Hôm nay,  

Giống Như Một Ngày Tựu Trường

13/06/202500:00:00(Xem: 1895)
 
Minh họa Đinh Trường Chinh
Minh họa Đinh Trường Chinh
Hôm nay giống như một ngày tựu trường. Đơn giản, vắng một thời gian không ngồi ở lớp học, nay trở lại, thế là tựu trường. Ngày còn bé, mỗi lần nghỉ hè xong, lên lớp mới, trong lòng vừa hồi hộp vừa vui sướng. Có bao nhiêu chuyện để dành chờ gặp bạn là kể tíu tít. Nhưng bên cạnh đó là nỗi lo khi sắp gặp các thầy cô mới… Mỗi năm đều có ngày tựu trường như vậy, nói chung là khá giống nhau, trong đời học sinh.

Nhưng cái ngày tựu trường này thật quá khác. Người ta nhìn nhau không dám cười, không dám chào hỏi. Sự e dè này, dường như mỗi người đã được tập luyện qua một năm. Một năm “học chính trị” trong cái gọi là hội trường mà tiền thân là cái rạp hát. Đoan tự hỏi một năm đó có làm mình biến đổi không. Mà nếu có, chắc mình cũng không thể nhận ra. Một năm cũng là thời gian để mọi người tập quen với cảnh thảo luận theo tổ, nhóm. “Tổ trưởng” bao giờ cũng là một người “rất cách mạng,” ít ra là trong cái nhìn của chính họ. Và bao giờ họ cũng tự nhắc và nhắc với người khác là họ hơn hẳn những người kia một cái đầu.

Đoan thấy nao nao khi biết rằng đây là buổi đầu cho lớp lý thuyết về Hóa Học. Không biết rồi mình sẽ gặp lại một trong số các thầy cũ hay không? Nhìn quanh, cũng có nhiều bạn chào nhau bằng cách gật đầu nhè nhẹ. Và mọi người cũng không phải chờ lâu. Một người thầy mới đang bước lên bục giảng.
Hình như có một thứ âm thanh nào nghe như những tiếng thở ra, cùng một lúc. Người thầy tự giới thiệu rồi bắt đầu bài giảng ngay. Một bài Hóa Học căn bản! Đoan nhìn qua người bạn bên cạnh. Chị này cũng tròn mắt nhìn lại Đoan. Hai ánh mắt cùng ngầm nói: “Mình đang bước vào lớp Sáu trung học?”
Ông thầy, áo sơ mi ngắn tay, mang đôi dép nhựa cũ, đọc tên hóa chất:

“Na tờ ri cờ lo rua”
“Na tờ ri ni tờ rít”
“Chất ma-giê.”

Bỗng dưng cả lớp cười ồ lên, không nén được. Bất lịch sự quá! Học trò gì kỳ vậy? Những câu tự trách ngầm lướt qua ánh mắt. Ông thầy khựng lại vì tiếng cười ấy, luống cuống. Nhưng rồi ông lại tiếp tục giảng, đọc, và ghi lên bảng. Những tiếng “Ồ” đồng loạt tạo thành tiếng sóng lao xao. À ra thế! Chữ đầu là NaCl, chữ thứ nhì là NaNO2, chữ thứ ba là “Mg” (Magnesium) vậy mà không ai hiểu. Lại cười! Nhiều bạn lắc đầu chán nản.

**

Hết giờ trong giảng đường, Đoan đi đến Phòng thực tập Ký Sinh Trùng. Lòng bồi hồi khi thấy lại nơi thân quen của mình. Đã lâu không vào đó. Những buổi trưa yên vắng, sau giờ học ở giảng đường, Đoan cùng Mỹ ở lại làm việc phụ Thầy Tính trong này. Hai đứa cắm cúi vẽ, hoặc chuẩn bị tiêu bản để đến buổi chiều Thầy dạy nhóm sinh viên đàn em của mình. Đoan rảo bước nhanh. Đến trước cửa phòng thực tập đóng kín, Đoan đứng lại, tưởng tượng khi bước vào sẽ gặp Thầy Tính. Ông sẵn sàng giao ngay công việc cho Đoan. Rồi bỗng nhớ lại câu nói của ông làm Đoan choáng váng trong cái ngày mọi người xao xác hoang mang ấy:

“Tôi là V.C. đây? Chị nghĩ sao? Chị có sợ không?”
“Dạ thưa Thầy, nếu V.C. mà giống như Thầy, thì… con không sợ ạ!”

Lúc đó, Đoan tự hỏi mình có nói thật lòng không, hay là mình nói cho cứng rắn như vậy để bớt sợ? Lại nghĩ về cái sợ, Đoan nghe như Thầy Tính đang nói:
“Không có gì phải sợ cả. Chị còn trẻ, chưa biết nhiều về thời cuộc. Tôi tin rằng chị sẽ sớm hòa nhập vào cuộc sống mới.”

 
Đã một năm trôi qua, Đoan thấy khá rõ cuộc sống mới đó. Mỗi một cảnh đời đều thay đổi, có khi đảo ngược. Bên cạnh cái thực tế mọi người thấy hàng ngày hàng giờ, là những buổi ngồi cứng trong rạp hát để học chính trị. Một năm không hề động tay đến sách vở. Đoan không hiểu sao mình cũng có thể ngồi cứng, thẳng tưng như tượng để ghi ghi chép chép. Làm sao khác hơn? Ai cũng nghĩ rằng thôi thì chịu đựng, sau một năm sẽ được đi học chuyên môn trở lại. Phải chăng nỗi chờ nào cũng giống nhau? Như những người chờ trong tù “cải tạo” để thấy le lói một tia nắng tự do? Hết năm nay, và chờ đến bao năm? Chưa ai biết!

Đoan lan man nghĩ ngợi, hầu như quên mất động tác quen thuộc là mở cửa. Nơi đây giống như nhà của mình. Nhưng cánh cửa đã bật mở. Một người trông quen quen xuất hiện. Là anh sinh viên học trên Đoan một lớp, đã ra trường. Đoan nhớ ra, chào anh. Anh Hân. Đoan hỏi Thầy Tính. Anh nói Thầy Tính không có ở đây. Đoan thắc mắc:


“Anh Hân…”
“Tôi làm ở đây, thay Thầy Tính.”
“Thầy Tính… xin nghỉ hở anh?”
“Ồ, không, thầy Tính đi mất rồi!”
“Sao anh? Thầy Tính đi đâu ạ?”
Anh Hân nhìn quanh, nói nhỏ:
“Nghe nói thầy ấy vượt biên.”

Đoan đưa bàn tay lên miệng như để ngăn tiếng kinh ngạc. Nhìn vẻ mặt của Đoan, anh Hân thở dài:

“Tôi cũng không ngờ. Thầy ấy xưng mình là cách mạng, hiến nhà, hiến xe, cuối cùng… đi mất.”

Đoan nghe lùng bùng trong tai, như tiếng của Thầy Tính:

“Chị hãy nhớ một điều: sống trong chế độ này, chỉ cần mình yêu nước, yêu dân tộc là đủ.”

“Thế hở Thầy? Thế Thầy có yêu nước không ạ?” Đoan nghe mình hỏi như vậy, rồi tự trả lời:

“Những gì Thầy nói là không thật lòng, thưa Thầy!”

Rồi quay sang anh Hân:

“Vậy anh Hân thay Thầy Tính?”

“Vâng, nhà trường mời tôi làm, chỉ để tạm tiếp nối công việc, cho các lớp thực tập bắt đầu, chờ cho có người ngoài Bắc vô làm trưởng labo thật sự. Mà này, chắc Đoan đã biết là các sinh viên phụ phòng thực tập không còn được tiếp tục làm nữa?”

Đoan ngơ ngác:

“Sao ạ?”

“Đoan và những bạn làm phụ trong các labo phải nghỉ, trường sẽ tuyển các sinh viên mới.”

“Ô, em hiểu.”

Đoan chào anh Hân, không muốn nói thêm nhiều với anh. Anh Hân cũng là một người “mới nổi” sau này, trông có vẻ hiền lành nhưng khó hiểu.
 
**

Người ta có thể làm màu làm mè khi huênh hoang trong đám đông, nhưng không thể giả dối lúc tận tụy làm việc một mình. Mà thầy Tính đã từng như thế, lặng lẽ.

Đoan đứng im trong hành lang vắng trước thư viện. Nắng đã chan hòa khắp sân trường. Nhưng một khoảng tối đang ùa vào tâm trí. Trong khoảng tối ấy, những gương mặt thiếu vắng đang hiện ra. Từ sáng giờ không thấy Mỹ. Lúc ở trong giảng đường Đoan không nghĩ tới Mỹ, có lẽ vì không mong gặp bạn ấy, vì Đoan đã chọn lánh xa dần người từng “động viên” Đoan viết lại. Nhưng khi đến phòng thực tập mà không gặp Mỹ thì rõ là chuyện hơi lạ, vì Mỹ cũng như Đoan, là hai sinh viên làm việc cùng nhau phụ giúp Thầy Tính. Mỹ cũng siêng năng như Đoan, lẽ nào Mỹ không trở lại để mong tiếp tục công việc?
Và, ôi Phước Hương kìa! Anh đã trở lại.

“Chào Đoan.”

“Chào anh Phước Hương. Anh… đã về trường? Anh không…”

“Phải. Tôi về thăm trường. Tôi đã xin nhập ngũ ngay vào những ngày cuối, Đoan cũng biết rồi đó, nhưng ý định này không thành. Sau đó tôi phải về quê giúp gia đình. Đoan khỏe chứ?”

“Dạ Đoan khỏe. Rồi… anh có đi học tiếp không?”

“Tôi không biết nữa. Bây giờ tôi phải lo sinh kế. Vả lại, tôi thiếu một năm học chính trị, chắc họ không cho học lại đâu!”

“Anh liên lạc với họ coi sao, chắc họ sẽ…”

Phước Hương cười:

“Họ sẽ mở lớp đặc biệt cho tôi học? Tôi không nghĩ thế. Thôi không sao đâu! Nhiều người đã bỏ học, vì cuộc sống khó khăn, hoặc vì bi quan chán nản.”

“Anh có bi quan không?”

“Có một chút. Nhưng mình còn trẻ, cứ sống đi! Và sống thế nào thì chưa nói chắc chắn được.”

Phước Hương chợt nhớ ra một điều, hỏi nhỏ:

“Đoan có nghe tin của Mỹ?”

“Dạ không. Sáng nay không gặp Mỹ ở labo, Đoan cũng thắc mắc.”

“Tôi chỉ nghe qua một chị bạn, chị này biết gia đình của Mỹ. Chị ấy nói Mỹ cùng chồng và đứa con trai nhỏ vượt biên rồi, không biết đã đi thoát chưa.”
Đoan im lặng.

“Ngạc nhiên hở Đoan? Tôi nghe nói Mỹ rất… “nhiệt tình cách mạng” phải không Đoan?”

“Dạ…”

“Thôi, dù sao thì… mình cũng cứ sống đi! Chúc Đoan may mắn. Phần tôi, nếu có thể, tôi sẽ xin học lại.”

“Dạ. Đoan mong gặp lại anh.”

Cuộc gặp ngắn ngủi với Phước Hương khiến Đoan thấy nhẹ lòng. Ít ra cũng có một chút gì thân quen đột nhiên xuất hiện. “Cứ sống đi!” Phước Hương nói thế.

Đoan vào thư viện. Những bàn ghế vắng người. Đâu đây như có bóng dáng của Phước Hương lúc trưng bày tranh anh vẽ trong một cuộc triển lãm. Đâu đây như có Xuân và Mỹ cùng ngồi học chung với Đoan, ôn bài mỗi ngày. Xuân đã vắng từ những ngày đầu. Nay Mỹ cũng đi rồi. Bộ ba Bắc Trung Nam của ban văn nghệ trường đấy!

Đoan mỉm cười, vui vẻ lẫn chua chát, khi bàn tay hờ hững mở quyển vở ra, viết vào đầu trang còn để trắng bóc từ sáng đến giờ:
“Hôm nay ngày tựu trường. Na tờ ri ni tờ rít!”
 
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
(Trích Chuỗi truyện ngắn “Những Ngày Nắng Vỡ”) 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.