Hôm nay,  

Trong Căn Phòng Rưỡi

24/01/200500:00:00(Xem: 16116)
(3)
Gửi L. K.
Joseph Brodsky
19
Đồ đạc lớn nhất của chúng tôi – hay nói đúng ra, món đồ chiếm chỗ nhiều nhất – là cái giường của ba mẹ tôi. Cám ơn cái cối cái chầy, cám ơn cái cọc cầu ao, cám ơn cái giường, nhờ có nó mà có tôi, tôi nghĩ vậy. Đây là một cái giường rộng, “thứ của vua nằm” [“king sized”], những đường nét trang trí của nó, lạ sao, lại thật xứng hợp, về một mức độ nào đó, với toàn thể căn phòng còn lại, mặc dù chúng được chạm trổ theo phong cách hiện đại hơn nhiều. Thì cũng vẫn mô- típ hoa lá cành, nhưng sự thực thi, the execution, thì đong đưa, oscillated, ở giữa Nghệ Thuật Mới và ấn bản thương mại của chủ nghĩa Kiến Tạo, Constructivism. Cái giường này là niềm tự hào lớn của mẹ tôi, vì bà mua nó, rất ư là hời, vào năm 1935, trước khi mẹ tôi lấy cha tôi. Bà nhìn ra nó, cùng với cái bàn trang điểm có gắn ba cái gương rất hợp với nó, trong một tiệm bán bàn ghế cũ. Hầu hết cuộc đời chúng tôi là xoay quannh, hoặc bị hút về [gravitated] phía cái giường thấp đó, và những quyết định nhớ đời trong gia đình, thì xẩy ra khi cả ba chúng tôi quây quần, không phải quanh cái bàn, mà trên mặt giường, với thằng con ngồi ngay dưới chân cha mẹ.
Theo tiêu chuẩn Nga, cái giường đó đúng là một thứ xa xỉ phẩm. Tôi thường xuyên ban cho mình, cái ý nghĩ, đúng là do cái giường nó đã dụ được cha tôi lấy má tôi, bởi vì ông mê ngủ nướng, nằm ườn trên đó, hơn bất cứ điều nào khác ở trên đời. Ngay cả khi hai ông bà mạnh miệng, hầu hết những lần “ông nói bà cũng nói này” là liên quan tới vấn đề quản lý ngân sách của chúng tôi, [“Vậy là bà lại cúng hết tiền cho tiệm chạp phô đó rồi, chẳng chừa cho tôi một xu!”, tiếng cha tôi vượt qua bức tường, là những kệ sách ngăn “nửa” của tôi với “căn phòng” của ba má tôi. “Tôi bị đầu độc, đầu độc trong ba mươi năm trời, bởi cái tính hà tiện của ông!”, mẹ tôi đáp lại], ngay cả tới lúc căng thẳng như thế đó, cha tôi cũng rất ngần ngại rời cái giường, nhất là vào buổi sáng. Một vài người đã tỏ ra chẳng eo hẹp, khi dụ khị má tôi nhường cho họ cái giường. Nó thực sự chiếm quá nhiều chỗ, trong căn phòng rưõi. Nhưng gì thì gì, ngay cả khi túng bấn nhất, cha mẹ tôi cũng không tính đến chuyện bán giường. Nó đúng là một cái gì thái quá, một cái thú chơi ngông, mà tôi tin rằng, cha mẹ tôi thì thật thích chơi ngông, và thích cái giường, chính là vì vậy.
Tôi nhớ ông bà ngủ ở trên cái giường đó, thường là quay lưng vào nhau, và ở giữa họ là đống chăn mền. Tôi nhớ ông bà đọc sách báo ở đó, nói chuyện với nhau ở đó, uống thuốc uống thang cũng ở đó, chống cự con bịnh này, cái bệnh kia, cũng ở đó. Cái giường như là nơi ẩn náu an toàn nhất, và cũng là nơi bầy ra nỗi bất lực, không trông mong bất cứ giúp đỡ, từ bất cứ ai, bất cứ đâu, đối với cả hai, theo tôi. Đó đúng là nơi chốn riêng tư nhất của ông bà, hòn đảo tối hậu, nơi bất khả vi phạm bởi bất cứ một ai, trừ thằng con ra, của ông bà trên vũ trụ này. Cho dù nó đứng ở đâu bây giờ, nó đứng như khoảng chân không, một tách rời, a vacuum, ở bên trong trật tự thế giới. Một chân không bề ngang năm, bề dài bẩy feet. Gỗ thông mầu nâu nhạt bóng loáng, và chưa hề bao giờ kêu cót két, cọt kẹt.
20
Nửa của tôi nối với phòng của cha mẹ tôi bằng hai cái vòm cao gần đụng trần nhà, và tôi trường kỳ chất lên đó đủ thứ kệ, thùng, hộp đựng sách, để ngăn đôi, giữa thằng con với cha mẹ, hòng có được một chút tư riêng. Một chút, một tí, một mức độ nào đó, chứ đừng hòng hoàn toàn riêng tư, bởi vì, hai cái vòm, cao như thế, rộng như vậy, lại thêm đường ven trên được trình bầy theo kiểu Moor, thật vô phương tách riêng nửa phòng của tôi với phòng của hai cụ. Ngoại trừ, lẽ dĩ nhiên, nếu bạn lấy gạch xây lấp luôn, hoặc che kín đôi bên bằng một bức tường gỗ! Làm như vậy, là chống lại nhà nước, bởi vì, họ ban cho chúng tôi một nửa phòng, với một phòng. Ngăn riêng hẳn ra như vậy, là thành hai phòng. Chẳng cần kiểm tra viên, ngay lối xóm, dù dễ chịu cách mấy, cũng chẳng thèm đợi dăm bữa nửa tháng, mà báo cáo liền tù tì vi phạm trầm trọng này.
Chỉ có thể làm sao cho được tí nào hay tí đó, và đó là tham vọng mà tôi đã đeo đuổi và cố gắng thực hiện từ cái tuổi mười lăm gấp sách lại đứng nghe đó. Tôi đã thực hiện những sắp xếp, những công trình ngăn đôi bờ cõi gây kinh hoàng, và có lúc, còn tính nghĩ đến chuyện, chám vô đó nguyên một cái hồ nuôi cá cao 12 feet, ở giữa có một cái cửa nối nửa của tôi với phòng của ông cụ bà cụ. Chẳng cần phải nói, một công trình kiến trúc như thế vượt ra khỏi tài năng của tôi. Và những giải pháp tiếp tục theo nhau ra đời, kệ sách rồi kệ sách - về phía nửa của tôi - và phiá bên kia, những lớp màn vải, ngày càng nhiều thêm, và dầy thêm ra. Cũng chẳng cần phải nói, ông cụ bà cụ không làm sao ưa nổi, bất cứ giải pháp nào, và luôn cả vấn đề nhức nhối đẻ ra những giải pháp như thế.
Gái, cũng như trai, nếu nói về số lượng, thì tăng chậm hơn, so với sách; ngoài ra, cái món sau thì cứ ỳ ở đó. Chúng tôi có hai cái tủ, cửa tủ là những tấm gương. Chúng khá cao, nhưng cũng chỉ có thể hoàn thành một nửa trách nhiệm chứa sách của chúng. Chung quanh hai cái tủ, và ở trên nóc tủ, tôi bầy ra một chiến tuyến, là những kệ sách, chỉ để lộ ra một lối nho nhỏ, tôi thì quá dễ dàng đi lọt, nhưng ông cụ bà cụ phải nghiêng mình lách, mỗi lần vượt chiến tuyến, qua nửa phòng của thằng con, và sau đó, trở về bên phần đất của mình. Cha tôi không thoải mái, với cái vụ sắp xếp như thế, nhất là, kể từ khi ông làm một phòng tối để rửa phim, ở mãi tít cuối “nửa” của tôi. Phần lớn thu nhập trong gia đình là nhờ vào nó.
Có một cái cửa ở phía cuối nửa của tôi. Khi ông cụ không làm việc ở trong phòng tối, tôi ra vô nửa của mình bằng cửa đó. “Như vậy đỡ làm phiền bố mẹ”, tôi nói với ông cụ bà cụ, nhưng thực ra là để tránh hai ngườì đừng soi mói thằng con, và cũng tránh phải giới thiệu mấy thằng ông mãnh bạn bè của tôi, và ba chuyện lòng vòng khác nữa. Mỗi lần có tụi nó, là tôi bèn mở lớn cái máy hát, và ông cụ dần dần đâm ra ghét thậm tệ J.S. Bach.

Tuy nhiên, khi mà sách và nhu cầu riêng tư ngày một tăng lên một cách đáng sợ, tôi cật lực tái sắp xếp nửa của mình, sao cho mấy cái tủ làm hết chức năng của chúng, để ngăn cách giường và bàn của tôi, với phòng tối của ông cụ. Tôi chơi thêm một cái tủ nữa, vốn để không ở nơi hành lang. Tôi phá bỏ cái lưng đụng tường nhưng để nguyên cánh cửa tủ. Kết quả là, một người khách sẽ vô cái Lebensraum của tôi qua hai cái cửa, và một bức màn. Cửa thứ nhất đưa tới hành lang; tới đó, bạn sẽ thấy mình đứng trong căn phòng tối của cha tôi, và đưa tay vén bức màn; việc làm tiếp theo của bạn, là mở cửa tủ. Bên trên đầu mấy cái tủ, tôi chất tất cả những thùng sách mà chúng tôi có. Nhiều lắm, nhưng cũng không làm sao đụng tới trần nhà. Đúng là một hàng rào kẽm gai, một chiến tuyến, có thể nói như vậy; và đằng sau hàng rào kẽm gai, thằng bé cảm thấy mình an toàn, và một nàng Marianne sẽ khoe, không chỉ có bộ ngực, mà còn thêm một vài món hàng khác nữa.
21
Cái nhìn mờ mờ của ông cụ và bà cụ về thằng con, qua hàng rào chướng ngại vật được dựng lên như thế đó, bỗng như sang sáng lên, khi hai cụ nghe tiếng gõ cọc cọc của cái máy đánh chữ, mà những bức rèm, hàng rào chiến lược không làm sao làm bặt đi được. Cái máy đánh chữ Nga, thì cũng là từ chuyến đi Trung Hoa của cha tôi mà có được, có điều ông không ngờ nó lại được thằng con đem ra sử dụng. Tôi để nó trên bàn, bên trong một cái ổ được chế tạo từ cái cửa trước đây dùng để nối căn phòng rưỡi của tôi với phần còn lại của dẫy nhà. Cái cửa cũ, tưởng là đồ phế thải, không ngờ lại được việc như thế đấy! Kể từ khi nhà hàng xóm có cây đàn dương cầm cho cô con gái, cây đàn này lại đặt ở ngay phía bên kia bức tường, tôi bèn tăng cường, ở phía bên tôi, những chiếc thùng đựng sách, và thế là có cái ổ để máy đánh chữ.
Một bên là hai cái tủ và lối đi ở giữa, một bên cửa sổ cao có bức rèm, bậu cửa cách cái đi văng khá rộng rãi mầu nâu trông thật dị hợm của tôi đúng hai feet; phiá sau là cái vòm, với những thùng sách chất lên tận đường biên kiểu Moor ở phiá trên cùng của nó; một cái tổ bằng những chiếc hộp đựng sách, và cái bàn với cái Royal Underwood ở ngay trước mũi tôi: Đó là cái Lebensraum của tôi. Bà cụ sẽ lau chùi, dọn dẹp cho nó, ông cụ sẽ đi qua đi lại, khi tới căn phòng tối của ông; thỉnh thoảng, sau một trận lời qua tiếng lại nho nhỏ, ông cụ, hoặc bà cụ, sẽ tới ngồi trong chiếc ghế bành đã cũ nát nhưng thật sâu, thật rộng của thằng con, như tìm chút ẩn thân. Ngoài những giây lát như thế, toàn cơ ngơi mười thước vuông đó là của tôi. Và chúng là mười thước vuông tuyệt vời nhất, đẹp đẽ nhất là tôi đã từng có, từng biết tới. Nếu không gian có một tâm hồn của riêng nó, và tự nó có quyền phân chia san sẻ, nếu như vậy, thì có thể có một cơ may, rằng, một vài thước vuông trong số mười thuốc vuông đó, vẫn còn nhớ tới tôi, một cách thật là thân thiết. Nhất là vào lúc này, dưới một cái chân khác.
22
Tôi đã được sửa soạn để tin tưởng rằng, với người Nga, rứt ra khỏi những rằng buộc, hệ luỵ, thì khó khăn hơn nhiều, so với bất cứ một giống dân khác. Nói cho cùng, chúng tôi, một dân tộc được định cư quá kỹ, kỹ hơn cả những giống dân thuộc cựu lục địa (Đức hay Pháp], họ hay đi lòng vòng, không hẳn chỉ vì họ có xe hơi, hoặc không có biên giới. Với chúng tôi, căn phòng, là cho suốt đời; thành phố, cả đời; xứ sở, mọi đời. Những quan niệm về sự trường tồn, về điều hoài hoài, do đó, cũng mạnh hơn nhiều, so với những sắc dân khác. Và, lẽ tất nhiên, nỗi đau mất mát, đau hơn nhiều. Đau hơn hoạn. Tuy nhiên, một quốc gia đã từng mất, trong một nửa thế kỷ, gần sáu chục triệu con người, cho cái nhà nước ăn thịt người đó (gồm cả hai chục triệu bị giết trong chiến tranh), một quốc gia như thế chắc chắn là thừa sức để là “cập nhật hoá” cái cảm quan về sự vững bền của nó. Không chỉ vì, những mất mát như vậy là phải gánh chịu, cốt sao vẫn nguyên trạng. Bởi vậy, nếu một người nào cố bám vào tất cả những chuyện đó, như vậy không nhất thiết có nghĩa, con người muốn tuân theo bản chất tâm lý của “ao nhà”, [thí dụ, nước mưa ở nơi lưu vong này thì… chua ngoét]. Nhưng theo tôi, có lẽ, cơ sự này phải cắt nghĩa ngược lại, nghĩa là, giữa hiện tại và điều được tưởng nhớ, có gì đó không ăn ý vói nhau. Hồi ức, giống như suy nghĩ không tưởng, khi nó phản ánh bản chất thực tại của một con người. Thực tại mà tôi đang đối mặt chẳng mắc mớ gì tới căn phòng rưỡi, và hai người sống ở trong đó, ở bên kia biển cả, và bây giờ chẳng còn hiện hữu. Chọn lựa gì được, nếu ở trong hoàn cảnh của tôi bây giờ" Sự khác biệt, là, giữa hai nửa địa cầu, giữa ngày và đêm, giữa thành phố và nhà quê, giữa người chết và người sống. Những điểm chung độc nhất, là, cái bộ mặt của tôi đây, và cái máy đánh chữ. Tuy khác kiểu. Chữ cũng khác.
Tôi giả dụ, có mình lòng vòng bên cạnh, trong muời hai năm cuối cùng của ông cụ bà cụ, có mình lòng dòng bên cạnh, khi ông cụ bà cụ mất, nếu như vậy, có khi, sự tương phản, giữa ngày và đêm, hay giữa một con phố ở trong một thành phố Nga với một con đường nhỏ ở miền quê Mẽo, nó sẽ bớt sắc nét đi, bớt cay đắng đi; sự dữ dằn của hồi ức sẽ phải đối phó với sự dữ dằn của suy nghĩ không tưởng. Sự mất mát hao mòn hoàn toàn sẽ làm mờ cảm nhận, đủ để con người chấp nhận thảm kịch, coi nó là tự nhiên, và sẽ tự nhiên quên đi, như mọi chuyện ở trên cõi đời này. Tuy nhiên vẫn còn một vài điều tỏ ra có ích, khi đánh giá con người, khi nó phải nhìn ngoái lại, phải hồi tưởng; cũng tương tự như vậy, điều tốt về một bi kịch giả tạo, nhân tạo, là, nó làm cho con người chú ý tới cái gọi là sự giả tạo, nhân tạo, the artifice.
Cái xấu bạ cái gì cũng vớ lấy. Ở đây, tôi vớ lấy, cái cảm quan của mình, về tội lỗi.
[còn tiếp]
NQT dịch
tanvien.net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi đương ở trong phòng giải lao của trường thì có cảm giác là lạ: Thấy rờn rợn trên xương sống
Tóm lại, cần nhứt là cái tâm, tâm còn động, còn để buồn vui, tham giận mê hướng dẫn mình là điều nên tránh. Tâm phải tịnh
Một dấu hiệu chỉ ra sự khiếm khuyết của hồi ức, đó là nó nhớ ba chuyện lẩm cẩm.
Nói cho cùng, đứa trẻ nào thì cũng cảm thấy tội lỗi đầy mình đối với bố mẹ, bởi vì, nó biết rằng,
Căn Phòng Rưỡi (không hiểu một không gian như vậy có ý nghĩa gì không, ở trong tiếng Anh),
Căn Phòng Rưỡi (không hiểu một không gian như vậy có ý nghĩa gì không, ở trong tiếng Anh),
"Ni héros ni traitres" là tên bài viết trên báo Pháp, Đọc (Lire), số tháng Năm 2002, về một cuốn sách mới ra lò:
Nguyễn Huy Thiệp: Đời viết văn cũng như đời người đàn bà.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.