Trong lãnh vực nghệ thuật, luôn có một câu hỏi khó trả lời, chưa hề có câu trả lời nào thỏa mãn. Đó là, Sáng tác làm cho thưởng ngoạn trì trệ, hay thưởng ngoạn làm cho sáng tác trì trệ? Nhạc, họa chậm phát triển là do sáng tác hay thưởng ngoạn? Văn, thơ lỗi thời là do thưởng ngoạn hay sáng tác? Người phu xe nên đi trước xe chở như trường hợp xe kéo? Hoặc nên đẩy sau xe như trường hợp xe xích-lô? Sáng tác luôn là kẻ phục vụ. Thưởng ngoạn luôn là người ngồi trước hay ngồi sau thích thú.
Tôi nghĩ, câu trả lời tùy mỗi giai đoạn, mỗi địa dư, mỗi trường hợp, không có câu trả lời chung. Câu trả lời lần này bắt đầu từ mệnh đề: Hầu hết người Việt thưởng ngoạn hay sáng tác đều yêu thích nhạc tình. Trên thế giới cũng vậy. Đa số người nghe đón nhận, ủng hộ ca khúc tình yêu.
Tuy nhiên, ở những quốc gia quen thuộc nhiều thể loại âm nhạc và có trình độ thưởng thức cao rộng, ngoài tình ca yêu đương, nhiều chủ đề và nội dung khác trong ca khúc cũng được yêu chuộng. Đối với người Việt, ngoài trừ một số hùng ca và sinh hoạt ca, những tình ca có chủ để mới lạ hoặc nội dung khác thường dù thể hiện chuyện đời trung thực cũng không được quan tâm. Nếu có ai sáng tác trong những chủ đề mới, những nhạc phẩm này sẽ nhanh chóng đi vào dĩ vãng. Trong khi những ca khúc tình yêu hôm nay ít trung thực mà một số lớn bài ca bắt chước nhau, giống nhau, lập lại, cắt dán, cố gắng hư cấu, và những ca khúc này thua xa sản phẩm của AI. Ca khúc hư cấu của AI, thường hội đủ những yếu tố kỹ thuật, những dàn dựng nghệ thuật, nhiều bài nghe rất hay, chỉ không thể thượng thừa vì không có cảm xúc và sáng tạo để thể hiện sự độc đáo, những gì chưa từng có trong dữ liệu của bộ nhớ khổng lồ.
Bài thơ tình hậu hiện đại.
Lê Uyên Phương là một nhạc sĩ trong nhóm ngũ long trước năm 1975 ở miền Nam, bao gồm Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, và Ngô Thụy Miên. Lê Uyên Phương có một vị trí đặc biệt trong âm nhạc. Ca khúc của ông có cá tính rõ ràng và nhiều sáng tạo đặc sắc. Ông thường viết những chủ đề với ca từ khác thường, vì vậy, có một số ca khúc ít người biết tới.
Hãy đọc ca từ này, phải chăng là một bài thơ Hậu hiện đại diễn đạt câu chuyện phổ quát mà trong xã hội người ta chỉ dám đàm tiếu xầm xì không dám công khai:
1.
Em vô tâm như bầu trời
Bầu trời có đám mây bay
Có đám mây bay, đám mây bay qua.
Em vô tâm như cỏ cây
Cỏ cây mọc ngoài đồng
Cỏ cây mọc ngoài đồng
Cỏ cây đồng.
2.
Em vô tâm như đồng tiền
Đồng tiền sấp ngửa đôi bên
Sấp ngửa đôi bên
Sấp ngửa đôi bên
Em vô tâm như rác rưỡi
Rác rưỡi ngoài đường
Rác rưỡi ngoài đường
Đường dưới chân ai
3.
Đôi khi, đôi khi, em đã hiện hình
Như con thú hoang trước người thợ săn
Đôi khi, em đã hiện hiện, em đã hiện hình
Hiện thiên thần trước người mơ mộng
Đôi khi em đã hiện hình là tờ giấy bạc
Nhàu nát trong mắt nhìn tham lam
Đôi khi, đôi khi, em đã hiện hình
Em đã hiện hình
Là giọt máu bầm trong trái tim tôi
Bài này có thể xếp vào dòng thơ hậu hiện đại vì hội đủ những đặc tính như xóa nhòa ranh giới giữa đẹp và xấu, giữa trí thức và bình dân, giữa những ẩn dụ cao như trăng, hoa, mây và những ẩn dụ thấp như rác rưỡi, đồng tiền sấp ngửa. Tâm điểm của bài không đề cập đại tự sự, mà chỉ nói lên suy nghĩ và cảm xúc của tình yêu đơn phương sau khi bị ruồng bỏ. Một tiểu tự sự trong đời sống thường ngày.
So với thơ Việt truyền thống, lời thơ này dù văn hoa vẫn táo bạo trong cách diễn đạt cảm xúc. Với cấu trúc thơ tự do, ngôn ngữ lập đi lập lại như niệm chú, bài thơ mang đến một góc nhìn mới mẻ về mối quan hệ giữa chủ thể yêu và đối tượng được yêu. Một mối quan hệ đầy bất định, đau khổ và vô vọng.
Bài thơ này nguyên là ca từ của ca khúc “Là giọt máu bầm trong trái tim tôi” của nhạc sĩ Lê Uyên Phương.
Trong trái tim tôi.
Chuyện phản bội trong tình yêu xảy ra nhan nhản nhiều gấp mấy lần lễ hôn phối. Chúng ta nghe thấy hàng ngày, người yêu nhau đau đớn, ghen tương, ăn chả ăn nem, ăn cơm ăn phở, thậm chí, giết người tình phản bội, vậy mà có bao nhiêu ca khúc nói về sự phản bội một cách thực tế và trung thực?
Quá nhiều ca khúc nói về sự phản bội này trong dạng chuyện tình đổ vỡ. Bị vợ ngoại tình, tình nhân bỏ rơi, mà ôm tim hát lời cao thượng, thậm chí ca ngợi người tình thủ phạm hoặc làm đẹp tình lừa đảo trở thành dễ thương, hoặc buồn khổ một cách thơ mộng. Nghệ thuật đâu phải dùng để truyền đạt sự giả hình.
Diễn đạt tâm sự của người đàn ông thất bại trong cuộc tình một cách chân thật, thực tế dù văn vẻ:
“Em vô tâm như bầu trời…./ Em vô tâm như cỏ cây … / Em vô tâm như đồng tiền …/ Em vô tâm như rác rưỡi…” Sự cố ý nhắc lại là học thuật (repetition) của hậu hiện đại tạo ý nhấn mạnh và thay thế cho vần nhịp, tiết tấu hoặc sự đối xứng âm thanh trong kỹ thuật truyền thống. Sự lập lại này còn có khả năng gây hiệu ứng ám ảnh tâm lý. Chúng ta có thể nhận ra sự lẩn quẩn, quay vòng trong cùng một nỗi đau, niềm oán của người không thể thoát ra những suy nghĩ bế tắc. Càng cùng quẫn thì cảm xúc càng đay nghiến suy tưởng và nỗi đau cứ tiếp tục hiện hình. Theo như tác phẩm “Hú” của Allen Ginsberg, thì sự lập lại không chỉ phục vụ thẩm mỹ cho hình thức diễn đạt mà phục vụ cho tâm lý thực sự đang lấp vấp, xáo trộn.
Ví dụ như sự lập lại ba lần của “sấp ngửa đôi bên” không chỉ là lập lại tứ thơ mà ám chỉ một nội tâm không ổn định, không xác định được thực sự mình muốn điều gì.
Đoạn 1 và đoạn 2 mô tả trạng thái tâm tình phản ứng từ nghĩ ngợi bình thường, em vô tâm như bầu trời, mây bay qua bay lại đổi thay. Em vô tâm như cỏ cây ngoài đồng, sống theo bản năng. Tâm trạng đó nung nóng chuyển sang mỉa mai, tức giận, em vô tâm như đồng tiền sấp ngửa, chọn lựa vì tham lam. Bật lên nguyền rủa, em vô tâm như rác rưỡi ngoài đường để bị giẫm dưới chân. Điểm lưu ý ở đây là cụm từ “vô tâm”. Dù là buồn đau hay giận dữ, anh ấy vẫn cho người tình bội bạc một tín dụng “không cố ý”, chỉ vì vô tâm mà thôi. Điểm này nói lên lòng yêu thương sâu đậm mà anh dành cho người phản bội.
Sang phần ca từ chính, trong 9 câu, cụm từ “đôi khi” lập lại 5 lần; cụm từ “em hiện hình” lập lại 6 lần. “Đôi khi” có nghĩa là không thường xuyên. Chúng ta có thể thắc mắc, anh ấy yêu người bỏ đi nhiều đến thế, sao lại không thường xuyên tưởng thấy cô ta? Theo lẽ bình thường, yêu nhiều thì phải nhớ nhiều. Tôi nghĩ, có lẽ anh ta thường xuyên thương nhớ người tình, tơ tưởng kỷ niệm, nhưng không thắc mắc, cho đến khi tự hỏi mình, vì sao em lại xa rời anh? Lúc đó, em mới hiện hình, khi tha thiết, em là thiên thần; khi bực tức, em là thú hoang; khi mỉa mai, em là tờ bạc nhàu nát; khi hận lòng, em là giọt máu bầm.
Giọt máu bầm.
Giọt máu bầm là ẩn dụ chính, chủ lực trong bài ca từ, cũng là một tứ thơ xuất sắc.
Máu bầm là một loại máu tai hại, có khả năng làm nghẹt mạch máu. Loại máu tụ lại sau khi bị tổn thương và lưu giữ trong cơ thể lâu dài trước khi được hấp thụ hay hóa giải.
Máu bầm trong ca từ này được hiểu là nỗi đau tình yêu tụ đọng lại, một tổn thương nhức nhối mãn tính, lưu diễn âm thầm.
Máu bầm trong trái tim lại càng tê dại hơn vì cảm xúc gây đau đớn. Một nỗi niềm riêng tư da diết không thể diễn tả. Máu bầm trong tim không thể tuần hoàn, tích tụ ở đó như thể một ám ảnh khôn nguôi.
Sự thành tựu của bài ca từ là xây dựng một hệ thống tượng hình theo chiều dọc, tạo ra sự mạch lạc và ý nghĩa dễ nắm bắt theo thứ tự. Khi kết thúc bằng ẩn dụ giọt máu bầm, thì tất cả các hình tượng khác nối lại với nhau vẽ ra một bức tranh toàn thể.
Sấp ngửa đôi bên.
Tình ca yêu đương được yêu chuộng hàng đầu trên thế giới vì tình yêu là một trải nghiệm cảm xúc dễ đồng cảm, có thể thực hiện ở mọi giai đoạn trong cuộc sống. Nhạc tình giúp mọi người ta thể hiện, hồi tưởng, sống lại cảm xúc lưu lạc trong ký ức. Tình ca tác động hệ thống khen thưởng của não bộ, mang lại cảm giác dễ chịu, thích thú hay đê mê. Tình ca lãng mạn dễ vận chuyển từ kinh nghiệm riêng thành kinh nghiệm chung và ngược lại từ cảm xúc chung thành cảm xúc riêng. Những câu chuyện trong nhạc tình có thể giúp mọi người suy ngẫm về những trải nghiệm lãng mạn của chính mình và hiểu rõ hơn về các mối quan hệ của mình và của người.
Ở Việt Nam cũng không ngoại lệ, điều ngoại lệ là ngoại trừ những ca khúc tình cảm yêu đương, giới sáng tác và thưởng ngoạn ít khi tìm nghe những gì mới lạ hoặc khác thường. Ngay cả nhạc Trịnh được ủng hộ đông đảo, được yêu mến khắp đất nước mà một ca khúc rất hay, rất ấn tượng, có giá trị về ca từ, nhưng không được nghe trọng: Du Mục là ca khúc lạc loài.
Tôi nghĩ, giới thưởng ngoạn nhạc Việt, nghe nhạc không phải vì thưởng thức nghệ thuật âm nhạc mà phần lớn vì thích thú với kỷ niệm gắn liền với ca khúc hoặc vì có tâm sự tương tựa nội dung của ca khúc. Hoặc buồn hơn khi nghĩ rằng mức thưởng ngoạn âm nhạc của hầu hết người Việt chỉ đến đó. Điều này dẫn đến việc sáng tác muốn sống còn, muốn được ủng hộ, thì phải sáng tác theo chiều hướng đồng tiền sấp ngửa. Dẫn chứng sự kiện cho đến nay, tháng 10 năm 2025, hầu hết người Việt thưởng ngoạn nhạc vẫn quanh quẩn nhạc trữ tình: nhạc vàng, nhạc tím, nhạc Trịnh, từ chối hầu hết những nhạc gì khác, cho thấy sự lỗi thời trong giới thưởng ngoạn. Ngày nay, chúng ta có thể giao tiếp với bất kỳ nền âm nhạc nào trên thế giới mà hầu hết chúng ta không quan tâm. Nếu giai đoạn 1930-50, cha ông chúng ta không tiếp thu và cải hóa âm nhạc tây phương thì giờ đây chúng ta vẫn còn nghe nhạc chèo, nhạc cổ điển Việt. Giới thưởng ngoạn dừng lại, giới sáng tác dừng theo. Những ai lẻ loi đi ra ngoài luồng sẽ như “Đàn bò tìm dòng sông, nhưng dòng nước cạn khô.” (Du Mục)
“Là giọt máu bầm trong trái tim tôi” và một số ca khúc mới trong CD “Trái Tim Kẻ Lạ” nỗ lực thoát ra ngoài luồng chỉ để thấy đồng tiền sấp ngửa đôi bên, không phải là trái tim tươi mát trong âm nhạc đương đại.
Ca từ của “Là giọt máu bầm trong trái tim tôi” đã mổ xẻ, phân tích nỗi đau tình cảm, không theo truyền thống làm đẹp nỗi đau, ngược lại, làm xấu nỗi đau này như thực tế xấu xí của tình phản bội, tuy thô tháp mà chính xác “tờ giấy bạc nhàu nát”, can đảm trong nghệ thuật “Em như rác rưỡi”, cảm xúc chân thật “là giọt máu bầm trong trái tim.”
Ngu Yên
Link nghe nhạc:



