Hôm nay,  

Bí Ẩn Obama

07/09/201000:00:00(Xem: 14643)

Bí Ẩn Obama
Vũ Linh

Obama bất tài, hay duy ý chí đi làm cách mạng"
Trong thời gian gần đây, TT Obama trở thành câu hỏi lớn, một trường hợp đáng để sinh viên chính trị học dùng làm bài nghiên cứu thực tập. Hiện tượng Obama đã được nhiều người coi như là một hiện tượng “sao chổi”, xẹt qua thật mau rồi biến mất. Hay nói theo kiểu Việt Nam ta, như “lửa rơm” bùng cháy thật mạnh rồi tắt ngúm cũng thật nhanh.
Từ trong bóng tối không ai biết đến, ông Barack Obama chỉ cần một bài diễn văn bóng bẩy trong Đại Hội đảng Dân Chủ năm 2004 là đã từ địa vị nghị sĩ tiểu bang Illinois trở thành tổng thống Mỹ, trong vỏn vẹn bốn năm.
Sự kiện này nói lên cái dễ tin ngây ngô của dân Mỹ, nhưng có thể hiện những đặc điểm hiếm có trong con người Obama. Ông là một người “có cái mã”, trẻ tuổi, có tài hùng biện không ai bằng (nói như Mỹ: có thể lên Bắc Cực bán tủ lạnh được) và có vẻ đầy sinh lực, tự tin và đáng tin, biểu tượng của thế kỷ 21. Trái lại với đối thủ John McCain thì có vẻ là người của thiên niên kỷ trước, hay đối thủ Hillary Clinton, có vẻ như là người của chính trường lươn lẹo và tham vọng cá nhân. Ông cũng chứng tỏ là người thông minh, quyền biến, tuy chưa có kinh nghiệm chính trị gì mà đã mau mắn học bài để có câu trả lời thỏa đáng cho mọi câu hỏi của cử tri Mỹ, có đáp số cho mọi vấn đề. Quan trọng hơn nữa, ông liên tục khẳng định là một người ôn hòa, không bè phái, không giáo điều, có đầu óc cởi mở thực tiễn, phục vụ nhu cầu của đại chúng. Và lại là một ứng cử viên da đen: sau Tướng Colin Powell bên đảng Cộng Hòa thời 1996 (mà vì bà vợ lạnh cẳng nên ông rút dù), thì Barack Obama là một hy vọng lớn cho cả nước Mỹ và dân thiểu số da màu.
Tất cả các chính trị gia đều có những câu nói để đời.
Cố TT Kennedy có câu nói để đời (mượn từ... Ấn Độ): "đừng hỏi đất nước đã làm gì cho mình, mà phải tự hỏi mình có thể làm gì cho đất nước". Nhà chính khách Obama cũng có câu làm dân Mỹ mê mệt: "không có nước Mỹ đỏ (Cộng Hòa, bảo thủ) hay nước Mỹ xanh (Dân Chủ, cấp tiến), mà chỉ có Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ". Vấn đề là các chính khách có áp dụng những tư tưởng đó không" Hay chỉ là những khẩu hiệu bóng bẩy che mắt thiên hạ" Dù sao thì câu nói của Obama đã đưa ông vào Tòa Bạch Ốc một cách mau mắn chưa từng thấy trong lịch sử. Và điều đáng thắc mắc hiện nay là có phải chính câu nói đó cũng sẽ đưa ông ra khỏi Tòa Bạch Ốc một cách mua mắn kỷ lục không"
Khi bầu cho ứng viên Barack Obama, dân Mỹ đinh ninh mình đã bầu được một tổng thống có ý định và khả năng mang lại đoàn kết dân tộc, chấm dứt những phân hóa mà họ nghĩ quá nặng dưới chính quyền của TT Bush. Những phân hoá làm tê liệt chính quyền qua những xích mích bất tận giữa Cộng Hoà và Dân Chủ, thả lỏng cho các khối thế lực tư nhân như các tài phiệt, các nghiệp đoàn lộng hành, đưa nước Mỹ từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác. Đó là niềm hy vọng của cử tri Mỹ. "Change We Can Believe In".
Để rồi họ khám phá ra họ đã bầu cho một cái gì hoàn toàn khác với sự mong đợi. Thay vì một tổng thống ôn hòa của “đại đoàn kết dân tộc”, họ thấy một tổng thống phân hóa nhất lịch sử cận đại, bỏ xa TT Bush và TT Clinton về phương diện cực đoan.
TT Clinton là người chủ trương sách lược gọi là “triangulation”, kiểu tổng thống trung dung ở trên “xàng xê" giữa hai đảng cực đoan ở dưới. Ông sẵn sàng thu nạp và thi hành một số sách lược bảo thủ của Cộng Hòa, tiêu biểu là câu nói để đời của ông “thời của đại chính phủ đã cáo chung” ("the era of Big Government is over"), cũng là châm ngôn của phe bảo thủ. TT Bush là người thông qua được một số luật quan trọng như cải tổ giáo dục, luật nội an (Patriot Act), luật giảm thuế, và luật cải tổ Medicare, tất cả với sự hậu thuẫn đáng kể của đối lập Dân Chủ. Dự luật cải tổ An Sinh Xã Hội (Social Security) bị Dân Chủ chống đối, thế là TT Bush bỏ chứ không tìm cách nhất quyết cho thông qua bằng cửa hậu như TT Obama đã cho thông qua luật cải tổ y tế.
Khác với hai vị tiền nhiệm và trái với lời hứa khi tranh cử, TT Obama công khai đứng về cánh thiên tả nhất của đảng Dân Chủ và trở thành tiếng nói chống đảng Cộng Hoà và chống cựu TT Bush mạnh nhất. Nói cách khác ông là một tổng thống của Dân Chủ cấp tiến cực đoan, không phải là tổng thống của cả nước, trong đó có cả khối Cộng Hòa.
Những người ủng hộ TT Obama cho rằng ông đã “làm nên lịch sử” khi thông qua được những luật cải cách quy mô. Làm như thể đây là công trình, thành quả của một mình ông tổng thống kiệt xuất này. Thực tế là với cái đa số mà đảng Dân Chủ có tại lưỡng viện, thì bất cứ tổng thống nào cũng có thể thông qua bất cứ điều luật nào. Xét cho cùng, với cái đa số kiểm soát tuyệt đối cả thượng viện lẫn hạ viện đó mà phải thông qua luật kích cầu với vừa đúng túc số không thừa một phiếu, thông qua luật cải tổ y tế bằng cửa sau, thông qua luật cải cách tài chánh khít nút với đúng ba phiếu đa số, và không dám đưa luật di dân ra trước quốc hội, thì phải nói là thất bại chứ không có gì đáng khoe là “làm nên lịch sử”.
Nếu nói về khả năng lãnh đạo thì TT Clinton và TT Bush đều thành công hơn khi hai ông đã cho thông qua được những dự luật quan trọng trong khi không có đa số tuyệt đối kiểm soát quốc hội như TT Obama. Cuộc bầu cử tháng Mười Một tới có nhiều hy vọng làm mất thế đa số tuyệt đối của đảng Dân Chủ, chúng ta hãy chờ xem TT Obama có còn khả năng “làm nên lịch sử” nữa không.
Phe cấp tiến có thể đổ thừa là phe Cộng Hoà đã có thái độ quá khích chống đối tổng thống bằng mọi giá. Nhưng vấn đề là trong tư thế lãnh đạo cả nước, một vị tổng thống phải có khả năng huy động được hậu thuẫn của cả nước, kể cả một phần của khối đối lập.


Phe cấp tiến cũng vẫn tiếp tục đổ thừa mọi chuyện lên đầu TT Bush. Vấn đề là đa số dân Mỹ đã tin tưởng vào lời hứa và khả năng của ứng viên Obama để sửa đổi mọi chuyện nên mới bầu cho ông, và câu hỏi là trong gần hai năm qua TT Obama đã làm được gì ngoài chuyện ngồi đổ thừa. Nếu làm tổng thống mà chỉ cần biết ngồi xỉa tay đổ lỗi cho người này người kia, thì chính kẻ viết này hay bất cứ một học sinh trung học nào cũng có dư thừa khả năng làm… tổng thống!
Khối cấp tiến cũng mạnh mẽ ủng hộ TT Obama, ca ngợi ông như một người can đảm, một người hùng dám chống lại tài phiệt tư bản. Họ ca tụng chức năng của một Nhà Nước Obama độ lượng, bao che cho người nghèo, người bé cổ thấp họng. Không có Nhà Nước bảo vệ thì cả nước sẽ bị bóc lột tận xương tủy, thậm chí tru diệt bởi các tập đoàn quyền lợi tư nhân tham lam không đáy. Nghe hao hao như Tư Bản Luận của Karl Marx! Dân Việt tỵ nạn đã trốn chạy tới Mỹ vì những lý luận kiểu này rồi, bây giờ lại phải nghe lại. Mà có người lại khen hay!
Một chuyện tréo cẳng ngỗng không kém là chính quyền Obama lúc nào cũng phô trương hình ảnh của một chính khách thanh liêm chống tài phiệt, chống các khối thế lực dùng tiền mua chuộc chính khách, lũng đoạn chính trị. Nhưng chính quyền đó cũng cố lờ đi chuyện ứng viên Obama khi tranh cử tổng thống đã nuốt lời hứa không nhận tiền yểm trợ của tư nhân, để có dịp nhận số tiền vô tiền khoáng hậu 700 triệu yểm trợ của tư nhân, hai phần ba số tiền đó là từ tài phiệt Wall Street, các tỷ phú George Soros, Warren Buffett, các đại tổ hợp Goldmann Sachs, Fanny Mae, Freddie Mac, các ông trùm nghiệp đoàn và khối thế lực!
Chính sách cấp tiến cực đoan của TT Obama, trái với hình ảnh ôn hòa, đại đoàn kết dân tộc của thời còn tranh cử, cùng với các chương trình vung cả ngàn tỷ ra cửa sổ, khiến cho dân Mỹ mau chóng thức tỉnh. Hiện nay TT Obama chỉ được hậu thuẫn của một tỷ lệ càng ngày càng ít của dân Mỹ. Sự hậu thuẫn của TT Obama từ ngày ông tuyên thệ nhậm chức đến giờ, một năm rưỡi sau, đã rớt nhanh hơn bất cứ tổng thống nào của lịch sử cận đại Mỹ, hơn cả các tổng thống bị chê là bết bát nhất như Nixon, Carter, hay Bush 43. Những thăm dò mới nhất cho thấy sự hậu thuẫn này suy giảm trong tất cả mọi tầng lớp quần chúng, từ khối da đen, da nâu đến da trắng, từ giới giàu đến nghèo, từ nam giới đến nữ giới, thành thị đến thôn quê, bảo thủ đến cấp tiến, trẻ đến già. Đại khái, trong 10 người trước đây ủng hộ TT Obama thì đã có ba người đổi ý kiến.
Báo “phe ta” Time phải nhìn nhận dân chúng đã có một cảm giác thất vọng, gần như bị phản bội, và bây giờ cảm thấy đã không biết gì về ông tổng thống họ đã bầu, không ngờ ông ta đang mang đất nước này đi quá xa về một hướng mà họ không muốn. Thăm dò mới nhất của đài “phe ta” CNN cho thấy gần 60% dân Mỹ cho rằng sự bành trướng của Nhà Nước Obama trực tiếp đe dọa tự do cá nhân của họ.
 Trong khi đó, bà ký giả cấp tiến Maureen Dowd viết trên New York Times đã bênh vực TT Obama là “một người có lý trí, cai trị một quốc gia hết sức không lý trí” (a rational man running a most irrational nation). Dưới con mắt của khối cấp tiến, không ủng hộ Obama chỉ có thể là kỳ thị dân da đen (như nhà báo Thomas Friedmann đã khẳng định), đầu óc thiển cận hay nịnh bợ dân da trắng (như vài độc giả đã tố kẻ viết này), hay mất lý trí (như bà Dowd nhận định).
Có lẽ bà Dowd có lý phần nào. Dân Mỹ quả là đã mất hết lý trí, nhưng không phải mới đây, mà từ ngày họ bầu cho ông tổng thống của Hy Vọng hão huyền năm 2008.
Trái ngược với lý luận của bà Dowd, nhiều chuyên gia chính trị thắc mắc không biết TT Obama thực sự là người “có lý trí” hơn người hay không.
Một ví dụ điển hình là dự luật cải tổ y tế. Cuộc tranh cãi về vấn đề này gây sôi nổi trong suốt mùa hè năm ngoái. Thăm dò dư luận cho thấy từ 55% đến 60% dân Mỹ chống. Vậy mà TT Obama vẫn bất chấp cho thông qua, kể cả bằng cách đi cửa sau.
Gần đây hơn là vụ xây đền Hồi giáo tại Nữu Ước. Đây là một vấn đề địa phương chẳng mắc mớ gì mà tổng thống phải can dự và lên tiếng. Tự nhiên tổng thống thuộc phe Dân Chủ lại lên tiếng ủng hộ một quan điểm mà 70% dân Mỹ chống đối. Đặt các ứng viên đảng Dân Chủ trong thế kẹt cứng đến độ cả lãnh tụ đa số Dân Chủ tại Thượng Viện Harry Reid lẫn Chủ Tịch đảng Dân Chủ Howard Dean đều phải lên tiếng phản bác lại ý kiến của tổng thống, hy vọng tránh đại họa trong kỳ bầu cử tới.
Cũng có một cách khác để hiểu hành động của TT Obama.
Cách đây ít lâu, trả lời phỏng vấn của báo chí, TT Obama tuyên bố ông không màng bị thất cử năm 2012, sẵn sàng chấp nhận làm tổng thống một nhiệm kỳ, miễn là thực hiện được lý tưởng. Hầu hết các tổng thống hay chính khách đều hay tuyên bố như vậy, và ai cũng hiểu là họ không thành thật cho lắm. Nhưng trong trường hợp TT Obama, có lẽ ông đã thành thật khi nói câu này. Những hành động bất chấp dư luận, đi ngược lại quyền lợi của đảng, có khi mang tính “liều mạng” của ông, dường như chứng minh ông là một tổng thống có tham vọng cực lớn, lớn hơn tám năm của hai nhiệm kỳ rất nhiều.
Hình như ông có tham vọng làm chuyện để đời, lợi dụng cơ hội hiếm có để xoay chuyển hẳn xã hội qua hướng tả và để lại dấu ấn cho vài thế hệ tới là ít. Một hay hai nhiệm kỳ không quan trọng. Hay là TT Obama là người của một “thế lực hậu trường” nào đó, đưa ra để thực hiện một “dự án” vĩ đại chuyển hướng đất nước, không cần biết vấn đề một nhiệm kỳ hay hai nhiệm kỳ" Nếu đúng như vậy thì TT Obama là một người thật đáng sợ. Và như Time đã viết, sẽ còn thêm rất nhiều người cảm thấy thất vọng hay bị lừa trong những ngày tháng tới.
Tóm lại, có hai cách giải thích những việc TT Obama đang làm: một là ông hành động không lý trí, bất tài, không biết mình phải làm gì và đang làm gì; hai là ông nhất quyết chuyển hướng xã hội bất chấp những thiệt hại ngắn hạn cho cá nhân và cho đảng Dân chủ. Chuyện gì đang xẩy ra, không ai biết rõ. (5-9-10)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng mỗi Thứ Ba trên Việt Báo.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.