Hôm nay,  

Ngọn Đèn Còn Thắp - Albert Camus: Làm Sao Sống Trọn Vẹn Giữa Một Thế Giới Đổ Vỡ

03/04/202600:00:00(Xem: 305)

ngon den con thap
 
LTS: Đêm dài. Nhưng còn sách. Còn người đọc. Còn những trang viết thắp lên giữa bóng tối thời cuộc. Qua mục văn học Ngọn Đèn Còn Thắp, Việt Báo mỗi kỳ sẽ giới thiệu một tiếng nói văn chương — cũ hay mới, Đông hay Tây — soi rọi thân phận và thời cuộc.

***

Albert Camus: Làm Sao Sống Trọn Vẹn Giữa Một Thế Giới Đổ Vỡ
 
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
 
Sinh ra giữa một cuộc Thế Chiến, để rồi sống qua một cuộc Thế Chiến khác, Albert Camus (7 tháng 11, 1913 – 4 tháng 1, 1960) chết trong một tai nạn xe hơi, trong túi áo còn nguyên tấm vé xe lửa với nơi đi và đến. Chỉ ba năm trước đó, ông trở thành người trẻ thứ nhì đoạt giải Nobel Văn chương, được trao tặng vì những trang viết "soi rọi, bằng sự minh mẫn nghiêm cẩn, những vấn đề của lương tri con người" — những vấn đề như nghệ thuật là kháng cự, hạnh phúc là bổn phận đạo đức, và thước đo sức mạnh qua những ngày gian khó.

Giữa Đệ Nhị Thế Chiến, Camus đứng về phía công lý bằng tất cả nhiệt huyết; giữa Chiến Tranh Lạnh, ông xuyên qua Bức Màn Sắt bằng sức mạnh nhân bản thuần khiết nhất của lòng tử tế giản dị. Nhưng khi nhìn thế giới tự thiêu tương lai của nó trong hố lửa chính trị, ông hiểu rằng thời gian — vốn chẳng có bên phải bên trái — rốt cuộc chỉ được hay mất trên một cung bậc nhỏ nhất và riêng tư nhất: sự hiện diện tuyệt đối với chính đời mình, bắt rễ từ niềm tin rằng "sự hào phóng đích thực dành cho tương lai nằm ở chỗ trao tất cả cho hiện tại."

Camus trải lòng về điều ấy bằng một giọng thơ xót xa trong tiểu luận mang tên "Mặt Trái và Mặt Phải," in trong tuyển tập di cảo tuyệt vời của ông, viết phê bình với giọng văn trữ tình.

Trong một lời cảnh báo tiên tri nhắm vào thói tôn thờ năng suất thời hiện đại — thứ đã cướp đi khả năng hiện diện của chúng ta — Camus viết:

"Đời ngắn lắm, và hoang phí thì giờ là một tội lỗi. Người ta bảo tôi năng động. Nhưng năng động cũng vẫn là hoang phí, nếu trong khi làm ta đánh mất chính mình. Hôm nay là ngày nghỉ ngơi, và trái tim tôi lên đường đi tìm lại nó. Nếu còn một nỗi quặn thắt nào bám víu, thì đó là khi tôi cảm thấy khoảnh khắc vô hình này trôi tuột qua ngón tay như thủy ngân… Lúc này, vương quốc tôi thuộc trọn về thế giới này. Nắng kia và bóng kia, hơi ấm kia và cái lạnh dâng lên từ đáy không gian: cần chi phải hỏi có gì đang chết hay có ai đang khổ, khi tất cả đã được viết trên ô cửa sổ này, nơi mặt trời trải rộng sự tràn đầy của nó như một lời chào gửi đến nỗi thương cảm của tôi?"

Vọng lại lời của chàng trai trẻ Dostoyevsky — người từng thốt lên niềm hoan lạc về ý nghĩa cuộc đời ngay sau khi bản án tử hình được hủy bỏ ("Làm người giữa những con người và mãi mãi giữ lấy phẩm cách ấy, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, không nản lòng, không mất niềm tin," Dostoyevsky viết cho anh trai, "đó chính là cuộc sống, đó chính là sứ mệnh của nó.") — Camus tiếp lời:

"Điều đáng kể là làm người và giản dị. Không, điều đáng kể là chân thực, và rồi mọi thứ sẽ ăn khớp, cả nhân tính lẫn sự giản dị. Khi nào tôi chân thật nhất nếu không phải lúc tôi là thế giới?… Điều tôi mong ước bây giờ không còn là hạnh phúc nữa, mà chỉ đơn thuần là sự tỉnh thức… Tôi nắm giữ thế giới bằng mỗi cử chỉ, nắm giữ con người bằng tất cả lòng biết ơn và thương cảm. Tôi không muốn chọn giữa mặt phải và mặt trái của thế giới, và tôi không ưa sự chọn lựa ấy… Lòng can đảm lớn lao vẫn là dám nhìn thẳng vào ánh sáng cũng như nhìn thẳng vào cái chết. Vả lại, làm sao tôi định nghĩa được sợi dây nối từ tình yêu cuộc sống ngốn hết mọi thứ này đến nỗi tuyệt vọng thầm kín kia?… Dù đã tìm kiếm rất nhiều, đó là tất cả những gì tôi biết."

Từ những suy tưởng ấy, Camus đi tới một nhận định: 'không có tình yêu đời mà không kèm nỗi tuyệt vọng về đời.' Và từ đó, ông tìm ra ba phương thuốc* cho sự phi lý của kiếp người — cùng câu hỏi sinh tử nằm ngay giữa lòng nó."
 
Nguyên Yên phỏng dịch
Nguồn: Nguồn: The Marginalian – Maria Popova
 
*Trong cuộc phỏng vấn năm 1945 với Jeanine Delpech, Camus giải thích ba phương thuốc ông rút ra từ sự phi lý: nổi loạn (chấp nhận phi lý không phải ngõ cụt mà là khởi điểm của phản kháng), tự do (con người phải thành thật và tự do thì mới giao tiếp được với nhau), và đam mê (phải đạt tới sự thấu hiểu, chân thành, và công bằng giữa người với người — "phải làm được điều ấy, hoặc là chết").

Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.