận Định về Nguyên Giác Phan Tấn Hải”, Văn Học Press, 2026, tr. 403.
4. & 5. Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện cùng nhan đề, tr 153.
6. Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh”, tr 17.
7. Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Khi Em Đứng Dậy và Bước Đi”, tr 68.
8. Phan Tấn Hải, Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Cậu Bé Và Hoa Mai”, tr. 205.
9. Phan Tấn Hải, Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Bên Kia Dòng Hudson”, tr. 121.
10. Phan Tấn Hải, Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Ngồi Bên Bóng Đêm, Nghe Lời Hải Cẩu Trên Cầu Đá”, tr. 130.
* Toàn bộ chữ nghiêng trong bài là chữ của Phan Tấn Hải, từ sách “Đuổi Mắt Một Mùi Hương”.

Có những tác phẩm sinh ra trong bóng tối mà không vì thế trở thành bóng tối. Trái lại, chúng như một đốm lửa nhỏ cháy mãi qua nhiều năm tháng lưu lạc của lịch sử. Der Kaiser von Atlantis của Viktor Ullmann và Peter Kien là một tác phẩm như thế, thai nghén trong trại Theresienstadt, giữa cái đói, cái lạnh, cái chết và một thế giới đã bị bạo lực xô đến tận cùng. Bị cấm. Bị vùi lấp. Nhưng nó không chết. Nhiều thập niên sau, nó lại bước ra ánh sáng, hóa thân sang một hình thức khác, tái sinh qua cuốn truyện tranh Death Strikes: The Emperor of Atlantis của Dave Maass và Patrick Lay.
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông. / Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.
Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.