Hôm nay,  

Song ngữ: Did the Buddha preach the Dharma, or did he not preach the Dharma? / Đức Phật có thuyết pháp hay không thuyết pháp

22/12/202317:31:00(Xem: 16790)
blank

Đức Phật có thuyết pháp hay không thuyết pháp

 

Tâm Diệu

 

Trong các thuật ngữ của đạo Phật, có lẽ không có từ ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế".

 

Thật vậy, Đức Phật, vì muốn độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi nên mới nương vào thế giới Tục đế mà nói pháp, nhằm chỉ bày cho chúng sinh thấy được cái bản chất chân thật tự nhiên của Tâm vốn sẵn có, để chúng sinh, tự nỗ lực tu hành giải thoát khỏi khổ đau sinh tử, lìa khỏi thế giới Tục đế, đến thế giới Chân đế.

 

Cũng vì thế mà Ngài Long Thọ Bồ tát nói rằng: "... Các Đức Phật vì chúng sinh, y vào Nhị đế mà nói pháp, thứ nhất là Thế tục đế và thứ hai là Đệ nhất nghĩa đế. Nếu người nào không nhận thức được hai chân lý này, thì đối với Phật pháp sâu xa, không thể hiểu được chân nghĩa. Nếu không nương tựa vào tục đế, thì không thể thấy được chân lý; nếu không thấy được chân lý, thì không thể ngộ được Niết bàn..." [1]

 

Tục đế là một hợp từ: "tục" nghĩa là thế tục, thế gian hay phàm tục, "đế" nghĩa là chân lý. Tục đế có nghĩa là những cái gì mà người thế tục đồng ý với nhau, gọi là chân lý quy ước hay còn gọi là chân lý tương đối, hoặc còn gọi là chân lý thế tục hoặc thực tại tương đối. Nó là tất cả những hiện tượng do duyên khởi tức là pháp sinh diệt trong thế gian nầy.

 

Còn Chân đế, cũng là một hợp từ, có nghĩa là chân lý chân thật không hư vọng, là chân lý tuyệt đối, là chân lý tối thượng, cũng còn gọi là Đệ nhất nghĩa đế, là chân tâm, là giác tánh, là chân như...

 

Chân lý tuyệt đối là gì? Không ai biết được ngoại trừ chính chư Phật và chư Tổ đã giác ngộ. Các Ngài cũng không thể nói cho chúng ta biết được. Toàn bộ giáo điển của chư Phật là pháp phương tiện, Ngài "dùng pháp thế gian, (tức thế tục đế) để giảng nói cho chúng sinh" [2], cốt để chúng sinh ngộ được cái chân lý tuyệt đối như Ngài vì Ngài thấy Tâm Phật và Tâm chúng sinh vốn không khác, vốn tự đầy đủ mênh mông khắp không gian và thời gian.

 

Thật vậy, xuyên qua lời dạy của Phật và chư Tổ, sở dĩ có sự sai khác là vì tâm chúng sinh bị mê mờ ô nhiễm. Cái Tâm bị bao vây bởi tham sân si, bởi vọng tưởng điên đảo, bởi tham nhiễm các pháp có không. Ngài Sogyal Rinpoche, một đại sư Tây tạng, ví Tâm chúng ta bị vây kín trong một cái bình mà "khoảng không trong bình cũng giống như khoảng không bên ngoài. Khi chúng ta giác ngộ, thì cũng như cái bình vỡ tan thành mảnh vụn... Ngay lúc đó và tại chỗ đó, chúng ta trực nhận được rằng chúng chưa từng bao giờ có sự ngăn cách hay sai khác..." [3]

 

Vì tâm sinh diệt của chúng sinh luôn luôn dính mắc vào các pháp "có không" nơi thế giới hiện tượng tức thế giới tục đế, nên Đức Phật thấy thật là khó nói về cái mà Ngài đã chứng ngộ, chẳng hạn như nói về Phật tánh, chân tâm, vốn không hình tướng, không số lượng. Nếu nói chúng sinh có Phật tánh là chấp trước, nói không có Phật tánh là hư vọng, nói Phật tánh cũng có cũng không là nói trái ngược nhau, nói Phật tánh chẳng có chẳng không là hý luận. Nên Phật mới dùng các pháp thế gian phương tiện, "giả lập kệ pháp, giả lập danh tự, vốn chẳng phải Phật, nói với họ là Phật, vốn chẳng phải Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, nói với họ là Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, ... Biết họ gánh trăm tạ chẳng nổi, tạm cho họ gánh một lon, một chén, biết họ khó tin giáo liễu nghĩa, tạm nói với họ giáo bất liễu nghĩa, tạm được pháp lành lưu hành còn hơn là pháp ác..." [4].

 

Cũng chính vì chân lý tuyệt đối này rất khó hiểu, khó nhận, khó nói nên đôi khi Ngài phải dùng những thí dụ bằng lời nói, như trong Kinh Pháp Hoa, Phật dùng bảy thí dụ, trong đó có hai thí dụ là cái nhà lửa và câu chuyện đứa con cùng tử mà ai cũng biết. Ngoài ra còn nhiều kinh khác như Bách Dụ Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh, Bồ Tát Bổn Sanh Kinh, ... Các thí dụ Ngài nói trong kinh thường dùng phương thức ngụ ngôn, hàm chứa những ý nghĩa thâm thúy, ám thị lý tuyệt đối mà chân lý tuyệt đối này không thể dùng lời trực tiếp mà giảng giải vì lời chỉ là khí cụ diễn đạt cái tư tưởng tương đối, cái có hình, có tướng trong thế giới nhị nguyên.

 

Chư Tổ chứng ngộ cũng vậy, không thể nói cho chúng ta biết được chân lý tuyệt đối là gì, mà quý Ngài chỉ dùng những câu chuyện ngụ ngôn, như câu chuyện con rùa và con cá để làm thí dụ mà thôi. Rằng con rùa từ dưới nước bò lên mặt đất, đi một vòng rồi trở về nước, bơi cạnh con cá, kể chuyện đất liền cho nó nghe. Nhưng con cá, vì chưa bao giờ rời khỏi nước, không thể tưởng tượng nổi lại có một môi trường có thể sống được mà không có nước, không bơi lội. Cho nên con rùa đành chịu mang tiếng là nói chuyện viển vông hoang đường, không có trong thực tế. [5]

 

Cảnh giới tuyệt đối, chân tâm, giác tánh, chân như, mà Phật đã giác ngộ không thể nói cho người chưa chứng ngộ biết được. Vì lẽ đó mà người đời đôi khi cũng phê bình: "Đạo Phật cao siêu quá, không có trong thực tế". Nhưng chính đó mới là cốt tủy của Phật Giáo.

 

Kinh Kim Cang là kinh liễu nghĩa, nói về cốt tủy của đạo Phật, về chân lý tuyệt đối, cho nên không có pháp gì để nói. Những lời Phật dạy trong kinh chỉ giúp chúng sinh phá bỏ những hiểu biết tương đối, phá bỏ những kiến chấp sai lầm cố hữu, những vướng mắc lâu đời vốn là nhân kiên cố của vòng xích luân hồi, đã lôi kéo chúng sinh vào vòng trầm luân muôn vạn kiếp. Ngài phá bỏ không còn một kiến chấp nào và Ngài cũng tuyên bố luôn là Ngài không thuyết pháp:

 

"- Tu Bồ Đề! Ông chớ cho Như Lai có nghĩ rằng: "Ta có nói pháp". Ông chớ nghĩ như vậy. Bởi vì sao?

- Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có nói pháp, tức là chê Phật, không hiểu được lời của ta nói.

- Tu Bồ Đề! Nói pháp, là không có pháp gì nói được, ấy gọi là nói pháp." (6)

 

Có nghĩa là Phật không nói về cái chân lý tuyệt đối, về cái chân tâm, Phật tánh, Chân Như, vì chân lý tuyệt đối vốn chẳng thể dùng ngôn ngữ tương đối thế tục để biểu thị. Ngài chỉ dùng ngôn ngữ thế gian tức chân lý thế tục để chỉ bảo chúng sinh, mà ngôn ngữ thế tục, là pháp tương đối thì không có tự tánh, chỉ do nhân duyên hòa hợp, và do nhân duyên hòa hợp nên không có thật.

 

Đức Phật khi giảng pháp, Ngài luôn luôn nói sự thật. Có khi Ngài nói về sự thật tương đối và có khi Ngài nói về sự thật tuyệt đốị Nếu không hiểu điều đó, chúng ta thấy nhiều điều Ngài nói trái ngược nhau và sẽ làm cho chúng ta bối rối, hiểu mập mờ, hỗn độn (confuse). Thí dụ như trong kinh Đại Bát Niết Bàn đức Phật nói:

 

Chư hành vô thường,

Thị sinh diệt pháp.

Sinh diệt diệt dĩ,

Tịch diệt vi lạc.

 

Tạm dịch là:

 

Các hành vô thường

Là pháp sinh diệt

Sinh diệt hết rồi

Tịch diệt là vui.

 

Hai câu đầu có nghĩa là tất cả các pháp trong thế giới hiện tượng đều vô thường, chúng đều là những pháp sinh diệt. Hai câu sau có nghĩa là khi sinh và diệt không còn sinh diệt nữa thì còn là niềm an lạc. Trong thế giới này, tức thế giới tương đối có sinh và có diệt, còn thế giới kia tức thế giới tuyệt đối thì không sinh không diệt. Nếu chúng ta không hiểu rõ tục đế và chân đế thì cho rằng đức Phật nói trái ngược nhau. Sự thật Ngài luôn luôn nói đúng sự thật. Hai câu đầu là tục đế tức thuộc thế giới hiện tượng tương đối, có sanh và có tử. Hai câu sau thuộc lãnh vực tuyệt đối tức chân đế, không có sinh và không có diệt, là thế giới của pháp tánh hay thế giới của bản thể.

 

Đến đây, chúng ta trở lại bài kệ của Bồ Tát Long Thọ đã nêu trên phần mở đầu. Bồ Tát dạy chúng ta rằng nếu chúng ta không phân biệt được chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối, tức thế tục đế và chân đế, thì chúng ta không thể hiểu được đạo Phật. Do sự không hiểu và không phân biệt rõ này, chúng ta lại nhập nhằng đem lời Đức Phật nói "Không thể nói pháp Tuyệt Đối", mà cho là Đức Phật nói "Không nói pháp Tương Đối" là chúng ta vô tình vướng mắc vào sự hủy báng kinh, chứa đựng những lời tâm huyết của Đức Phật. Ngài đã dùng ngôn ngữ và chân lý thế tục để dạy người thế tục biết cách mà tiến dần trên con đường từ bỏ thế tục, trở về bản thể tuyệt đối. Nếu chúng ta không hiểu được điều đó, mà tưởng rằng Đức Phật không nói pháp, thì chúng ta sẽ mất niềm tin nơi kinh, sẽ mất cơ hội có bản đồ chính xác để tìm đường trở lại bản thể chân tâm tuyệt đối.

 

 ----

 

Ghi Chú

 

 

 

(1).Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh 1999.

 

(2). Kinh Đại Bát Nhã, Cuốn 2, Trang 275

 

(3). Sogyal Rinpoche -Thích Nữ Trí Hải dịch, Tinh Chất Cam Lồ, , TP HCM Việt Nam 1969

 

(4). Bá Trượng Ngữ Lục, Thích Duy Lực, Từ ân Thiền Đường xuất bản, 1999 trang 29-30

 

(5). Narada Maha Thera, Đức Phật và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh Việt dịch, Đại Nam xuất bản 1987, trang 458-459

 

(6). Thích Huệ Hưng dịch, Kinh Kim Cang Giảng Lục, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản 1983, trang 82.

 

 

(Trích từ sách Phật Pháp Trong Đời Sống, Nhà xuất bản Hồng Đức 2014)

 

Nguồn:

https://thuvienhoasen.org/p22a21709/15-duc-phat-co-thuyet-phap-hay-khong-thuyet-phap

 

.... o ....

 

Did the Buddha preach the Dharma, or did he not preach the Dharma?

 

Author: Tâm Diệu

Translated by Nguyên Giác

 

 To comprehend the profound teachings of Buddhism, students of Buddhism must understand and clearly distinguish between the two terms "Ultimate Truth" and "Conventional Truth."

  

The Buddha relied on worldly truth to speak Dharma in order to save sentient beings from the cycle of birth and death. His aim was to reveal the true nature of the existing mind to sentient beings, so that they could make their own efforts to practice and liberate themselves from the suffering of birth and death. This would enable them to leave the world of conventional truths and reach the world of ultimate truth.

 

That's why Nagarjuna Bodhisattva said, "For the sake of sentient beings, the Buddhas speak the Dharma based on the Two Truths: the first is the conventional truth, and the second is the ultimate truth. Anyone who is unaware of these two truths cannot understand the profound meaning of the Dharma. If one does not rely on conventional truths, one cannot see the truth; if one cannot see the truth, one cannot realize Nirvana."

 

The conventional truth, also known as secular truth, is a compound word: "secular" refers to worldly, and "truth" denotes truth. Conventional truth refers to the consensus among secular individuals, also known as relative truth or secular reality. All phenomena arise due to conditions, known as dharmas, and they arise and pass away in this world.

 

As for the ultimate truth, it is a compound word signifying genuine truth, not falsehood. It represents the absolute truth, the supreme truth, the truth of highest significance, the true mind, the nature of awareness, or suchness.

 

What is the absolute truth? No one knows, except the enlightened Buddhas and Patriarchs. They also cannot inform us. The entire teachings of the Buddhas are expedient methods. The Buddha utilized worldly dharma, the conventional truth, to teach living beings so that they could comprehend the absolute truth, just as he did, perceiving no distinction between the mind of Buddha and the mind of any worldly being. The same mind is inherently self-sufficient and vast across space and time.

 

Indeed, the teachings of the Buddha and the Patriarchs are often misinterpreted due to the confusion and pollution of the reader's mind. When the mind is consumed by greed, anger, and ignorance, as well as contradictory delusions, and by clinging to attachments of existence or non-existence, that is the moment of turmoil. Sogyal Rinpoche, a renowned Tibetan master, compares our mind to being enclosed in a vase, stating that "the space inside the vase is the same as the space outside. When the practitioner achieves enlightenment, it is akin to seeing a vase shattered into pieces. Right then and there, the practitioner directly perceives that space has never had any separation or difference."

 

Because the minds of sentient beings are constantly arising and passing away, always attached to the existence or non-existence of the phenomenal world (i.e., the worldly truth), the Buddha found it difficult to articulate the Dharma that he realized, such as Buddha nature or the true mind, which has no form or quantity. If we assert that sentient beings possess Buddha nature, we embrace the mistaken concept of existence. If we deny the existence of Buddha nature, we are holding onto an illusion. If we assert that Buddha nature both exists and does not exist, it leads to a contradiction. If we assert that Buddha nature is neither existent nor nonexistent, it becomes nonsensical. That's why Buddha used the concept of worldly dharma, which refers to half-truths in verses, names, and words. Where there was no Buddha, he still claimed that there was a Buddha. Similarly, even in the absence of Bodhi, Nirvana, or liberation, the Buddha still informed the audience that it was Bodhi, Nirvana, or liberation. Understanding that the listeners were unable to carry a load of hundreds of kilograms, the Buddha temporarily allowed them to carry either one vase or one cup. The Buddha understood that his listeners struggled to believe in teachings with ultimate meanings. Therefore, he temporarily shared teachings that did not have ultimate meanings, allowing beneficial worldly teachings to circulate temporarily, rather than allowing harmful beliefs to arise.

 

Because this absolute truth is very difficult to understand, live with, and interpret, the Buddha sometimes had to use similes. As in the Lotus Sutra, Buddha used seven examples, two of which are well-known: the house on fire and the story of the wandering son. There are also numerous other sutras, including the Sutra of One Hundred Similes (Bách Dụ Kinh), the Sutra of Multiple Similes (Tạp Thí Dụ Kinh), the Jataka Tales (Bồ Tát Bổn Sanh Kinh), and more. In numerous sutras, the Buddha employed metaphors with profound meanings to illustrate the absolute truth, which cannot be directly conveyed in words because words can only express worldly ideas that have shape and form in the realm of duality.

 

Similarly, the Enlightened Patriarchs are unable to provide us with the absolute truth; instead, they rely on parables, such as the story of the turtle and the fish, to illustrate their points. The turtle emerged from the water, moved around on land, and then returned to the water. It swam alongside the fish and shared stories about the land. The fish, having never left the water, cannot imagine an environment where it can survive without water and without swimming. Consequently, the turtle had to bear the reputation of speaking about wild nonsense that had no basis in reality.

 

The absolute realm to which the Buddha was enlightened—such as the true mind, nature of awareness, and suchness—cannot be explained to ignorant people. For that reason, people sometimes criticize Buddhism as being too sublime, too abstract, and disconnected from reality. But that is the essence of Buddhism.

 

The Diamond Sutra is one of the most profound sutras, delving into the essence of Buddhism and the absolute truth, asserting that there is truly no dharma to speak of. The Buddha's teachings in this sutra assist sentient beings in overcoming their relative understandings, inherent wrong views, and long-standing entanglements that are significant causes of the cycle of reincarnation. These factors have led sentient beings into an almost eternal cycle of birth and death.

 

The Buddha rejected all attachment to views and stated that he never claimed to preach the Dharma. The Diamond Sutra states: "Subhuti! Do not let the Tathagata think that the Buddha taught the Dharma. Please do not think like that. Why? If anyone claims that the Tathagata spoke the Dharma, it implies that this person is criticizing the Buddha and does not understand my teachings. Subhuti! To speak the Dharma is to say that there is no Dharma to say; that is called speaking the Dharma."

 

Buddha does not discuss the absolute truth, the true mind, Buddha nature, or True Suchness, as these concepts cannot be expressed in the relative language of the world. He only employs mundane language, or the secular truth, to guide sentient beings. However, mundane language, which is conditioned dharma, is inherently empty. It appears through the combination of causes and conditions and therefore cannot indicate the unconditioned truth.

 

When preaching the Dharma, the Buddha always spoke the truth. Sometimes the Buddha discussed conventional truth, and at other times, he discussed absolute truth. If we fail to comprehend this, we may perceive many of the Buddha's teachings as contradictory, leading to misunderstanding or confusion.

 

For example, in the Mahaparinirvana Sutra, the Buddha said,

 

"All formations are impermanent;

they are the phenomena of birth and death.

When birth and death come to an end,

cessation is bliss."

 

The first two lines indicate that all phenomena in the secular world are impermanent; they are all subject to birth and death. The last two lines imply that once birth and death cease to exist, what will remain is blissful peace. This world is a realm of relative birth and death. As for the world on the other shore, the absolute world, there will be no birth and no death. If we do not have a clear understanding of the conventional truth and the ultimate truth, we may mistakenly believe that the Buddha made contradictory statements. In fact, Buddha always spoke the truth. The first two lines express the conventional truth, which pertains to the realm of relative phenomena, where birth and death occur. The last two lines pertain to the absolute realm, which represents the ultimate truth. In this realm, there is no birth or death; it is the world of dharma nature, or the world of inherent essence.

 

At this point, we return to the verse of Bodhisattva Nagarjuna mentioned in the opening of this article. Bodhisattva teaches us that if we cannot distinguish between relative truth and absolute truth, that is, worldly truth and ultimate truth, then we cannot fully comprehend Buddhism. Due to this lack of understanding and lack of distinction, we ambiguously interpret the Buddha's words to mean that the Absolute Dharma cannot be conveyed, and mistakenly believe that the Buddha did not speak about the Relative Dharma. This unintentionally leads to slandering the sutras, which contain the essential words of the Buddha. He employed everyday language and conventional truths to instruct ordinary people on how to gradually advance on the path of renouncing the phenomenal world in order to reconnect with their essential nature. If we fail to comprehend this and believe that the Buddha did not teach the Dharma, we may lose faith in the sutras and miss the chance to possess an accurate guide to rediscover the true nature of the absolute mind.

 

(Excerpted from the book Live The Buddhist Teachings, Hồng Đức Publishing House, 2014)

 

.... o ....




Tháng 3 bắt đầu những cơn nóng. Nóng của thời tiết, và nhiệt tăng của thời thế. Chiến tranh nóng hấp Trung Đông nhắc nhở một lần định mệnh vang rền thế kỷ trước trên quê hương dấu yêu. Tháng 3 đang nhường bước cho tháng 4 nghiệt ngả sắp kề, như câu thơ Nguyễn Xuân Thiệp, tháng ba xuống khu rừng. bóng quạ / rung những nhánh cây. màu tàn lửa... Trong bầu khí hâm hấp đó, tôi đọc “Đuổi bắt một mùi hương” (*) của Phan Tấn Hải, không hẹn mà tập truyện mang lại một sự thanh thản, dịu mát bất ngờ
- Sứ điệp Phục sinh từ Đức giáo hoàng: mọi người hãy buông vũ khí xuống, chọn lựa hòa bình - Trump gõ chữ, chửi thề như mưa trên mạng, đòi Iran mở lại Eo biển Hormuz, nếu không thì Mỹ vào ngày Thứ Ba sẽ xóa sổ tất cả các nhà máy điện và bắn gãy tất cả cầu của Iran. - Trump thú nhận: Đầu năm 2026, Mỹ đã gửi vũ khí qua người Kurd tới ngững người biểu tình ở Iran nhưng thất bại - Ân xá Quốc tế lên án những lời đe dọa ‘ghê tởm’ của Trump - Iran: Bồi thường chiến tranh, mới chịu mở lại Eo biển Hormuz - ứu thành công: Núp trong rặng núi, phi công Mỹ rớt máy bay chỉ có 1 súng lục tự vệ. Hàng trăm biệt kích Mỹ nhảy toán vào vùng bán kính 3 kilomet tới cứu, phi cơ Mỹ bắn cản đoàn quân xa Iran tới vây
150 tỷ phú thuộc khối ASEAN có tên trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes đã chứng kiến ​​tổng khối tài sản của họ sụt giảm 10% – tương đương 61,9 tỷ USD – xuống còn 549,1 tỷ USD trong tháng 3, giảm từ mức 611 tỷ USD của tháng trước đó.
Hy vọng rằng bản tin này sẽ trở thành đóa hoa tặng độc giả trong mùa Lễ phục sinh 2026: Carl Huynh, một sinh viên gốc Việt tại đại học Brigham Young University (BYU), Utah, rủ các bạn khởi động chương trình tặng hoa và bánh mỗi Thứ Năm trong tuần cho những người tình cờ gặp trên phố.
Câu hỏi bây giờ là cậu Barron Trump, 20 tuổi, con trai của Tổng Thống Trump và đệ nhất phu nhân Melania, có nên bị bắt lính khi nước Mỹ tổng động viên hay không? Báo The Hearty Soul hôm 3/4/2026 có bài viết của phóng viên Zain Ebrahim tựa đề "People furious over this 'medical reason' that would prevent Barron Trump from a military draft" (Dư luận phẫn nộ trước 'lý do y tế' khiến Barron Trump được miễn nghĩa vụ quân sự)
• Tuần Lễ Gió Lốc Của Trump: Chiến Sự Iran, Giá Xăng Và Hai Phi Cơ Bị Bắn Rơi • Mỹ Ráo Riết Tìm Phi Công Mất Tích Sau Khi Iran Hô Thưởng Bắt Sống • Thẩm Phán Bác Đề Nghị Của DOJ Về Trát Đòi Nhắm Vào Powell • Cây anh đào già tại Tokyo đổ sụp giữa mùa hoa gây lo ngại an toàn • Hegseth Lo Ngại Bị Thay Thế Bởi Bộ Trưởng Lục Quân • Phó Tổng Thống Vance Gây Ngỡ Ngàng Khi Đưa Hình Nhà Thờ Chưa Từng Ghé Qua Lên Bìa Hồi Ký Tôn Giáo • Biến Thể Covid Ba.3.2 Lan Tới 29 Tiểu Bang • Khảo Sát Mới Cho Thấy Hình Ảnh Của Ông Trump Trên Thế Giới Suy Giảm Mạnh • 23 Tiểu Bang Kiện Ông Trump Về Sắc Lệnh Hạn Chế Bỏ Phiếu Qua Thư • Người Đàn Ông Bị Bắt Ở Viện Dưỡng Lão Vì Vụ Giết Vợ Xảy Ra Từ Hơn 30 Năm Trước
Tất cả trẻ em tại Hoa Kỳ đều bị cưỡng bách đi học, và các em sẽ học miễn phí cho tới lớp 12. Ngay cả trẻ em trong gia đình di dân lậu. Lý do, không đi học sẽ trở thành cao bồi, du đãng, tương lai sẽ là gánh nặng hình sự. Nhiều tiểu bang đỏ buộc trẻ em ghi danh học phải ghi rõ có phải là nhập cư lậu hay không.Hơn 600.000 trẻ em cơ nguy thất học.
Một chiến đấu cơ F-15E của Hoa Kỳ đã bị bắn rơi trên lãnh thổ Iran hôm thứ Sáu, và quân đội Mỹ sau đó đã cứu được một người trong phi hành đoàn, theo lời các giới chức Hoa Kỳ. Chiếc F-15E vốn có hai người điều khiển, vì vậy hiện vẫn còn một cuộc tìm kiếm, cứu nạn đang được tiến hành để truy tìm người còn lại. Trước đó, lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đã lên tiếng nhận bắn hạ một chiến đấu cơ Mỹ ở miền trung nước này, trong khi hình ảnh và video lan truyền trên mạng xã hội cho thấy có thể đã có phi cơ vận tải C-130 và trực thăng Black Hawk của Mỹ bay thấp trên vùng trời Iran để tìm kiếm và thu hồi quân nhân còn lại.
• Giáo Hoàng Leo XIV Vác Thánh Giá Hôm Nay, Bác Lối Mượn Danh Chúa Mà Gây Chiến • Hoa Kỳ Oanh Kích Cầu Gần Tehran, Mở Rộng Mục Tiêu Sang Hạ Tầng Iran • Hegseth Buộc Tướng Randy George Nghỉ Hưu Sớm • Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Yêu Cầu TSA Bỏ Quy Định “Mang Giày”, Lo Ngại Rủi Ro An Ninh • Tổng Giám Mục Quân Đội: Khó Coi Cuộc Chiến Iran Là Điều “Được Chúa Bảo Trợ” • Kinh Tế Hoa Kỳ Thêm 178,000 Việc Làm Trong Tháng 3, Thất Nghiệp Hạ Còn 4.3% • Cuba Ân Xá Hơn 2.000 Tù Nhân Giữa Lúc Bị Hoa Kỳ Gia Tăng Sức Ép • Trump Sa Thải Pam Bondi, Đưa Todd Blanche Lên Quyền Bộ Trưởng Tư Pháp • Macron Đốp Lại Trump, Âu Châu Bực Bội Vì Chiến Tranh Iran • Tòa Bạch Ốc Yêu Cầu 1.5 Ngàn Tỷ Mỹ Kim Cho Quốc Phòng • Trump Đánh Thuế 100% Một Số Thuốc Có Bản Quyền, Nhân Dịp Kỷ Niệm “Liberation Day” • Iran Nói Bắn Rơi Một Chiến Đấu Cơ Hoa Kỳ, Hai Phi Hành Đoàn Đang Được Tìm Kiếm? • California Siết Luật AI, Trở Thành Phép Thử Cho Cả Nước • Thẩm Phán Liên Bang Buộc Khôi Phục Quy Chế Pháp Lý Cho Người Tị Nạn
Ông Carlos đến văn phòng Cơ Quan Thực Thi Di Trú Và Hải Quan (ICE) tại New Mexico vào Tháng Mười Hai. Ông tin rằng mình sắp được đoàn tụ với các con. Vào thời điểm đó, con trai 14 tuổi và con gái 16 tuổi của ông đã ở trong một trại giam người liên bang tại Texas gần một năm sau khi họ vượt biên để tìm ông. “Con cảm thấy như mình đang ngạt thở bên trong trại tạm giữ này, bị mắc kẹt không lối thoát,” con trai của Carlos nói thông qua một luật sư, khi được hỏi về cảm xúc sau nhiều tháng tại cơ sở ở khu vực Houston. “Mỗi ngày đều là cảm giác đó. Mỗi ngày đều cảm thấy bế tắc. Điều đó khiến con cảm thấy vô vọng và khiếp sợ.”
Ngày 19 tháng 3 năm 2026. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết họ sẽ bổ sung thêm 12 quốc gia vào danh sách các quốc gia mà công dân của họ phải đặt cọc khoản tiền bảo lãnh lên đến 15,000 Mỹ kim để xin chiếu khán diện không di dân của Hoa Kỳ. Bắt đầu từ ngày 2 tháng 4, người mang Sổ thông hành của Campuchia, Ethiopia, Georgia, Grenada, Lesotho, Mauritius, Mông Cổ, Mozambique, Nicaragua, Papua New Guinea, Seychelles và Tunisia sẽ phải đóng khoản tiền đặt cọc này.
Sky River Casino bước vào tháng 4 với đà tăng trưởng mạnh mẽ giữa mùa xuân, nổi bật với Chương Trình Biếu Tặng Xe Audi Q7 trị giá $1,000,000 đang diễn ra, sự trở lại của Giải Đấu Blackjack Hàng Tuần trị giá $130,000, cùng dịp kỷ niệm tổng số tiền thưởng Jackpot Lũy Tiến bài bàn vượt mốc $1 triệu trong tháng 02.
Một thẩm phán liên bang tại Washington đã phán rằng sắc lệnh của Tổng thống Donald Trump nhằm chặn ngân khoản liên bang dành cho NPR và PBS là vi hiến, vì vi phạm Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Thẩm phán Randolph D. Moss, thuộc Tòa Án Liên Bang khu vực District of Columbia, viết trong phán quyết rằng chính quyền không được dùng quyền lực công quỹ để “trừng phạt hoặc dập tắt” những quan điểm mà mình không ưa. Ông kết luận sắc lệnh mang tên “Ending Taxpayer Subsidies for Bias Media,” do Trump ban hành vào tháng 5 năm 2025, đã vượt qua ranh giới mà Hiến pháp đặt ra và vì vậy là “unlawful and unenforceable” — trái luật và không thể thi hành.
Tại Miami, Người dân gốc Venezuela đã xuống đường nhảy múa sau khi lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ thực hiện vụ bắt cóc Tổng thống Nicolás Maduro và vợ vào ngày 3 tháng 1 năm 2026. Tại Los Angeles, sau khi Mỹ cùng Israel tấn công Iran vào ngày 28/02, cộng đồng người Iran đã tổ chức tuần hành để bày tỏ sự ủng hộ đối với Reza Pahlavi, con trai của vị Quốc vương (Shah) cũ. Trên khắp Hoa Kỳ, các cộng đồng di dân đang có vai trò ngày càng quan trọng hơn trong các cuộc tranh phiếu chính trị giữa hai đảng. Các cộng đồng người Mỹ gốc Cuba, Venezuela, Iran, Trung Quốc, Việt Nam… khi tham gia vào đời sống chính trị ở Mỹ thường gắn liền với những diễn biến ở tổ quốc. Kể từ khi tổng thống Trump trở lại Tòa Bạch Ốc vào đầu năm 2025, các chính sách nhập cư cứng rắn, việc cắt giảm ngân sách y tế, cùng chính sách đối ngoại hung hăng đang làm phân cực các cộng đồng nhập cư.
Một gia đình tại địa phương cho biết họ đã mất gần 100.000 USD liên quan đến một đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam tại Quận Orange (California), công trình vốn đang bị vướng vào một vụ gian lận. Bức tường tưởng niệm này đã bị dỡ bỏ sau khi nguồn tiền dùng để xây dựng nó được xác định có liên quan đến cựu Giám sát viên Andrew Do – người hiện đang bị kêu án vì vướng vào nhiều tai tiếng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.