Hôm nay,  

Trừu tượng

17/08/202518:32:00(Xem: 1552)

Regarding_One 


Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó. Nhưng, choáng ngợp hơn, vì khi đứng trước tranh, tôi thấy ngay như đứng trước một chiếc gương ma lực.

Nếu có triết gia nào đó cho rằng nghệ thuật là mô phỏng, thì bức tranh này, tác giả đã chết trước đó nhiều năm, đang mô phỏng chính bản thân tôi.

Những giọt màu, hình như chỉ là sơn tường,  được nhỏ xuống, trải rộng ngang dọc, khá đều, hàng ngàn, hàng ngàn giọt. Càng nhìn, tôi thấy ngay tôi đang vỡ ra hàng ngàn, hàng ngàn giọt như thế. Những nét cong, sắc nét, như ngàn ngàn cung nữ Trung Quốc múa lụa, hoặc ngàn ngàn thanh kiếm, hoặc nét chữ thảo Ả Rập, đủ màu rực rỡ. Càng cảm nhận, tôi càng giống ngàn ngàn sợi chỉ rối, luôn quay cuồng chuyển động. Chính lúc này, tôi có đủ 3 chiều, cao rộng sâu, hoặc hơn thế nữa. Qua Mỹ được một số năm, tôi vẫn nửa ngọng, nửa điếc, nửa mù (chữ). Nửa người nửa ngợm nửa đười ươi. Tôi là một con người chính trị, hay một con người kinh tế? Vẫn còn một tôi khác. Tôi là ai? Câu hỏi đơn giản này, vẫn ám ảnh cho đến nay. Tôi ư? Thấy vậy mà không phải vậy.

Thế là bức tranh như một tiếng sét đánh. Bản lai chân diện mục. Nhìn ra cái thực của mình. Càng nhìn càng rõ.

Tôi có thể biến mất vào bức tranh, và trong đó, không có thời gian.

Tôi là chính bức tranh. Hoặc ngược lại.

Trước đó, chắc vài năm, một lần lái xe một mình qua miền tây nước Mỹ, tôi dừng lại giữa sa mạc, và nằm ngửa trên mui xe, nửa đêm, bầu trời chỉ là một bức tranh khổng lồ chi chít những vì sao, hoặc ngàn triệu dải ngân hà, những vệt sáng sao chổi chụp xuống. Bản vẽ của vô cùng. Tôi cũng có cảm giác mình nhỏ bé, và biến mất giữa vũ trụ. Chỉ là tấm Gương Trong, như trang kinh thiền Trúc Lâm, nhìn vào, hay nhìn lên, đều trong suốt. Không có ta và cũng không có cái không ta.

Tôi đã giữ kín những điều này, không kể lại với ai. Ngoại trừ giải thích lý do với cô bạn gái, tôi qua New York chỉ để xem bức tượng Nữ Thần Tự Do cầm đuốc cao cả trăm mét ngay sát bờ biển Đại Tây Dương. Suốt tháng 5-1989, cứ khi rảnh, tôi xem trực tiếp truyền hình, ngày và đêm, cảnh tượng hàng ngàn hàng ngàn thanh niên Trung Quốc biểu tình đòi tự do ở quảng trường Thiên An Môn, trong đó họ đã dựng lại một tượng Nữ Thần Tự Do thu nhỏ, đẩy vòng quanh quảng trường. Như một bó đuốc cháy bỏng trong tim. Đầu tháng 6 năm đó, truyền hình trực tiếp bất ngờ bị tắt. Khi đọc báo, thì tôi biết là xe tăng và quân đội Trung Quốc đã tràn vào, cán bẹp cuộc biểu tình này. Có thể hàng ngàn người chết, bị thương bị bắt giữ. Tôi vừa không thích chuyện chém giết, vừa thương, vừa ngưỡng mộ những người thanh niên Trung Quốc, làm một chuyến sang New York (rất tốn) chỉ để xem tự do là cái gì, mà sao có quá nhiều người hy sinh vì nó.

Thế là chuyện này đẩy sang chuyện khác, trước New York, tôi chưa từng xem tranh triển lãm, càng không hề biết đến tranh trừu tượng. Bỗng nhiên, nhờ vào một bức tranh, nhìn được bản thân, nhìn được cái gì đánh mất. Sau đó mỗi ngày soi gương, tôi hay nhớ bức tranh này đang được bảo vệ ở New York. Tôi chỉ là một bức tranh trừu tượng. Tôi chỉ là một bản vẽ. Hoặc tôi chỉ là một chuyện bịa. Nếu là một chuyện bịa, cũng là bình thường, vì nó phản ánh con người luôn mặc cảm và che đậy của tôi. Nếu cứ lặp đi lặp lại, bất cứ điều gì cũng có thể thành sự thực, như ở dưới chế độ phát-xít hay cộng sản thế kỷ trước, hoặc trên chính trường Mỹ bây giờ. Tôi hay lặp đi lặp lại điều này. Và, cho đến nay, tôi vẫn chỉ là một chuyện bịa có thực.

– Lê An Thế
5-2025

Ý kiến bạn đọc
27/08/202505:52:08
Khách
Bài viết khiến tôi thấy tranh trừu tượng không còn là ‘màu sắc hỗn độn’ mà trở thành tấm gương phản chiếu bản ngã. Tôi rất thích cách anh liên hệ trải nghiệm thẩm mỹ với triết lý thiền và cả biến cố xã hội. Chính sự đan xen giữa cá nhân – nghệ thuật – lịch sử làm cho bài viết không chỉ là hồi ức mà còn là một suy tư sâu sắc về thân phận con người.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.