Hôm nay,  

50 năm sau “Sổ tay” viết lại (Kỳ 5) – Phản bội thông minh

02/05/202500:00:00(Xem: 5339)
 
Nửa thế kỷ trước, nước Mỹ đã không tôn trọng lời cam kết giúp VNCH chiến đấu tới cùng trước làn sóng xâm lăng của Cộng Sản Thế Giới. Nhiều người, cả Việt lẫn Mỹ, cũng như dư luận thế giới, đã gọi đây là một sự phản bội đáng xấu hổ. Nhưng có học giả Mỹ đã khẳng định: “Sự phản bội của nước Mỹ đối với Nam Việt Nam là một trong những điều thông minh nhất mà nước tôi đã từng làm”.
 
Picture3
Trên đây là hình chụp lại bài báo ba cột, trang nhất báo The Washington Post, số phát hành đề ngày Thứ Sáu, 17-5, 1996, với tựa chính: Một Gia Đình Thành Công qua Bằng Cấp tựa phụ: Tất cả Sáu Con của Người Việt Nhập Cư Tốt Nghiệp Từ U-Va.
 
Xin được trình bầy đầu đuôi câu chuyện. Vì chuyện có liên hệ trực tiếp tới gia đình người viết, khi viết lại, cảm thấy một chút ngại ngùng; giống chụp hình “tự sướng” để khoe bạn bè. Nhưng, vì chuyện cũng liên hệ tới nhiều người, xưa và nay, nếu bỏ qua trong “mùa kỷ niệm”, cũng cảm thấy thiếu sót, nên đành kể lại. Nếu có điều chi sơ sót, mong được bạn đọc cho biết.

Chúng tôi có sáu con, khi tới Mỹ vào mùa Hè 1975, con lớn nhất 13 tuổi, con nhỏ nhất mới được 6 tháng. Được một xứ đạo ở Alexandria, Virginia, ngoại ô Thủ Đô Washington, bảo trợ. Trong gần hai năm đầu, chúng tôi đã làm đủ thứ công việc để gây dựng lại cuộc sống. Nhà tôi; vốn là giáo sư trung học ở trường Trưng Vương Sài Gòn; ngoài việc săn sóc đàn con mình, nhận coi thêm một vài đứa trẻ tại nhà. Tôi làm cho Colonial Parking, một hãng có nhiều nhà, và bãi đậu xe tại Washington,D.C.; lúc đầu làm những việc vặt, như nhặt rác, cắt cỏ chung quanh bãi đậu xe, nửa năm sau “lên chức” car attendant, lái xe của khách đậu vào chỗ, rồi lấy xe trả khi khách trở lại; lương tối thiểu $2,50 một giờ. Sau một thời gian học việc, nhà tôi làm kỹ thuật viên điện tử (electronic technician), cho một hãng sản xuất đồ điện tử. Từ đầu năm 1977, tôi kiếm được việc khá hơn, tại hãng Xerox.

Trong khi ấy, các con thấy bố mẹ cực nhọc, cố chăm chỉ học hành. Lúc đầu, hơi vất vả, sau một vài niên khoá, cũng bắt kịp bạn bè cùng lớp. Chúng tôi chia nhau, nhà tôi làm ca ngày, tôi làm ca chiều; từ 4 giờ chiều tới nửa đêm. Lúc nào cũng có một trong hai người ở nhà với bọn trẻ. Các con giúp đỡ lẫn nhau, cùng lớn lên; cùng vào một trường trung học, cùng được nhận vào hội “Học Sinh Danh Dự” (Honor Society), và cuối cùng, tất cả sáu anh chị em cùng được nhận vào Đại Học Virginia (University of Virginia: UVA). Đại Học này đã được Tổng Thống thứ ba của Hoa Kỳ, Thomas Jefferson, thành lập tại Charlottesville, tiểu bang Virginia, năm 1819. Đây là một đại học công lập khá nổi tiếng, và sáu anh chị em cùng được thâu nhận vào học, là thành tích thứ nhì một gia đình đã đạt được trong lịch sử gần 200 năm của trường. Điều được nhiều người chú ý hơn, đây là một gia đình tị nạn nhập cư với hai bàn tay trắng, đến từ Việt Nam; nơi từng bị chiến tranh tàn phá trong nhiều năm, nơi từng có quân đội Hoa Kỳ chiến đấu, và trên 58 ngàn chiến sĩ đã hy sinh tính mạng tại đó.

Con lớn nhất của chúng tôi vào UVA năm 1980, con nhỏ nhất ra trường năm 1996. Con gái đầu ra trường năm 1984, rồi được nhận vào cao học trường luật và tốt nghiệp năm 1987. Thành ra trong suốt 16 năm, lúc nào cũng có từ một đến ba con ở trường; chúng tôi đi về như con thoi giữa nhà và trường, cách nhau hai giờ lái xe. Trong bài diễn văn dịp lễ tốt nghiệp của con trai út chúng tôi, Anthony Thuỵ Đinh, tháng 5,1996, Viện Trưởng John T. Casteen III đã đề cập tới câu truyện những đứa con một gia đình Việt tị nạn, đã đến đây, và mọi người đã cố gắng vươn lên như thế nào. Hơn mười ngàn người hiện diện trên sân cỏ đã đứng lên, cho một tràng pháo tay, vô cùng cảm động. Nhật báo Washington Post, cũng như hãng truyền hình NBC, đã có tường thuật về chuyện này.

Ít ngày sau, cháu Thuỵ nhận được lá thư từ một người không quen biết, là Tiến Sĩ Robert T. Turner, Phụ Tá Giám Đốc Trung Tâm Luật An Ninh Quốc Gia, thuộc Trường Luật UVA. Người viết tạm dịch phần chính của lá thư đề ngày 31-5, 1996, như sau:

Hai mươi lăm năm trước, tôi là một Đại Uý Bộ binh, phục vụ hạn kỳ thứ nhì tại Nam Việt Nam; và vào cuối tháng Tư 1975, tôi rời Việt Nam lần cuối trong vụ di tản lần chót. Tất cả, tôi đã tới Việt Nam năm lần giữa 1968 và 1975, và trong thời gian ấy tôi đã có nhiều ngưỡng mộ và cảm tình với những người tôi đã gặp ở đó.

Tôi chỉ muốn ông biết rằng tôi đã là một trong những người đầu tiên đứng dậy hoan hô khi Viện Trưởng Casteen thuật lại câu chuyện của gia đình ông. Nó thực sự đã khiến tôi chảy nước mắt. Tôi biết rằng cha mẹ ông đã vô cùng hãnh diện về những gì ông và các anh chị em của ông đã làm được – và đúng thế, đó là một thành tựu đáng kể -- nhưng tôi chỉ muốn nói với ông rằng những cố gắng của ông cũng đem lại nụ cười trên khuôn mặt những “người lạ”, những người quan sát từ bên lề. Chúng tôi hoan hô ông tại lễ tốt nghiệp không phải chỉ vì chúng tôi hãnh diện về những gì ông đã làm, nhưng còn bởi vì ông đã làm cho chúng tôi có cảm tưởng tốt về nước Mỹ. Tôi cám ơn ông về điều này.

Có một cảnh vào cuối cuốn phim The Green Berets trong đó John Wayne nói với một đứa nhỏ “chính mày là lý do của mọi hy sinh cho cuộc chiến này” (“You’re what this is all about”). Đúng vậy, khi tôi tình nguyện phục vụ tại Việt Nam, không phải để giúp ông Nguyễn Văn Thiệu nắm giữ quyền hành, mà vì tôi đã nghĩ rằng tương lai của Nam Việt Nam sẽ khá hơn dưới một xã hội dân chủ thay vì trong một chế độ độc tài. (Vào năm 1975 tôi đã viết một cuốn sách 500 trang, Vietnamese Communism: Its Origins and Development – Chủ nghĩa Cộng Sản Việt Nam: Nguồn gốc và Phát triển, khi tôi là một học giả của Viện Hoover tại Stanford – nên đã nghĩ rằng tôi cũng có một chút hiểu biết về đề tài được đề nghị.)

Khi Hoa Kỳ bỏ rơi Nam Việt Nam sau 1973, nhiều người trong chúng tôi đã cảm thấy rất tức giận – và không ít ân hậnvề những gì đất nước chúng tôi đã gây ra cho một tập thể nhân hậu. Tôi vẫn còn cảm thấy tức giận (và không ít ân hận) về Việt Nam; nhưng tôi chỉ muốn ông hiểu rằng ông và gia đình ông đã làm rất nhiều để khiến tôi cảm thấy lạc quan hơn. Tôi khen ngợi ông về những hy sinh và thành tựu đã đạt được, và tôi chúc ông rất thành công trên bước đường thăng tiến của đời mình.

Thụỵ đã viết mấy lời cảm ơn Tiến sĩ Turner, và lại nhận được lá thư thứ nhì của ông, cũng viết trên giấy có tiêu đề với địa chỉ của người gửi và người nhận như trước, đề ngày 28 tháng 6, 1996, nhưng với ngôn ngữ thân mật hơn. Dưới đây là bản dịch phần chính lá thư thứ nhì:

Tôi đã nổi giận vào năm 1975. Tôi đã mong đợi nước tôi cư xử một cách danh dự và giữ những cam kết của mình để bảo vệ tự do, và tôi đã xấu hổ về những gì chúng tôi đã làm trong việc bỏ rơi những nước không cộng sản tại Đông Dương. Một mặt, tôi rất vui khi nhìn thấy những câu truyện thành công của người Việt tị nạn như bạn và gia đình bạn. Nhưng, từ một cách nhìn khác, tôi nhận ra sự thành công của bạn ở đây sẽ giúp cho nước Mỹ rất nhiều, hơn bất cứ những gì chúng tôi đã làm để giúp bạn. (Gửi ra một chiếc thuyền cấp cứu để vớt những người sống sót từ một chiếc tầu đã bị ta sai lầm phóng thuỷ lôi đánh chìm, khó có thể coi là việc ban ơn). Tôi nghĩ lịch sử sẽ chứng minh, từ quan điểm hẹp hòi và vị kỷ của dân tộc Mỹ, rằng sự phản bội của nước Mỹ đối với Nam Việt Nam là một trong những điều thông minh nhất mà nước tôi đã làm – vì làn sóng những người Việt nhập cư sẽ chứng tỏ họ nằm trong số những hàng “nhập cảng” giá trị nhất của chúng ta (nhấn mạnh của người dịch).

Dĩ nhiên, bây giờ chẳng còn điều gì chúng tôi có thể làm để sửa lại những sai lầm trong mấy thập niên trước. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm việc để bảo đảm rằng Chính quyền của chúng ta sẽ hành xử một cách có danh dự trong những năm sắp tới. Như Thomas Paine đã nhận định: “Một cách duy nhất để ma quỷ chiến thắng là khi những nhân tài không làm gì cả”. Là những người Mỹ với nền giáo dục xuất sắc, tôi hy vọng rằng bạn và các anh chị em của bạn sẽ giữ vai trò chủ động trong mọi mặt của đời sống Mỹ -- và sẽ đóng góp để Chính quyền của chúng ta giữ danh dự khi giao tiếp với thế giới trong những năm tới,
hinh 2
Hình chụp lá thư thứ nhì của Tiến Sĩ Bob Turner
 
Hai lá thư của Tiến Sĩ Turner gửi cho con út của chúng tôi, tuy đã viết từ 29 năm trước, nhưng có mấy điều vẫn đậm nét thường trực trong đầu óc người viết:

- Sự phản bội của nước Mỹ đối với Nam Việt Nam là một trong những điều thông minh nhất mà nước tôi đã từng làm.
- Người Việt nhập cư sẽ chứng tỏ họ trong số những hàng “nhập cảng” giá trị nhất của chúng ta.
- Chúng ta có thể  làm việc để bảo đảm rằng Chính quyền của chúng ta sẽ hành xử một cách có danh dự trong những năm sắp tới.
- Và sẽ đóng góp để Chính quyền của chúng ta giữ danh dự trong khi giao tiếp với thế giới trong những năm tới.

Bây giờ, 50 năm sau khi Nam Việt Nam bị phản bội, chính là “những năm tới” của 1996. Rất nhiều người Việt nhập cư đã chứng tỏ, họ là “những thứ nhập cảng” giá trị của Mỹ. Nhưng không phải chỉ có người Việt nhập cư mới làm lợi cho Mỹ. Tất cả mọi người nhập cư đều góp phần vào phúc lợi chung, là làm cho nước Mỹ thêm giầu, mạnh, hạnh phúc, và luôn xứng đáng là người bạn tốt của mọi người trên thế giới. Đó là lý do chính mà mọi người từ khắp nơi đã tìm tới Mỹ, không phải tới đây để ăn hại hay làm loạn.

Nói về thành quả của những người nhập cư Mỹ thì quá nhiều, không thể kể hết. Nổi bật hơn cả trong 50 năm qua, là Steve Jobs; đã qua đời; cha đẻ của Apple, có người bố gốc Syria. Người giầu nhất thế giới hiện nay là Elon Musk, cha mẹ gốc Nam Phi và Canada. Những gì mà các con, nói chung, cả gia đình chúng tôi đã có được chẳng đáng kể gì, so với nhiều người khác. Ngay trong số những người bạn rất thân với chúng tôi, cũng không hiếm những con cháu thành công vượt bực; mà tôi không dám nêu rõ tên, sợ phạm tới đức khiêm nhường của các bạn quý.

Nhưng, trong thành phần người Việt tị nạn tại Mỹ, có những người quá nổi tiếng, dù khiêm nhường, vẫn không tránh khỏi “bị” nêu danh, như Việt Đinh (không có liên hệ họ hàng với người viết), và thế hệ kế tiếp, là Amanda Nguyễn. Việt Đinh được coi là luật gia số một của Mỹ, và Amanda Nguyễn là nhà vận động nhân quyền, tác giả một đạo luật bảo vệ nữ quyền, là khoa học gia, đã bay vào không gian…

hinh 3
Việt Đinh (Fox Corp.) 
 
hinh 4
Amanda Nguyễn (Rise)
              
Từ mùa bầu cử 2024, Cộng đồng MAGA đã nặn ra một mẫu người nhập cư là hiện thân của tất cả mọi sự xấu, rồi biến hình mẫu này thành con ngáo ộp, để doạ nhũng cử tri dễ tin và dễ sợ. Kết quả bầu cử ra sao, mọi người đã biết. Và những người nhập cư đã là một thứ dê tế thần, để “Bên Thắng Cử” chứng tỏ lời hứa tranh cử được thực hiện nghiêm chỉnh. Nhưng người mẫu nhập cư do MAGA nặn ra, có thực sự phản ảnh người nhập cư trong đời thật?

- Trước hết, bà mẹ của Việt Đinh đã không tới Mỹ để làm “Welfare Queen”, như nhân vật sống như bà hoàng, nhờ gian lận trợ cấp an sinh xã hội, mà ứng cử viên Ronald Reagan đã mô tả trong mùa bầu cử 1976. Là thuyền nhân, bà đã liều chết mang con tới Mỹ để tìm sự sống. Đã làm những công việc cực nhọc, lương thấp, như hái trái cây tại các nông trại, may vá…, để cố nuôi con nên người.

- Người mẫu nhập cư của MAGA là những kẻ có tiền án, giết người, hiếp dâm, buôn ma tuý, thành viên các băng đảng khủng bố, hoặc nhẹ nhất là giết chó mèo của hàng xóm để ăn thịt. Nói chung, là những kẻ trực tiếp đe doạ an ninh thịnh vượng của xã hội Mỹ. Trong đời thực, Việt Đinh theo mẹ tới Mỹ năm 1978, cùng với năm anh chị em khi mới 10 tuổi, cha là tù nhân chính trị vẫn còn lẩn trốn ở VN. Tuy phải giúp mẹ làm việc vặt, Việt Đinh vẫn xuất sắc trong việc học, đứng đầu lớp ở trung học, được học bổng vào Harvard, rồi trở thành Phụ Tá Bộ Trưởng Tư Pháp ở tuổi ngoài 30. Chẳng những không thuộc thành phần phá hoại, khủng bố, Việt Đinh đã là kiến trúc sư chính của USA Patriot Act 2001 (Đạo Luật chống khủng bố, sau biến cố 11-9-2001).

- Cũng trái với người mẫu nhập cư do MAGA mô tả, Việt Đinh không phải là một gánh nặng cho xã hội Mỹ, mà đã tự mình tạo dựng một sản nghiệp lớn, bằng đầu óc của mình. Theo mô tả của David Lat trên Original Jurisdiction, Việt Đinh là luật gia số một tại Mỹ, và tiền lương năm 2019 là 24 triệu Mỹ Kim. Khi chấm dứt nhiệm vụ Chief Legal Officer tại Fox Corporation vào cuối năm 2023, Việt Đinh đã được trả 23 triệu MK tiền mặt. Theo bản tin địa ốc The Real Deal, ngày 10 tháng 5, 2019, Việt Đinh đã mua một ngôi nhà tại Brentwood, CA, với giá 19.05 triệu MK.

- Thế hệ kế tiếp của thuyền nhân gốc Việt cũng lẫy lừng không kém. Sinh ra tại California vào ngày Song Thập (10/10) 1991, Amanda Nguyễn cũng xuất sắc trong việc học, được nhận vào Harvard. Rồi không phải là kẻ gây ra tội ác như mẫu người nhập cư của MAGA, mà là nạn nhân của một vụ hiếp dâm. Sự việc đau buồn này đã biến Amanda thành một lãnh tụ vận động nhân quyền, đưa đến sự ra đời của Sexual Assault Survivor’s Right Act (Đạo luật về Quyền của Nạn Nhân bị Tấn Công Tình Dục), được toàn thể lưỡng viện Quốc Hội thông qua, và Tổng Thống Obama ban hành vào tháng 10, 2016.

Theo Chanel Miller viết trên báo TIME 2-3-2022: Vào năm 2016, Amanda Nguyễn đã ăn mừng một thắng lợi quan trọng khi Tổng Thống Obama ký Sexual Assault Survivors’ Rights Act trở thành luật. Giúp thảo ra đạo luật này để sửa lại cách lưu trữ bộ sưu tập chứng cớ tấn công tình dục ở cấp liên bang, là cách phản ứng của cô sau khi được biết vào năm 2013, là bộ sưu tập về vụ hiếp dâm của chính cô sắp bị loại bỏ. Người đứng đầu tổ chức bất vụ lợi Rise về quyền dân sự không dừng lại ở đó; Cho đến nay, Cô Nguyễn, 30 tuổi, đã tiếp tục giúp làm những luật tương tự tại 40 tiểu bang, và đã đưa hoạt động của mình tới Liên Hiệp Quốc, nơi cô đang hướng dẫn một cố gắng để tiến tới việc thông qua một quyết nghị bảo vệ các nạn nhân trên toàn thế giới.

Những thành quả của hai người nhập cư gốc Việt tiêu biểu, thuộc hai thế hệ, là Việt Đinh và Amanda Nguyễn còn rất nhiều, quá nhiều để kể hết ra đây; ai muốn biết, có thể dễ dàng tìm thấy trên Internet.

***

Nêu ra những thành quả tốt đẹp của người từ khắp nơi vào Mỹ, không có nghĩa khẳng định rằng trong số những người nhập cư không có người xấu, không có kẻ phạm pháp. Ở đâu cũng có kẻ xấu, người tốt. Thống kê đáng tin cậy ghi nhận rằng, tỷ lệ phạm pháp của người nhập cư thấp hơn so với tập thể những người không thuộc thành phần nhập cư. Sự thật như vậy mà gán cho thành phần nhập cư những tội lỗi xấu xa là việc làm độc ác, vô nhân đạo. Hãy nhìn thẳng vào cuộc đời của những nhân vật danh tiếng,  không thuộc thành phần nhập cư trong thế hệ hiện tại, sẽ thấy rõ đâu là sự thật.

Trước hết, đương kim tổng thống, có bao giờ bị truy tố, bị buộc tội về dân sự và hình sự không? Ai cũng đã biết câu trả lời.

Đương kim phó tổng thống, từng lên tiếng chỉ trích người nhập cư về những việc làm xấu xa. Xin hỏi, trong thân tộc, họ hàng ông có bao nhiêu người nghiện rượu, nghiện ma tuý? Bao nhiêu người sống bằng trợ cấp xã hội? Sách và những bài báo của ông đã nói đủ, khỏi cần kể ra đây.

Gia đình tổng thống mới nãm nhiệm được ba tháng: Có bao nhiêu người nghiện và trao đổi ma tuý? Bao nhiêu người bị kết án và buộc tội đại hình? Mọi người cũng đã có câu trả lời.

Tóm lại, khi những người không thuộc thành phần nhập cư thấy mình chẳng có gì tốt đẹp hơn người nhập cư, thì đừng nên chỉ trách người mà không trách mình. Đó không phải là cách hành xử của những người có danh dự.

***

Điểm chót trong những ưu tư của Bob Turner là những người nhập cư sẽ đóng góp vào việcgiúp Chính quyền của chúng ta giữ danh dự trong khi giao tiếp với thế giới”.

Theo dõi những gì diễn ra qua cuộc tiếp Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky tại Phòng Bầu Dục vào ngày 28 tháng 2, 2025, không ai nhìn thấy cái gọi là “danh dự khi giao tiếp với thế giới”. Nhất là, tin Reuters ngày 6-3-25 cho biết, chính quyền hiện tại còn nghĩ tới chuyện rút lại quy chế tạm dung của 240.000 người Ukraine đã tới Mỹ hợp pháp, và họ có thể sẽ bị trục xuất trở lại Ukraine. Vậy thì, chúng ta chỉ có thể đóng góp một lời cầu xin:
- Nếu 50 năm trước, Mỹ đã phản bội Nam Việt Nam một cách thông minh, thì bây giờ, xin đừng phản bội Ukraine một cách ngu ngốc.
 
Đinh Từ Thức

Ý kiến bạn đọc
16/11/202519:23:04
Khách
" Sự thật như vậy mà gán cho thành phần nhập cư những tội lỗi xấu xa là việc làm độc ác, vô nhân đạo" .. đây là luận điệu của phen Dân Chủ tạo dựng nên đổ lỗi cho phen Cộng Hòa .. đó mới là việc làm độc ác và vô nhân đạo. Người VN qua Mỹ thời 70, 80 là những ngừơi tỵ nạn CS .. bây giờ gọi họ chỉ là di dân, nhập cư chẳ̉ng phải là không muốn đụng chạm với ông thầy CSVN sao ?? Little SG ngày nay đang dần ngả theo chiều hướng ủng hộ CNXH rồi ..
16/05/202514:47:10
Khách
Chúc mừng sự thành công của các con của ông bà. Xin ông đừng nhầm giữa di dân bất hợp pháp và di dân bất hợp pháp. Người ti ti nạn hay di dân Việt Nam cũng phai trải qua thu tục nhập cảnh theo luật pháp.
07/05/202516:22:27
Khách
Cau chuyen cua nguoi Ty Nan Viet Nam that la tuyet voi. Cam on anh DTT.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong các cuộc xuống đường phản đối biện pháp siết chặt di trú và tăng ngân sách cho cơ quan ICE trên khắp nước Mỹ những tuần qua, hình ảnh dễ thấy là hàng hàng giáo sĩ đeo cổ áo thánh, giơ bảng, đứng giữa hàng rào cảnh sát và đoàn người di dân. Một trong những tiếng nói gây tranh luận mạnh là Giám mục Rob Hirschfeld, Giáo phận Episcopal New Hampshire. Ngày 18.1.2026, ông kêu gọi các giáo sĩ trong giáo phận “chuẩn bị cho một kỷ nguyên tử đạo mới”, thậm chí lo sẵn di chúc và giấy tờ hậu sự. Theo ông, đây không còn là thời của những tuyên bố trên giấy, mà là lúc “dùng chính thân thể mình để đứng giữa các thế lực của thế gian và những người dễ bị tổn thương nhất”.
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.