Hôm nay,  

Những hứa hẹn và hiểm họa của Hiệp định sông Mekong năm 1995 sau 30 năm

27/02/202600:00:00(Xem: 159)
Tháng hai 2026

Giới thiệu: Ba mươi năm—Thịnh vượng trong hiểm họa
Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của Lạn Thương giang, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.

MRC tuyên bố rằng "làm việc cùng nhau là con đường duy nhất để tiến lên" với "các giải pháp mới" để giữ cho sông Mekong trở thành "dòng sông của sự sống, không phải xung đột", những lời hứa hùng biện lạc quan quen thuộc này đã vang vọng trong 30 năm. Trên thực tế, sông Mekong đã và đang phải đối diện với "một cái chết bởi cả ngàn vết cắt"—đó là sự suy thoái tích lũy của lưu vực của các con đập thủy điện, của cát tặc và lâm tặc, làm chu trình thủy văn biến đổi, cướp đi vai trò điều tiết tự nhiên của Hồ Tonle Sap. Khi Sông Mekong đứng trước những nguy hại kể trên, MRC chú trọng vào lời nói nhiều hơn hành động cụ thể. Ở bước cao nhất và cuối cùng của PNPCA, Hội Đồng Thành Viên Quốc Gia-MRC Council Members đàm phán nhưng tệ liệt vì không hề đạt được quyết định hủy bỏ hay thông qua một dự án thủy điện nào suốt 30 năm qua.

Hiệp định Mekong năm 1995 trong dòng thác thủy điện

Trước năm 1995, dòng chính hạ lưu sông Mekong vẫn còn mạnh mẽ nguyên sinh không hề có con đập nào. Hiệp định sông Mekong 1995 thay đổi tình trạng đó. Lào đã xây dựng đập Xayaburi, hoạt động từ năm 2019 và Don Sahong, hoạt động từ năm 2020. Lào đã gặp sự phẫn nộ từ Campuchia và Việt Nam về hai con đập đó, chúng gây thiệt hại cho họ vì các sinh lộ tự nhiên cho di ngư bị các đập ngăn chặn và trầm tích bị giam giữ lại tại các hồ chứa. Quy trình PNPCA - thông báo trước, tham vấn trước và thỏa thuận mà các dự án có tác động xuyên biên giới phải tuân thủ đã đều bị treo ở giai đoạn thỏa thuận. Lào xem thường phản đối của láng giềng và đã đơn phương tiến hành các dự án thủy điện của mình, ngang nhiên vi phạm tinh thần hiệp định.

Dòng thác thủy điên thượng nguồn trên sông Lan Thương của Trung Quốc sớm dẫn đầu với đập Manwan vào cuối những năm 90, và tổng cộng có 12 đập dòng chính vào năm 2025, với tổng công suất của các đập là 32 GW. Từ đó Bắc Kinh kiểm soát vòi nước ở thượng nguồn, xả hoặc giữ nước theo ý muốn, kiểm soát lũ lụt và giảm bớt hạn hán theo thiết kế, nhưng hoạt động hồ chứa Trung quốc thường gây lũ lụt và hạn hán tự nhiên thêm trầm trọng; thậm chí còn gây ra lũ lụt trong mùa khô và hạn hán trong mùa mưa cho các quốc gia hạ lưu.

Ngoài ra trên các phụ lưu Mekong, ở Việt Nam có 81 đập; Lào có 75 đập. Tổng công suất thủy điện theo kế hoạch của lưu vực Hạ Mekong là 23 GW, với kinh phí đầu tư là $50 tỉ Mỹ kim.

Các động lực thúc đẩy khai thác thủy điện Mekong rất nhiều và tàn bạo. Thái Lan và Việt Nam cần điện cho các thành phố đang bùng nổ; Lào bán điện để lấy tiền và khoe mình là Bình Điện của Đông Nam Á (Battery of Southeast Asia). Các công ty Trung Quốc xây dựng, các ngân hàng Thái Lan cho vay, tất cả đều được bảo lãnh của các chính phủ. Đó là một cuộc đua mà không ai chờ đợi đồng thuận - bởi vì chờ đợi có nghĩa là đến sau, thua thiệt. Quy trình PNPCA đã bất lực chỉ còn là hình thức thông báo.

PNPCA của Xayaburi đã kéo dài trong nhiều năm với các nghiên cứu cho thấy thiệt hại ngư nghiệp lên đến tám mươi phần trăm đối với một số loài, nhưng không có thỏa thuận nào đạt được. Quá trình của Don Sahong ngắn hơn, nhưng kết quả như nhau. Chưa hề có một dự án thủy điện nào được thỏa thuận hay bị hủy bỏ bởi Hội đồng sông Mekong (MRC Council Members-Cấp Thứ trưởng). Điều này đưa đến một tiền lệ nguy hiểm: Bảy con đập dòng chính nối đuôi  nhau sẽ được Lào quyết tâm thực hiện.

Đánh giá tổng thể chi phí và lợi ích của chuỗi thủy điện hạ lưu sông Mê Kông

Đánh giá kinh tế độc lập do Oxfam công bố  , tương tự Nghiên cứu của Hội đồng MRC, kết luận rằng tác động kinh tế ròng của các đập hạ lưu sông Mê Kông là tiêu cực, với thiệt hại về thủy sản và trầm tích (tổng cộng 17 tỷ Mỹ kim hoặc hơn) lớn hơn doanh thu điện năng. Đối với 11 đập dòng chính được lên kế hoạch cộng với các nhánh sông, các mối đe dọa đối với hệ sinh thái của lưu vực có thể gây thiệt hại 7 tỷ đô la hàng năm cho các dịch vụ bị mất, vượt xa mức 3-4 tỷ đô la thủy điện. Trong khi Lào tăng doanh thu, hạ lưu Việt Nam và Campuchia phải đối mặt với gánh nặng không cân xứng, dẫn đến những lời khuyến cáo về các giải pháp thay thế như tích hợp năng lượng mặt trời/gió và quản lý trầm tích tốt hơn. Các báo cáo gần đây 2024-2025 nhấn mạnh những rủi ro đang diễn ra, thúc giục lập kế hoạch bền vững để giảm thiểu sự mất cân bằng này. 

Hồ Tonle Sap: Nhịp điệu thủy văn và khả năng điều tiết tự nhiên bị phá vỡ

Sông Mekong là mạch máu thi Hồ Tonle Sap là trái tim của lưu vực. Mặt hồ này lan rộng lên năm lần vào mùa mưa, tích trữ nước trong mùa lũ; sau đó nó xả nước cung cấp cho đồng bằng qua những tháng khô hạn. Điều 6 của Hiệp định Mekong năm 1995 yêu cầu các nước hợp tác để duy trì  dòng chảy tự nhiên - tối thiểu trong mùa khô và dòng chảy ngược trong mùa mưa. Quy trình duy trì dòng chảy trên dòng chính (PMFM) nêu rõ các ngưỡng tại các trạm như Kratie. Tuy nhiên, không có cơ chế nào ngăn cản các đập ở thượng nguồn giành lấy trước, dự trữ nước xem như nguyên liệu riêng của họ để sản xuất điện.

Một nghiên cứu về Nature Sustainability năm 2025  cho thấy dòng chảy ngược đã giảm 40% -50% từ năm 1998 đến năm 2018. Các dự báo đạt mức giảm 60% vào năm 2038 nếu xu hướng được giữ nguyên. Khai thác cát - tràn lan ở Campuchia và Việt Nam - làm sâu lòng sông hơn nữa, cắt giảm trầm tích từng bù đắp xuống đồng bằng. Thủy sản đã lao dốc; Một số khu vực báo cáo sản lượng đánh bắt giảm bảy mươi phần trăm kể từ khi các con đập chặn di cư. Đường bờ biển của châu thổ bị xói mòn, muối xâm nhập và các nồng trại gặp khó khăn. Biến đổi khí hậu khuếch đại tất cả - mùa khô hạn hơn, mùa lũ lụt lội hơn - các con đập hoàn toàn bất lực không giúp gì được.

Kênh đào Funan Techo:
Một thử thách cho Hiệp dinh và tinh thần sông Mekong
Kênh đào Funan Techo của Campuchia là vi phạm táo bạo nhất gần đây. Khởi công vào tháng 8/2024, tuyến đường thủy dài 180 km cắt hai dòng chính này sẽ chuyển nước sông Mekong ra Vịnh Thái Lan vào năm 2028. Việt Nam cảnh báo nó sẽ làm trầm trọng thêm độ mặn của đồng bằng, cắt trầm tích và ảnh hưởng nặng nề đến ruộng lúa. Các nghiên cứu từ Trung tâm Stimson ước tính rằng dòng chảy mùa khô giảm 20% trong một số đoạn. Campuchia gọi đây là một dự án phụ lưu (nhưng không phải vậy) để tránh tuân thủ quy trình PNPCA, họ chỉ chia sẻ dữ liệu tối thiểu và phớt lờ các yêu cầu của MRC về báo cáo khả thi. MRC đã lưu ý vấn đề này với họ nhưng vẫn không được thỏa mãn. Đây là bất lực của tổ chức, mở cổng các con đập khác mọc lên".

Thành công và thách thức của Ủy hội sông Mekong

Hiệp định Mekong 1995 đã vô hiệu hóa quyền phủ quyết trong Hiệp định 1975 bằng định nghĩa rằng: “Tham vấn trước không phải là quyền phủ quyết việc sử dụng nước, cũng không phải là quyền đơn phương sử dụng nước của bất kỳ quốc gia ven sông nào mà không tính đến quyền lợi của các quốc gia ven sông khác”. Do đó, việc Lào ngang nhiên coi thường quyền lợi của Campuchia và Việt Nam, và việc Campuchia phớt lờ lợi ích của Việt Nam là những vi phạm pháp lý vào tinh thần và nội dung của Hiệp định.

Thành quả của MRC có nhưng không đáng kể so với mục đích và sứ mạng của nó. MRC vận hành một hệ thống dự báo lũ lụt giúp cứu người, chia sẻ dữ liệu về mực nước và đưa ra chiến lược tích hợp từ năm 2021 đến năm 2030. Kế hoạch mới từ 2026 đến 2030 thúc đẩy thông tin về các con đập theo thời gian thực và mối quan hệ chặt chẽ hơn với Trung Quốc. Tuy nhiên, những công cụ này đã không ngăn chặn tác hại. Họ thường cho các dự án một chiếc áo choàng hợp pháp - các nghiên cứu được đệ trình, tham vấn được tổ chức, sau đó bắt tay luôn vào xây dựng. MRC không có quyền ngăn chặn hoặc trừng phạt. Vi trí thượng nguồn của Trung Quốc vẫn nằm ngoài tầm nhắm, Myanmar cũng vậy. Nếu không có tư cách thành viên và các quy tắc ràng buộc, lời hứa của thỏa thuận về công bằng trên toàn lưu vực là trống rỗng.

Nhận định chung: Nền tảng thiếu sót trong việc quản lý bền vững sông Mekong

Hiệp định Mekong năm 1995 không chỉ là giấy, đó là một cam kết long trọng của Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam về việc sử dụng dòng sông một cách công bằng, tránh tổn hại và hợp tác chân thành. Họ đã ký nó với đôi mắt rộng mở, ràng buộc mình với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, ba thập kỷ sau, tinh thần của hiệp ước đó đã tan vỡ. Các con đập dâng lên mà không có sự đồng thuận, dòng chảy bị chuyển hướng và cảnh báo của hàng xóm bị phớt lờ. Đây không phải là hợp tác; đó là một cuộc đua chuột xé nát sông Mekong.

Các quốc gia Mekong phải ngừng khai thác con sông và bắt đầu thực hiện những gì họ đã hứa. Thỏa thuận yêu cầu sử dụng công bằng và không gây tổn hại đáng kể — nghĩa vụ mà họ bị ràng buộc về mặt pháp lý phải đáp ứng. Lào phải ngừng xây dựng thêm đập dòng chính phớt lờ sự phản đối của Campuchia và Việt Nam. Campuchia thừa nhận rằng kênh đào Funan Techo chuyển nước từ hai kênh sông Mekong chính, trung thành tuân thủ PNPCA và rà soát giảm thiểu tác động xuyên biên giới xuống đồng bằng Việt Nam.

Cả bốn quốc gia cần thực thi quá trình tham vấn như một con đường dẫn đến thỏa thuận, không phải là một con dấu đóng trên mặt giấy. Sự kìm kẹp thượng nguồn của Trung Quốc làm tăng thêm áp lực - các con đập của họ kiểm soát nước và đẩy nợ thông qua các khoản vay. Các nước Mekong phải chống lại cái bẫy đó, từ chối tài trợ cho các dự án xâu chuỗi theo các điều khoản của Bắc Kinh.  Tránh trước những nguy cơ biến hàng xóm thành đối thủ, tranh giành lấy dòng sông. Thay vào đó, nên đoàn kết chống lại sự trôi dạt đối nghịch này. Đặt tinh thần của hiệp ước lên hàng đầu: tôn trọng dòng chảy của Tonle Sap, bảo vệ nghề cá, cứu đồng bằng. Chỉ khi đó họ mới có thể xây dựng bền vững cho lưu vực, gây lại niềm tin và cho thế giới thấy rằng Hiệp định 1995 thực sự quan trọng.

Chịu trách nhiệm với tầm nhìn về tương lai

Các nước Mekong có nguy cơ biến MRC thành một "cửa hàng trò chuyện" (talk shop) ưu tiên đối thoại hơn hành động, khiến sông Mekong, Tonle Sap và người dân phải gánh chịu những cái giá đắt nhất của thực tế đáng buồn này. Đối với những người trên thực địa, khoảng cách giữa hùng biện và thực tế là đau đớn. Ngư dân ở các làng Tonle Sap nhìn thấy lưới trống rỗng. Nông dân đồng bằng nhìn cánh đồng trở nên mặn. "Sự thịnh vượng chung" của MRC nghe giống như một tiếng vang xa xôi khi sinh kế của bạn bị thu hẹp. Những sai sót của thỏa thuận - không có biện pháp trừng phạt, thực thi yếu kém, lỗ hổng dễ dàng - đã biến nó thành một yếu tố tạo điều kiện cho quốc gia giành lấy lợi ích tập thể.

Việc khắc phục nó cần các bước triệt để: bổ túc điều khoản trọng tài bắt buộc, giới hạn dung tích các hồ chứa thủy điện để bảo vệ nhịp lũ cho Tonle Sap, kiểm soát trầm tích thượng nguồn và thành lập Mekong Fund, một ngân quỹ nhân đạo để bồi thường cho các nạn nhân lũ lụt, hạn hán thiệt hại tài sản dù thiên tai hay nhân tai, sống trong lưu vực sông Mekong. Mekong Fund được tài trợ bởi thuế thu từ thủy điện. Nếu không thực hiện những khuyến cáo này, MRC vẫn là một diễn đàn chỉ để nói xuông trong khi dòng sông dần dần chết. Ba mươi năm trôi qua, người dân sông Mekong vẫn còn phải chờ đợi sự hợp tác chân thành và thân thiện của 4 quốc gia với ý thức cao nhất của trách nhiệm.

Phạm Phan Long là nguyên Chủ tịch Quỹ Sinh thái Việt và là một kỹ sư, nhà nghiên cứu chuyên nghiệp chuyên về các giải pháp năng lượng và bảo vệ môi trường sông Mekong.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong giới báo chí Việt ngữ hải ngoại, có hai khuynh hướng rõ rệt khi viết về quốc gia Trung Đông nằm giữa Ai Cập và Jordan. Một số, có vẻ là đa số, gọi quốc gia đó là Do Thái, trong khi số khác, trong đó có tôi, gọi là Israel. Có nhiều lý do để gọi quốc gia đó là Do Thái, trong đó lịch sử là một. Quốc gia này được lập ra như một quốc gia của người theo đạo Do Thái. Bản tuyên bố Balfour của Anh năm 1947 chấp nhận việc thành lập một quốc gia của người Do Thái trên đất Palestine khi đó đang do Anh nắm giữ. Nghị quyết Liên Hiệp Quốc năm 1947 thông qua một kế hoạch phân chia vùng đất làm hai, một cho người Do Thái và một cho người Ả Rập.
Tháng Lịch Sử Phụ Nữ tại Hoa Kỳ phát sinh từ phong trào đòi phục hồi vai trò phụ nữ trong lịch sử quốc gia, hình thành vào thập niên 1970 dưới ảnh hưởng của làn sóng phản kháng xã hội. Trong nhiều thế kỷ, phụ nữ hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng, nhưng lại vắng bóng trong các bộ sử chính thống; những tập sử đầu tiên chỉ ghi chép tên tuổi vài nữ hoàng hoặc phụ nữ quyền quý, còn đại đa số bị loại khỏi dòng niên biểu của quốc gia.
Ở phương diện đạo đức và văn hóa, Philip Taubman và William Taubman đã phân tích những mâu thuẫn nội tâm của McNamara: tiếng nói của lương tâm và quyền lợi quốc gia. Theo họ, trong thâm tâm, ông từng nhận định rằng Hoa Kỳ đã phạm sai lầm nghiêm trọng và không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, trước công chúng và trong các tuyên bố chính thức, ông vẫn duy trì lập trường cứng rắn, tiếp tục biện minh cho chính sách leo thang quân sự. Sự đối lập giữa nhận thức riêng tư và lập trường công khai ấy tạo nên một nghịch lý phản ánh bi kịch cá nhân của McNamara, đồng thời cũng là bi kịch của cả một thời kỳ lịch sử...
Năm Bính Ngọ 2026 – năm Con Ngựa Lửa – đang phi nước đại tới với bao hứa hẹn đổi thay, may mắn và khám phá mới quanh một loài vật từng cùng nhân loại viết lại bản đồ thế giới. Các nhà cổ sinh học cho biết tổ tiên xa xưa của ngựa là một sinh vật cỡ… con cáo, sống trên đất Bắc Mỹ khoảng 55 triệu năm trước; nhiều triệu năm sau, dòng họ ấy mới tiến hóa thành giống Equus – họ hàng trực tiếp của những chú ngựa ngày nay. Đàn Equus lần theo dải đất Bering băng qua sang Á, Âu, Phi, để rồi gặp tổ tiên chúng ta – lúc ấy vẫn xem ngựa là mồi săn, để lại xương và dấu mũi giáo trong những dấu tích khảo cổ có niên đại hàng trăm ngàn năm.
Theo cuộc thăm dò mới của NBC News Decision Desk Poll do SurveyMonkey thực hiện, sự ủng hộ dành cho chương trình nhập cư của Tổng thống Donald Trump đang giảm mạnh vào đầu năm 2026 sau khi các nhân viên nhập cư liên bang bắn chết hai người Mỹ vào tháng trước. Cuộc thăm dò cho thấy rằng các chiến thuật hung hăng và chỉ tiêu trục xuất của chính quyền đã thay đổi quan điểm của người Mỹ về Trump đối với chính những vấn đề đã giúp ông đắc cử. Vấn đề nhập cư và an ninh biên giới từ lâu đã nổi bật như một điểm mạnh của Trump trong các cuộc thăm dò, cả khi ông tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024 và trong năm đầu tiên của chính quyền mới. Giờ đây, tỷ lệ ủng hộ Trump về vấn đề này đã giảm xuống ngang bằng với tỷ lệ ủng hộ công việc tổng thể của ông.
Trong các cuộc xuống đường phản đối biện pháp siết chặt di trú và tăng ngân sách cho cơ quan ICE trên khắp nước Mỹ những tuần qua, hình ảnh dễ thấy là hàng hàng giáo sĩ đeo cổ áo thánh, giơ bảng, đứng giữa hàng rào cảnh sát và đoàn người di dân. Một trong những tiếng nói gây tranh luận mạnh là Giám mục Rob Hirschfeld, Giáo phận Episcopal New Hampshire. Ngày 18.1.2026, ông kêu gọi các giáo sĩ trong giáo phận “chuẩn bị cho một kỷ nguyên tử đạo mới”, thậm chí lo sẵn di chúc và giấy tờ hậu sự. Theo ông, đây không còn là thời của những tuyên bố trên giấy, mà là lúc “dùng chính thân thể mình để đứng giữa các thế lực của thế gian và những người dễ bị tổn thương nhất”.
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.