Hôm nay,  

Điều Gì Xảy Ra Nếu Chế Độ Tehran Không Sụp Đổ

04/03/202607:37:00(Xem: 736)
GettyImages-2210187127
Quân nhân Iran diễn hành trong cuộc duyệt binh kỷ niệm Ngày Quân Đội trước lăng Ruhollah Khomeini, phía nam Tehran, ngày 18 tháng 4 năm 2025. Iran tổ chức lễ duyệt binh mỗi năm vào ngày này để phô diễn lực lượng và trang bị quân sự của mình. Ảnh: Morteza Nikoubazl/NurPhoto via Getty Images.

  

Bất cứ người tử tế nào cũng mong cuộc chiến này kết thúc sớm và dân Iran được giải thoát khỏi ách thần quyền tàn bạo đã đè họ xuống gần nửa thế kỷ nay. Nhưng hy vọng, tự thân nó, không phải là chiến lược.

 

Hiện giờ – vào ngày thứ năm của cuộc chiến mà Donald Trump chọn phát động tấn công Iran – cả hai mong ước trên đều có vẻ xa vời. Người Mỹ đã trả giá suốt sáu thập niên để học một bài học đơn giản: gây chiến thì dễ, kết thúc chiến tranh mới là chuyện khó. Và chiến tranh hầu như không bao giờ kết thúc đúng theo hình dung của những người khởi xướng.

 

Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.”

 

Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại.

 

Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.

 

Đó là một quốc gia đầy tự trọng, địa hình đồi núi hiểm trở, phòng thủ nhiều tầng, 90 triệu dân, hơn một triệu quân tại ngũ và lực lượng trừ bị, với kho vũ khí tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình và máy bay không người lái do chính họ chế tạo. Trong một cuộc đụng độ trực diện, Iran không thể đọ sức với sức mạnh tổng hợp của Mỹ và Israel. Giới cầm quyền ở Tehran hiểu rõ điều đó từ lâu, nên đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho một cuộc đối đầu bất cân xứng, kéo dài và tiêu hao.

 

Một “kết thúc có hậu” mong manh

 

Về lý thuyết, vẫn có một kịch bản tươi sáng: chiến tranh chớp nhoáng, chế độ thần quyền sụp đổ, một cuộc nổi dậy bùng lên quét sạch giới giáo sĩ cầm quyền, dân Iran được giải phóng. Kịch bản đó “có thể” xảy ra – nhưng khả năng không cao.

Thực tế hơn là một cuộc chiến kết thúc trong cảm giác lưng chừng, thiếu thỏa mãn, dù tránh được thảm họa toàn diện. Ở thời điểm này, đó có lẽ là điều tốt nhất người ta còn có thể hy vọng.

 

Trump hoàn toàn có thể tuyên bố chiến thắng rồi quay gót sau khi đánh phá nặng nề chương trình tên lửa và năng lực hạt nhân của Iran. Trước đây, sau một đợt oanh kích của Mỹ và Israel, ông từng huênh hoang rằng chương trình hạt nhân Iran đã bị “xóa sổ”; thực tế, nó không hề bị xóa sổ. Lần này cũng vậy: ông có thể lại tuyên bố thắng lợi, bỏ lại sau lưng một mớ hỗn độn khó tả – và giới giáo sĩ vẫn y nguyên trên đỉnh quyền lực – ngay tại một trong những khu vực then chốt nhất hành tinh.

 

Phần lãnh đạo còn lại ở Tehran sẽ họp nhau lại, chọn một Lãnh tụ Tối cao mới (con trai của vị lãnh tụ vừa qua có vẻ là ứng viên sáng giá), ký hòa ước, rồi quay trở lại công việc quen thuộc: bóp nghẹt đời sống xã hội, dựng lại công xưởng tên lửa–drone, chuẩn bị cho vòng đối đầu kế tiếp.

 

Dầu hỏa sẽ tiếp tục chảy đều ra thị trường thế giới. Những xung đột thường trực trong vùng sẽ quay về “trạng thái bình thường”: căng thẳng, dễ bùng nổ, nhưng vẫn trong ngưỡng mà các cường quốc cho là có thể “quản lý được”. Trump, khi ấy, có thể tổ chức duyệt binh ăn mừng.

 

Nghe qua, đó vẫn còn là một “cái kết” chấp nhận được. Nhưng mọi chuyện có thể tệ hơn nhiều. Và những ác mộng đó không hề chỉ là trò dọa suông.


Ác mộng thứ nhất: Chiến tranh của người Kurd

 

Sự hỗn loạn do chiến tranh trên đất Iran có thể châm ngòi cho các cuộc nổi dậy sắc tộc cả trong lẫn ngoài biên giới nước này.

 

Ở miền tây Iran, người Kurd đã đấu tranh chống chính quyền trung ương, khi âm ỉ khi bùng cháy, suốt nhiều thập niên. Hiện nay, theo nhiều nguồn tin, Mỹ và Israel đang tích cực trao đổi với các lực lượng người Kurd trong Iran để cung cấp vũ khí, kích động một cuộc nổi dậy nhằm lật đổ chế độ.

 

Nhưng các cuộc nổi dậy của người Kurd hiếm khi dừng lại trong phạm vi một quốc gia.

 

Ước tính có khoảng 25 đến 30 triệu người Kurd – sắc tộc không có quốc gia riêng lớn nhất thế giới. Họ rải ra trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Iran, Syria và Armenia. Ở mỗi nơi, người Kurd đều đã có các phong trào vũ trang, tổ chức chính trị, và tại miền bắc Iraq cũng như đông bắc Syria, họ còn có vùng tự trị trên thực tế.

 

Nếu các khu vực Kurd tại Iran bùng nổ nổi dậy, giấc mơ thành lập một quốc gia Kurd thống nhất — điều họ theo đuổi hơn một thế kỷ — có thể bất ngờ trở nên khả thi.

 

Không chính quyền nào trong vùng, đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ, có thể bình tĩnh trước khả năng đó.

 

Và chỉ trong một thời gian ngắn, một cuộc chiến tưởng như chỉ là đụng độ giữa Mỹ–Israel với Iran hoàn toàn có thể biến dạng thành chiến tranh sắc tộc quy mô, kéo dài trên lãnh thổ ít nhất bốn quốc gia, cuốn theo đủ loại lực lượng địa phương và quốc tế.

 

Lịch sử Trung Đông đã từng rẽ ngoặt vì những biến cố không ai tưởng tượng nổi. Chúng ta không có lý do gì để cho rằng lần này sẽ khác.

 

Ác mộng thứ hai: Iran tan rã

Một khả năng u ám khác không phải là sự ra đời của một nhà nước Kurd, mà là sự tan rã của Iran.

 

Nếu nhìn kỹ, Iran không phải một khối dân tộc–tôn giáo đơn nhất. Khoảng một nửa dân số thuộc các sắc tộc thiểu số – không chỉ có người Kurd mà còn có người Azeri, Arab, Baluch, Turkmen và nhiều nhóm khác – phần lớn sống ở các vùng biên, có mối liên hệ chặt chẽ vượt qua ranh giới quốc gia. Các đường biên ở Trung Đông, như ai cũng biết, phần lớn do các đế quốc phương Tây từng tùy tiện vẽ ra; những đường kẻ ấy đến giờ vẫn là cái gai trong tâm thức nhiều cộng đồng.

 

Trong các giới hoạch định chính sách tại Washington và Tel Aviv, lâu nay vẫn có những người âm thầm suy đoán: một Iran suy yếu có thể vỡ ra dọc theo những đường rạn sắc tộc đó. Một số nhà phân tích Israel – kể cả cựu quan chức tình báo – từng công khai nêu ý tưởng khai thác các rạn nứt sắc tộc, thậm chí tiến tới “chia cắt Iran”, dù điều này chưa bao giờ thành chính sách chính thức. Ở Mỹ, các “think tank” tân bảo thủ cũng từng lập luận rằng một Iran nhỏ hơn, bị phân mảnh, sẽ giảm đáng kể nguy cơ quân sự đối với Israel và các nước vùng Vịnh.

 

Thậm chí người ta đã vẽ và truyền tay những bản đồ một “Iran bị bẻ gãy”, chia thành nhiều đơn vị chính trị nhỏ.

 

Lý lẽ của phe này khá đơn giản: một Iran nhỏ và chia nhỏ sẽ không còn là mối đe dọa lớn về quân sự.

 

Nhưng lịch sử, cụ thể là bài học Nam Tư, nhắc ta điều ngược lại. Khi Nam Tư sụp đổ trong thập niên 1990, kết quả không phải là sự phân chia êm đềm, trật tự, mà là cả một thập kỷ nội chiến, thanh trừng sắc tộc, cùng vô số cuộc can thiệp quân sự từ bên ngoài.

 

Ác mộng thứ ba: Cuộc chiến không có hồi kết

 

Kịch bản thứ ba ít kịch tính hơn hai kịch bản kia nếu nhìn bề ngoài, nhưng xác suất lại cao hơn hẳn: Cộng hòa Hồi giáo Iran sống sót qua cơn bão.

 

Giới lãnh đạo Iran đã dành nhiều thập niên chuẩn bị cho đúng thời khắc này. Họ từ lâu đã tiên liệu những đòn không kích, những lời kêu gọi “thay đổi chế độ”, những nỗ lực nhắm vào bộ não chỉ huy.

 

Nếu chế độ trụ vững được sau giai đoạn mở màn của cuộc chiến – như hiện giờ có vẻ đang diễn ra – họ sẽ chuyển hẳn sang một cuộc chiến tiêu hao dài hơi. Thực ra, cuộc chiến đó đã bắt đầu rồi.

 

Kho tên lửa và máy bay không người lái của Iran là một thách thức thực sự với Mỹ, Israel và các nước vùng Vịnh. Những hệ thống phòng thủ tên lửa–phòng không của chúng ta không phải không có giới hạn, kho đạn cũng không vô tận.

 

Iran cũng có thể kích hoạt các lực lượng đồng minh trong khu vực để tấn công căn cứ quân sự và lợi ích kinh tế của Hoa Kỳ. Các tuyến hàng hải chiến lược như Vịnh Ba Tư hay eo biển Bab-el-Mandeb vẫn dễ bị tấn công và gián đoạn.

 

Hoa Kỳ thường hy vọng người dân Iran sẽ nổi dậy chống chế độ. Điều đó có thể xảy ra. Nhưng kinh nghiệm cho thấy: tấn công từ bên ngoài thường khiến các chế độ độc đoán mạnh lên, chứ không yếu đi. Tinh thần dân tộc bị xúc phạm có thể khiến người dân đoàn kết quanh một chính quyền mà ngày thường họ vốn căm ghét.

 

Nếu Iran chịu đựng được những đòn đánh ban đầu và đáp trả ở mức hiệu quả — dù chỉ ở mức hạn chế — chế độ có thể bước ra khỏi cuộc chiến với vị thế chính trị mạnh hơn trước.

 

Và nước Mỹ có thể rơi vào cảnh bị khóa chặt trong một cuộc chiến mà ban đầu chính chúng ta cũng không hề định kéo dài đến thế. Một cuộc chiến không tên rõ ràng, không đích đến cụ thể, chỉ có sự mệt mỏi tích lũy qua từng năm, từng nhiệm kỳ tổng thống.

 

Trách nhiệm trước khi nổ súng

 

Trước khi bất kỳ quốc gia nào chọn con đường chiến tranh, lãnh đạo nước đó có nghĩa vụ phải tự hỏi mình những câu hỏi khó.

 

Nếu kẻ thù không chịu sụp thì sao?


Nếu cả khu vực rơi vào vòng bất ổn, bị cuốn vào những cuộc chiến mới thì sao?
Nếu diễn biến vượt khỏi tầm kiểm soát thì sao?

 

Những kịch bản ác mộng như vậy không nhất thiết là lập luận chống lại mọi hành động quân sự. Nhưng chúng là lời nhắc phải suy nghĩ thật kỹ trước khi đặt tay bóp cò.

 

Nhìn vào những gì chúng ta đã thấy ở vị tổng thống và chính quyền này – từ cách họ nói năng đến kiểu họ xây dựng chính sách – có vẻ như “suy nghĩ” là thứ đã vắng bóng. Họ thậm chí không thống nhất nổi câu chuyện về lý do vì sao Trump kéo nước Mỹ vào cuộc chiến với Iran.

Thoát ra khỏi cuộc chiến ấy có lẽ sẽ khó hơn nhiều. Và nguyên nhân nằm ở chính sự thiếu trách nhiệm cùng lòng kiêu ngạo khi quyết định bước vào nó.

 

Nguyên Hòa biên dịch


Nguồn: Theo Terry Moran, nhà báo Hoa Kỳ, viết trên trang Real Patriotism ngày 4 tháng 3 năm 2026.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
Ngày 24 tháng 2 năm 2022, Putin phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt”, thực chất là cuộc xâm lược toàn diện nhằm vào lãnh thổ Ukraine. Trái với nhiều dự đoán ban đầu, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky từ chối rời khỏi đất nước để xin tỵ nạn Hoa kỳ và kêu gọi toàn dân kháng chiến, đồng thời nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế...
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết với tỷ lệ 6-3 trong vụ kiện Trump rằng Đạo Luật Quyền Lực Kinh Tế Khẩn Cấp Quốc Tế (IEEPA) không cho phép tổng thống áp đặt thuế quan, vô hiệu hóa các mức thuế quan rộng khắp đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, đến Mexico và Canada, đã được chính quyền Trump ban hành nhằm chống lại nạn buôn bán fentanyl và giải quyết thâm hụt thương mại.
Khi những trang hồ sơ Epstein lần lượt phơi bày ra trước công chúng như một trận mưa giấy màu đen đầy chất độc hại, có hai người phụ nữ bước ra trong bóng tối của kẻ săn mồi. Họ hiện diện ở hai tư thế hoàn toàn khác nhau, nhưng có một điểm trùng lắp với cái tên đang là nỗi ám ảnh trong ngôi nhà quyền lực nhất ở Washington, DC. Cuộc đời của hai người phụ nữ này, trực tiếp và gián tiếp, đều liên quan đến Jeffrey Epstein, tội phạm tình dục đã bị kết án và được cho là đã tự tử trong lúc thụ án.
Trên mặt tiền trụ sở của Mussolini ở Rome, từng có một dãy chữ khổng lồ lặp đi lặp lại: “SI SI SI SI SI” – “vâng, vâng, vâng, vâng, vâng” in kín cả mấy tầng lầu. Hình ảnh ấy không phải khẩu hiệu phức tạp, cũng không phải bản cương lĩnh chính trị. Nó giống như bản tóm tắt cô đọng của một chế độ sống nhờ thói quen gật đầu: chủ nghĩa phát xít không chỉ đứng trên những mệnh lệnh, mà đứng trên những tiếng “vâng” người ta nói ra – và cả những tiếng “không” bị nuốt lại.
Thế giới đang đứng trước nguy cơ bất ổn nghiêm trọng về an ninh chiến lược khi Hiệp ước New START – thỏa thuận quốc tế được Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký kết năm 2010 nhằm giới hạn kho vũ khí hạt nhân của hai nước – sẽ chính thức hết hạn vào ngày 5 tháng 2 năm 2026. Theo nội dung các điều khoản của hiệp ước, mỗi bên không được triển khai quá 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM), tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) và oanh tạc cơ có khả năng mang vũ khí hạt nhân; tổng số đầu đạn hạt nhân không vượt quá 1.550. Ngoài ra, số bệ phóng của mỗi nước bị giới hạn ở mức 800, và hai bên được quyền tiến hành các cuộc thanh sát lẫn nhau hằng năm, dù cơ chế này đã không còn được thực thi trong những năm gần đây. Dưới thời Tổng thống Joe Biden, vào năm 2021, New START đã được gia hạn một lần duy nhất thêm 5 năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.