Hôm nay,  

Thư Thăm Chú...

15/08/201500:00:00(Xem: 13663)
Hòa Lan tháng 08 năm 2015

Chú thương mến,

Đã từ lâu lắm con không về thăm Chú, cũng không biên thư, thỉnh thoảng có gọi điện về thăm, nhưng nói thì liên miên, nhớ chỗ nào thì nói chỗ đó, nhớ ai thì hỏi thăm, kể như không có đầu có đuôi. Nay có thời gian, con biên thư về thăm Chú, vì trong họ nội nhà chỉ duy Chú còn mạnh khỏe và minh mẫn, lại hiểu tin tức tình hình Việt Nam và thế giới nên cũng tiện cho con khi ghi đôi hàng tâm sự, vì tâm tình với người đối diện hiểu mình thì vẫn hơn là kẻ chỉ ỡm ờ làm như hiểu hết mà thực tâm không nghe được, hay hiểu không cặn kẽ ngọn nguồn.

Con xa Việt Nam lâu lắm rồi, mãi từ năm 1983, 32 năm rồi, từng ngày vẫn mỏi mong chờ đợi ván cờ Việt Nam ngã ngũ để trở về. Thứ nhất là thăm lại quê hương, nơi mà từ thủa nhỏ có nhiều nơi, nhiều vùng con chưa biết, vì còn nhỏ đến không được. Thứ nhất như là Hiệp Định 1954 Paris ký kết, chia đôi nước Việt Nam làm hai, miền Bắc thuộc về Cộng Sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo, miền Nam theo chế độ tự do tư bản, từ tháng 7-1954 con theo ca mẹ chạy vô miền Nam tỵ nạn cộng sản.

Khi di cư vào Nam thủa còn thiếu thời cũng loạn lạc liên miên, vùng xa, vùng sâu thì chưa có dịp đến cũng vì chiến tranh, ngày thì Quốc Gia đêm về Cộng Sản, nên ngay trong miền Nam Việt Nam con cũng chưa biết hết, chỉ biết một số thành thị gần và những nơi trước đây có phục vụ trong quân ngũ. Đó là lý do, ngay tại miền Nam con cũng chưa biết hết, nên ra đi cũng mong sớm có ngày về, để thăm lại chốn xưa, nơi đó là quê hương nơi chôn rau cắt rốn của mình, nơi đó còn nhiều người thân thương ruột thịt, như Chú như Cô ruột của mình hay bao người bên ngoại còn sống mà con biết họ bằng cách này hay cách khác. Đó là lý do con luôn gắn chặt với quê hương xứ sở Việt Nam. Nhưng chờ và chờ đã từ lâu, cộng sản Việt Nam đến nay vẫn còn tồn tại, chưa tàn. Nhờ nghe tin tức mỗi ngày, chiến tranh tại vùng đất Việt Nam trên bàn cờ thế giới sắp hạ màn. Vì con nghĩ đến vị tướng độc nhãn Do Thái vào khoảng trước năm 1975 có đến Việt Nam, ông có phát biểu: “muốn thắng Cộng Sản tại miền Nam thì phải để Cộng sản thắng trước đã”. Con suy nghĩ như vậy, cộng với tình hình thế giới hiện nay, nhất là Hội Các Cựu Chiến Binh Hòa Kỳ mới họp mặt tại Mỹ sau 40 năm chiến tranh Việt Nam. Con nghĩ sắp về thăm Chú được trong những ngày tháng sắp tới. Chỉ mong ngày đó Chú còn khỏe mạnh để Chú cháu hàn huyên cho vơi đi những ngày nhớ nhung xa quê hương.

Từ lâu lắm Chú vẫn thường hay hỏi con mỗi lần có dịp điện thoại. Cộng Sản ngày nay đã dễ thở hơn sao con không về, những người cao niên trong họ hàng thì đang dần trở về với ông bà tổ tiên, đến khi con về thì con ai đâu. Những câu hỏi, những lần nói chuyện qua điện thoại mà lòng đau. Nhưng trở về vẫn chưa ổn. Mỗi khi nhớ đến chuyện phải trốn đi, và bây giờ nếu phải trở về khi người Cộng Sản còn đó thì con không thể yên ổn mà trở về nhìn họ, cũng những con người đó mà ngày trước con đã trốn chui, trốn lủi tìm đường vượt thoát và trốn đi. Dù ngày nay họ có thay đổi, nhưng sự thay đổi của họ có khác ngày trước là cầm tiền có hệ thống hơn ở cửa khẩu sân bay, không chỉ chửi bới rầm rộ như ngày trước là đồ: “phản bội tổ quốc, đồ điếm dĩ, cặn bã của xã hội”, họ thay đổi lời nói, khẩu hiệu để ru ngủ những người nhẹ dạ dễ tin, về và đem tiền về cho xã hội Việt Nam của họ. Mặc cho dân tình phần đông nghèo khó, nhất là những người nghèo khó nhất sống trên quê hương Việt Nam.

Hoàn cảnh của con khi bỏ nước ra đi cũng giống như bao cảnh ngộ khác, ngoài tiền bạc đóng cho chủ thuyền thì không còn thứ gì khác trên người, chiếc quần ngắn và chiếc áo thun, cha con bồng bế đóng vai như đi làm cá ngoài bờ biển mới hòng trốn thoát được bọn công an canh gác ở các bờ biển có đường ghe chạy ra biển lớn. Hem hễ, lầm lũi, thấy công an cộng sản như thấy tà ma. Nhưng chuyến đi của con may mắn qua mặt được bọn công an bắt người không thương tiếc, chỉ bốn ngày và bốn đêm sau thì con được tàu Hòa Lan vớt ở biển đông. Được vớt lên từ biển đông con chẳng có đồng nào dính túi, không tiền, không vàng chỉ có một trái tim yêu tự do. Trong thời gian ở trại tỵ nạn Singaspore con phải biên thư cầu cạnh thân nhân ở Mỹ gởi gấp sang cho con 100 đô-la để giải quyết những nhu cầu cấp bách về đời sống để đi định cư ở nước thứ ba. Khi an toàn bước lên trại tỵ nạn con và các cháu hoàn toàn nhờ cậy vào Cao Ủy Tỵ Nan một cơ quan nhân đạo vô vị lợi, không giống hoàn cảnh bên nhà mỗi khi có cứu trợ thiên tai hạn hán mà bạo quyền đứng ra tổ chức ăn chận của các nạn nhân.

Ngày đó, thật đúng là trên răng dưới.. d (đúng như ngôn ngữ Việt Nam ta thủa xưa thường nói). Ngoài ra không có một vật gì mang theo gọi là của Việt Nam cả ngoài trái tim yêu tự do. Nhờ yêu tự do con đã có được tất cả. Có tiền đủ sống, có bảo hiểm sức khỏe, có nhà ấm áp và tiện nghi để ở, con cái được đến trường học hành tử tế, trong những môi trường thuận lợi thân ái và công bằng. Bởi vậy sau 4 năm gia đình con đã đoàn tụ, 20 năm sau cháu của ông tốt nghiệp đại học y khoa. Nếu ở trong xứ Việt chắc chắn là con của con không thể trở thành bác sĩ vì con không hồng đủ để cho cháu có cơ hội ngửng đầu lên. Hiện 32 năm sau cháu của ông đã trở thành bác sĩ nhà của người bản xứ tại xứ Hòa. Con cứ cho đây là một giấc mơ, giấc mơ đi tìm tự do, giấc mơ để lớp trẻ Việt Nam thành tài nơi xứ người. Nếu ở trong nước, giấc mơ và sự thành danh đó không thể có được.

Chú ạ! Xấu hổ lắm, người tỵ nạn ở nước ngoài phần đông định cư ở các quốc gia tiến tiến, kỹ thuật cao, họ có hãng máy bay Boing, có tàu ngầm, có xe tăng, có hãng làm súng, đạn, có những hãng xe hơi như: Meceldel, BMW, những hãng xe hơi của Pháp, của Ý, của Thụy Điển, của Nhật hay của Nam Hàn mà Chú thấy chạy trên các xa lộ Việt Nam, hay hãng đồ uống như Cocacola của Mỹ, bier Heineken mà Việt Nam ta tại các bàn tiệc nào của lễ Tết con cũng thấy, qua những phương tiện truyền thông. Còn Việt Nam mình cái đinh vít nhỏ tý cũng không làm được mà phải nhập cảng từ nước ngoài, 20.000 Kỹ sư tiến sĩ của mình không có việc làm, người ăn nhậu thì đầy các hàng quán, sáng, trưa, chiều tối, nói dóc “nổ” thì ghê lắm, càng viết cho Chú càng xấu hổ.

Người tỵ nạn Việt Nam ở hải ngoại có mặt từ trước ngày 30-04-1975, ròng rã 15 năm sau cho đến năm 1990 thì các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á đóng cửa hẳn, thủa đầu chỉ có người miền Nam, sau này cả Nam lẫn Bắc đều vượt biên tỵ nạn, vì không chịu nổi sự kìm kẹp của chế độ cộng sản. Vượt biên đến các nước xin tỵ nạn, đại đa số là các nước tiên tiến, xã hội của họ đã ổn định, người Việt Nam mới đến, nhất là sau này có nhiều người miền Bắc Việt Nam, đã sống lâu năm trong chế độ cộng sản, có người 20 năm, 30 năm, coi như hoàn toàn thủa thiếu thời được cắp sách đến mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa, chịu một nền giáo dục như hiện nay ở Việt Nam, chỉ biết hồng hơn chuyên, chỉ biết thủ đoạn vặt, nên phần đông chỉ muốn trốn tránh lao động, muốn không làm mà lại muốn thụ hưởng, bất kỳ quyền lợi nào của người bản xứ. Đi làm thì việc gì cũng chê, bằng cấp thì không có, làm công nhân thì chỉ tìm cách lấy của hãng xưởng, họ có nghờ đâu, các xưởng máy đều có gắn camara kiểm soát 24/24. Vì họ quan niệm lấy của hãng xưởng là lấy của nhà nước, không có tội, hơn nữa mình không ăn cắp kẻ khác cũng ăn cắp, Cộng sản đã đào tạo ra lớp người như vậy. Đó là lý do Chú nghe tin tức thấy ở Nhật, ở các nước có người tỵ nạn, nạn căn cắp vặt ở các siêu thị, việc buôn bán bạch phiến, sau này thì còn trồng bạch phiến ở các nước cứ nhân rộng ra, vì con người không quan tâm đến tội.

Đó là ảnh hưởng một nền giáo dục, “nói dối riết nó thành sự thật”, hơn nữa, sống trong một xã hội như Việt Nam ta hiện nay, cán bộ nào cũng tham nhũng hối lộ, cán bộ từ Xã, Huyện, Tỉnh ai cũng giầu và giầu tắt, ai cũng dựa thế để làm ăn buôn bán kiếm tiền, cho nên cả xã hội bị ô nhiễm. Dân số tăng, học hành nhiều, ra trường không chạy được việc làm, cho nên có tới 20.000 tiến sĩ nước ta thất nghiệp, chưa kể những cán bộ tại chức, học ỡm ờ mà cũng có bằng cấp đại học, thử hỏi xã hội sao không ung thối, một người trẻ có bằng tiến sĩ, thất nghiệp lâu năm, không lẽ đi làm cu-ly, mà ở nhà lâu ngày thì đói. Từ đó, Chú nhận ra sao ở nước ngoài người Việt Nam có mặt mà nhiều thành phần thế.

Ở xứ tự do dân chủ, học hành tử tế, có bằng cấp là có việc làm xứng đáng với văn bằng mình có được như cháu của ông ở xứ này. Người bản xứ có trộm cắp ở siêu thị nhưng không nhiều, thời của khoa học tiên tiến, tinh vi lắm Chú ạ, cầm đồ chưa rà qua máy để tính tiền ra khỏi cửa là nó báo động ngay. Cho nên các vị có tiếng tăm trong bộ ngoại giao, hay các chuyên viên, nhất là chuyên viên của Hàng Không Việt Nam, ăn cắp, chuyển hàng lậu, chuyển tiền lậu như ở Úc, buôn bán hàng ăn cắp là bị chiếu cố ngay. Bởi vậy nếu Chú ở nước ngoài, đi vào các trung tâm buôn bán, gặp các đồng hương quen thói coi của người khác là của mình, Chú sẽ rẽ, tránh sang đường khác để đi ngay, viết cho Chú là cháu đã gặp rồi. Hy vọng Chú đọc thư này thì hiểu về người tỵ nạn ở ngoài Việt Nam nhiều hơn ở nhiều lãnh vực. Và hậu quả nền giáo dục của cộng sản ở trong nước, đã đào tạo ra lớp người có máu tham lam trộm cắp, vì mất ý thức về tội lỗi, vô cảm với với người bên cạnh.

Nhiều lần, nhiều lúc xấu hổ vô cùng dù rằng mình đến những nơi, những chỗ được cho là rất vẻ vang, vì con của mình, giới trẻ Việt Nam ở hải ngoại học hành rất khá. Những lễ tuyên dương về người trẻ Việt Nam như vậy mà thực chất ở trong nước thì đúng là hết thuốc chữa khi người nước ngoài nhận định về dân tộc mình. Hết làm tôi mọi cho Tàu, tới Pháp, rồi Nhật và ngày ngay tới tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh rước về. Toàn là tư tưởng của người, vũ khí, súng đạn của người đem về, nhận làm của mình để hành hạ, đầy đoạ giết chính dân tộc mình.

Trước cái ngày ấy 30-04-1975, một số đông dân chúng ở miền Nam có liên hệ với Quân Cán Chính VNCH, có làm trong các cơ sở của quân đội Mỹ thì ồ ạt chạy khỏi miền Nam Việt Nam, đại bộ phận còn lại sau này mới tìm đường vượt biên vượt biển. Sau 30-04-1975 những người ở các vùng xa ven biển tìm đường để trốn chạy dễ hơn vì họ có phương tiện trong tầm tay. Họ thuộc thành phần học ít, làm nghề biển kể cả dân miền Bắc sau này. Sở dĩ cháu kể chi tiết để Chú nắm rõ. Người tỵ nạn thật cũng có nhiều thành phần, có những vùng người dân đi vượt biển cả làng, qua Mỹ họ cũng sống quây quần bên nhau, gắn bó trao đổi với nhau gần như bằng tiếng quê hương, ở những vùng này họ không cần học tiếng Mỹ, ngoại trừ lớp trẻ. Cho nên Chú không lạ, tại sao có những lớp người lớn tuổi, di cư tỵ nạn đến 2 lần trong đời (l954-1975) mà đến xế chiều lại về Việt Nam. Có khi họ về để được chết trên quê hương, để được chôn bên cạnh ông bà tổ tiên, có được đám an táng xôm tụ hơn người. Viết đến những trường hợp này thì Chú hiểu ra. Tại sao có nhiều người nắm giữ những chức vụ quan trọng then chốt thủa xưa. Nhiều ông bà ca sĩ nổi tiếng thủa nào nay lại muốn về trong nước hát. Sở dĩ họ làm vậy vì giới trẻ ở hải ngoại không chuộng nhạc xưa mấy, giới cao niên thì còn thích, nhưng già lão cả rồi, không còn nhiều, mà giới ca hát thì thích khi mình hát có nhiều người nghe, nên họ phải luồn lách để về, giới này cũng không nhiều. Nhưng là những hiện tượng mà thời gian gần đây vài năm chú có thấy.

Một hiện tượng nữa con cũng viết để Chú nắm được, đó là hiện tượng những người đang cầm quyền hiện nay ở Việt Nam, mỗi khi họ viếng thăm các nước tự do dân chủ, thường là họ hay phải đi ngõ sau mà đến, vì nước nào cũng có người Việt Nam Tỵ nạn cả, mà những lớp người này thì phần lớn là chống lại bọn cầm quyền hiện nay, nên họ biểu tình chống đối, mà họ thường biểu tình ở lối vào với khí thế cờ vàng ba sọc đỏ (cờ cũ của miền Nam thủa trước mà chú cháu mình thường chào kính vào mỗi sáng thứ hai) và đưa những nguyện vọng của họ đạo đạt lên chính quyền sở tại, đòi hỏi vị khách mời phải như thế này, thế nọ, nhất là phải tôn trọng tự do dân chủ. Đứng ở vị thế ngoại giao, mỗi khi mình đến nước người mà bị chính người dân của chính mình đứng lên chống dối thì khó mà nói năng với vị chủ nhà, không biết ở bên nhà, cái loa tuyên truyền của CSVN đưa tin lên tivi cho dân chúng trong nước xem có trung thực hay lại lừa dối người ở trong nước, vì ngón đòn tuyên truyền náo khoét của CSVN đổi trắng thay đen cách nào cũng được, thay vì trông thấy hình ảnh người biểu tình cầm cơ vàng ba sọc đỏ, thì vẽ bàn tay họ cầm cờ đỏ sao vàng.

Mới đây nhất là ngày 08-07-2015 Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng được tiếp trong tòa nhà trắng với Tổng Thống Obama. Đứng ở vị thế không bị kìm kẹp nhìn về Việt Nam mỗi khi có phái đoàn cao cấp viếng thăm nước ngoài thấy không vui tý nào, vì chính những nạn nhân trốn đi tỵ nạn biểu tình phản đối khi mình đến thì làm sao vị chủ nhà niềm nở tiếp mình cho trọn. Họ vui vẻ niềm nở chẳng qua vì quyền lợi của quốc gia họ, thời nay và thời xưa cũng giống nhau ở điểm này, quyền lợi quốc gia của họ là tối thượng, dù có phải đón rước cửa trước hay cửa sau, có phải trải thảm hay lính chào họ cũng làm, miễn là được việc. Mong sao người mang danh là đại diện của các tiểu cường có được sự khôn ngoan mà đối xử.

Có tự do sung sướng lắm Chú ạ, nhất là xã hội cháu sống, xã hội ổn định, đồng tiền ổn định, lương thực không bị ô nhiễm và giá cả cũng ổn định, do đó đời sống và lương hưu bổng cũng ổn định. Cháu đã về hưu được 5 năm, nhưng hàng năm vẫn có tiền để đi nghỉ hè, cháu mới đi Portugal (Fatima nơi Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ năm 1917) về, ý cầu nguyện xoay quanh chủ đề, cầu cho các gia đình nhất là các gia đình Việt Nam ở hải ngoại. 32 năm sống ở hải ngoại được hơn một tuần sống ở xứ ấm giống như Việt Nam ta, ban ngày khoảng 30 độ, sung sướng vô cùng, không phải mặc áo ấm ra ngoài đường, được đi dép lè phè, ăn uống thì rẻ so với Hòa Lan của cháu. Cuộc đời của mỗi người chúng ta gắn liền với vận mệnh của dân tộc mình, sinh trong một quốc gia nghèo, chậm tiến, hết làm nô nệ cho Tàu, cho Pháp, cho Nhật, rối đến nô lệ cho Đảng CSVN do Hồ Chí Minh rước về, đầy đoạn cả dân tộc mình từ gần 100 năm qua. Ngày nay nhờ có tự do, ngày nào cháu cũng được nghe đài RFI và RFA, đài Vatican, đài Chân Lý Á Châu từ Phi Luật Tân, và các đài khác, nếu muốn. Mỗi ngày xem tin tức trên tivi, thấy, nghe nhiều người tỵ nạn từ các châu lục khác đến Âu Châu và tìm cách vào Anh mà lòng quặn đau. 32 năm trước mình cũng giống như họ, may là được cứu giúp, chứ không là chết chìm ở biển đông rồi, biết ngày nào là ngày giỗ. Càng xem, nghe tin tức mỗi ngày thì càng đau lòng.

Người Việt Nam mình vẫn đi vượt biên đấy Chú ạ, họ đi lậu, đi cũng tốn cả 10.000 đô-la. Nhưng bị Úc trả về vì coi họ là tỵ nạn kinh tế, Chú có nghe tin đài RFI ngày 02-08-2015 thì sẽ rõ. Còn thủ tướng Anh mới qua Hà Nội họp với thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, sẽ viện trợ cho Hà Nội để lập trại giam giữ gần Hà Nội để giữ những người vào Anh bất hợp Pháp để làm lậu, trồng bạch phiến lậu, làm việc như tôi mọi cho tụi bè đảng Việt Nam đưa lậu người vào Anh, số này cả mấy ngàn người. Độc nghe tin mỗi ngày mà ớn cho người Việt Nam mình, toàn vượt biên lậu đi làm mướn, làm lao nô cho người, phụ nữ thì đi làm điếm, thật là ô nhục cho người mình. Vì đâu nên nỗi ấy! Ở xứ người, những người ra lãnh đạo đất nước phải là giới trí thức có học, còn bọn lãnh đạo ĐCSVN thì từ nhỏ đã theo Đảng như thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng y tá quèn mà lên làm thủ tướng, đồng đảng thì cũng rứa, nên chỉ biết vơ vét, tham nhũng. Xã hội Việt Nam hiện nay chênh lệch giữa người giầu và người nghèo quá xa. Đâu có ổn định, công bằng như xã hội cháu đang sống, cho nên cháu không muốn về Việt Nam thăm Chú, vì về thăm Chú và thân nhân của mình thì sẽ đụng mặt bọn Cộng Sản Việt Nam, mà đụng bọn này thì cháu tởm gớm vô cùng “nhổ ra rồi lại liếm lại”thì tởm gớm lắm.

Việt Nam được nói là nước đang phát triển, nhưng từ bên ngoài nhìn về thì không phải vậy đâu Chú ạ. Đường chưa làm thì đã phải tu bổ, dân thì cứ mỗi ngày một tăng nhanh mà bệnh viện, trường học không được xây thêm theo tỷ lệ, thành thử bệnh viện thì thiếu gường nằm cho bệnh nhân, nên tình trạng tham nhũng hoành hành khủng khiếp lắm, cái nạn có bệnh, gặp tai nạn phải vào bệnh viện biết ra thật khủng khiếp nếu ở Việt Nam. Có con nhỏ nhập học là một gánh nặng cho các cha mẹ trẻ, nhất là những người nghèo, vì thiếu trường, không cho tư nhân kinh doanh trong ngành giáo dục, nhất là các tôn giáo, họ chuyên nghiệp về những vấn đề này. Nhưng lại cho các nước tư bản mở trường tư, Đảng muốn độc quyền giáo dục mà, nhất là giáo dục lớp người trẻ.

Địa bàn Chú đang ở là địa bàn gần sân bay Long Bình, một sân bay mới sắp được thành hình, dù nằm trên địa bàn gần nơi ở của gia đình mình, nhưng Chú có biết tại sao đảng quyết thành lập sân bay này không? Thực tế sân bay Tân Sơn Nhất còn thừa khả năng khai thác, nhưng đã bị bọn đảng viên cắm dùi chiếm đoạt nhiều khu vực từ thủa mới từ Bắc vào Nam năm 1975 làm cho nó trở nên chật hẹp, tháo các trở ngại này thì đụng đến các đảng viên kỳ cựu. Làm sân bay mới thì phải giải toả, đền bù, tài khoản không có, phải đi vay, mượn của các nước tư bản, mà vay thì phải trả, đời con trả chưa xong thì đến đời cháu, chắt. Người trong nước đâu có biết rằng hiện nay người Việt Nam mới chào đời đã mắc nợ rồi, nợ hàng chục ngàn đô la trở lên, có khốn khổ không? Mà chương trình làm sân bay Long Bình sẽ còn kéo dài vì tham ô, hối lộ, nhờ công trình lớn lao này mà nhiều cán bộ các cấp giầu lên mấy hồi do tham nhũng, phải có công trình mớt rút ruột được. Tương lai rồi Chú biết, nhiều dự án chưa làm xong đã hỏng, cũng giống như cầu, đường từ trước đến giờ. Chỉ tội cho thế hệ mai sau nai lưng trả nợ. Các chế hộ tư bản họ quản lý rất tinh vi tài sản công, nhất là tiền thuế của dân đóng góp vào.

Lượng khách du lịch của Việt Nam không tăng cao, từ trước tới giờ có tăng là do mưu mẹo của Đảng CSVN, mở cửa cho bọn Việt Kiều đã bị lừa 5, 7 lần rồi về Việt Nam tìm người để làm vợ, lấy để đi, qua các nước tư bản thời gian sau đến 90% họ bỏ, vì những thành phần đó chẳng ra gì, học ít, không có nghề nghiệp chuyên môn cao. Những liên hệ về bên nhà cứ ngày thưa dần, trong số này kể cả những người đi vì lao động, du học. Còn khách của các nước phương tây thì họ đi một lần đã đủ biết Việt Nam rồi, thứ đi nhiều lần vì các dịch vụ làm ăn, buôn bán thì không nhiều. Cho nên chuyện làm phi trường mới Đảng viên cộng sản họ thích thì họ làm. Chú biết rõ là Quốc Hội của CSVN cũng toàn Đảng Viên cả. Lập Pháp, Tư Pháp, Hành Pháp là của Đảng cả, trên thế giới này chỉ có Việt Nam ta có độc đảng duy nhất mà thôi. Và cái duy nhất nữa ta cũng nên biết là chỉ có Việt Nam mới có chủ nghĩa xã hội thòng thêm câu kinh tế thị trường, cho nên nó mới lắm rắc rối, đã 40 năm thống nhất đất nước, hòa bình mà xứ sở vẫn không phát triển nổi, so với Cộng Hòa Liên Bang Đức hòa bình thống nhất mới có 25 năm nay.

Chuyện Chú cháu mình kể ra thì bất tận, chỉ bao lâu nữa không còn chế độ Cộng sản tại Việt Nam, cháu sẽ về thăm Chú, ngủ lại vài đêm tâm sự mới đủ thời gian. Thời gian dài hay ngắn còn lệ thuộc vào bàn cớ thế giới, vì nhận ra, Việt Nam thuộc vào một đất nước đang phát triển, nhỏ, hết lệ thuộc nước này đến nước khác. Chỉ mong dân tộc mình có một hàng ngũ lãnh đạo, có học hành tử tế, khôn ngoan để đưa đất nước tới Tự Do Độc Lập thật sự, không bị chiến tranh hay các thế lực của các cường quyền dòm ngó. Mong Chú sống khỏe đến ngày đó để Chú cháu mình hội ngộ. Xin cho cháu gởi lời thăm các em và các cháu nội ngoại của Chú.

Kính thư.

Một người cháu ở phương trời xa.

Bùi Văn Đỗ

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.