Hôm nay,  

Có còn là mộng dưới hoa không?

10/10/202500:00:00(Xem: 1424)
 
Mộng dưới hoa 
  
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! »
 
Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện.
 
Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…
 
Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…?
 
Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
 
Khái niệm về chằn được hiểu là những sinh vật có sức mạnh thể chất, hình tướng hung dữ, sở đắc nhiều tài phép biến hóa khôn lường, phẩm chất thiện ác tùy thuộc vào từng loại khác nhau, cũng có thể biến đổi đến chỗ hoán đổi xấu tốt vô lường… tùy không gian, tùy cảm hứng tự thân, tùy hoàn cảnh và lịch sử văn hóa.
 
Ta gọi chung là chằn tinh, nhưng nguồn gốc thì có ba loại:
1/ A Tu La Asura
2/ La Sát Rashashi
3/ Dạ Xoa Yaksha và có Dạ Xoa nữ.
 
Trong văn hóa Bà La Môn, cả ba loại này đều có phẩm chất khác (nghĩa là có xấu, có tốt) khi chúng được phật giáo hóa.
 
Atula – Asura
Atula được biết nhiều, thấy nhiều trong các bản khắc miêu tả cảnh khuấy sữa, gốc từ thần thoại Ấn Độ và ở quốc gia còn chịu ảnh hưởng Ấn Độ như ở di tích Angkor, Angkor Wat, Angkor Thom bên cạnh thần thoại Khmer.
 
Trong tín ngưỡng Indou, Atula có lúc mang ý nghĩa như bậc thần thánh, siêu phàm, có lúc được kể như linh hồn hay bậc thần linh tối cao. Có lúc lại kể như kẻ quỷ quái hay kẻ thù địch Vệ Đà, có một Atula được mang tên là Bình Minh là mang ý tốt lành, và thần Indra (gọi là Đế Thiên) là người chỉ huy các Deva đó. Chỉ huy các Atula đó.
 
Nói chung khởi thủy các Atula đều giỏi giang và có phẩm chất đạo đức tốt, dần dần va chạm nhau, trở nên ngạo mạn và tự phụ, rồi thách thức cả chư thiên… những mâu thuẫn này cho ra hiện tượng sấm sét. Có hai Atula là Ramasua và Mêkhala giành nhau một viên ngọc quý do một bát sữa cô đọng lại mà thành. Cứ mỗi lần trời chuyển mưa, Mêkhala bay lên không trung tắm liền bị Ramasua tung búa lên đánh, hai lưỡi búa đập vào nhau tóe lửa, phát ra tiếng nổ kinh hồn. Họ bảo rằng hiện tượng sấm sét thường xuyên do hai Atula đánh lộn mà ra.
 
La Sát – Rashashi
Có nhiều từ ngữ và tính cách mô tả La Sát, theo đặc điểm và hành vi, La Sát Araras là kẻ giết người, kẻ hay xúc phạm và làm tổn thương, cũng là kẻ ăn cắp đồ cúng hiến, La Sát này rất tráng kiện và khỏe mạnh trong lúc chạng vạng tối. Chúng là loại tham ăn, háu ăn. Chúng có một số phép thần thông là bay lượn hay biến mất, hay tăng giảm kích cỡ thân hình. Loại La Sát này rất đa dạng. Có La Sát hai chân, có loại La Sát ba chân hay bốn chân. Có lúc La Sát là một con mèo, một con chó, một con trăng hay con ngựa hoặc một con voi.
 
Nói chung, đa phần các La Sát là ác, nhưng cũng có những La Sát hoàn thiện. Tính chất hai mặt này thấy ít nhiều trong kinh văn phật giáo, có nghĩa là có những La Sát quay đầu lương thiện sau khi được nghe phật pháp. Đó là trường hợp La Sát Ravana đã thỉnh phật thuyết pháp, và cuộc thuyết giảng này được ghi chép thành Kinh Lăng Già, kinh Lankavatara. Lấy tên núi Lanka đặt tên cho kinh. Núi này ở biển Nam Hải, cao chót vót nhìn xuống biển cả mênh mông, mô tả này để hành giả hình dung ra đó là một hòn đảo, La Bà Na hung ác đã biết dành sự tôn kính  cho Như Lai sau khi nghe thuyết giảng. Thoạt khởi đầu chỉ là họ tò mò mà tới quan sát chư phật xem phật nói gì.
 
Dạ Xoa – Yaksha
Tiếng Việt gọi là Dạ Xoa, xấu như quỷ Dạ Xoa chẳng hạn, trong các ngôn ngữ, có nhiều tên gọi khác nhau, tiếng Sanskrit gọi là Yaksha, tiếng Pali là Yakkha, tiếng Hoa gọi là Ycha, Khmer gọi là Yăk… về giới tính, có Dạ Xoa nam, Dạ Xoa nữ.
 
Dạ Xoa vốn là tên gọi chỉ một loại nhiên thần có Dạ Xoa xấu, cũng có Dạ Xoa đẹp, rất đẹp. Chứ không phải người ta hay nói xấu như quỷ Dạ Xoa!
 
Thường thần thoại coi Dạ Xoa là kẻ nhân từ, chuyên trong coi các kho tàng châu báu trong hang hốc, các kho tàng tự nhiên ẩn trong đất vùi trong rễ cây.
 
Dạ Xoa này được mô tả nhiều trong các thần thoại Hindou giáo và kinh văn phật giáo.
 
Trong thần thoại Hindou và cả phật giáo, Dạ Xoa có cá tính kép, một mặt là vị tiên cô xinh đẹp vô thưởng vô phạt gắn kết với núi rừng.
 
Nhưng bên cạnh cô tiên xinh đẹp đó, còn có một kiểu Dạ Xoa nham hiểm ở những nơi hoang vu, vắng vẻ, thường rình rập để ăn thịt lữ khách, như phù thủy ăn thịt bà cháu cô bé quàng khăn đỏ vậy. Dạ Xoa này khởi điểm là những bà La Sát bảo vệ rừng và đồi núi hoang vu, sau đó được quan niệm như các vị thần giám sát trần gian và của cải nơi họ tá túc.
 
Dạ Xoa nam và Dạ Xoa nữ, cả hai đều là những người hầu cận canh giữ của cho vị thần tài Ấn Độ rất xa xưa, tên gọi Kubera trong kinh Vệ Đà, Kubera là vị thống soái cai quản quỷ và các thần linh sống trong bóng tối. Tức là một vị Diêm Vương. Sau này, Kubera cũng được hiểu một nghĩa khác là ông thần tài, vì trong đất có nhiều của cải cung điện của Kubera ở trên dẫy Himalaya, trong một khu vườn của ngọn núi Tu Di sơn, ngọn núi cao của trung tâm vũ trụ Me Ru (= núi Tu Di) cha con Kubera làm chúa tể các kho báu, của cải, quý giá và được làm vua xứ Lanka (được gọi là Tích lan, Srilanka) sau Kubera có một em trai, rồi gia đình xích mích xô xát vì các cô La Sát xinh đẹp.
 
Tất cả thần thoại ở các quốc gia Ấn hóa ở Đông Nam Á, tín nhiệm về Yaksha thâm nhập sâu sắc và bắt nguồn từ truyện kể các chằn, La Sát, Dạ Xoa của sử thi Ramayalia. Sử thi này lưu truyền sang Nam Việt Nam, được coi là sáng tác văn học nền tảng Miến Điện, Lào, Khmer, Thái Lan… tất cả không phải là một nền văn học để kể, nghe và đọc; mà còn từ đó tạo ra các sản phẩm sân khấu, các hình thức diễn tuồng dân gian và tạo dựng nên vô vàn các tác phẩm điêu khắc, trang trí, hội họa giá trị, thâm nhập khá đậm đà vào tâm thức cộng đồng miền Nam Việt Nam… Ấn tượng là hình ảnh cô Dạ Xoa có lúc được nhắc tới lui nhiều lần trong dân giả…
 
Yaksha cũng được coi là thuộc hạ, tay chân của ông thần tài. Ở Đông Nam Á Yaksha nhận vai trò canh giữ đền chùa, tháp. Là một hình ảnh rất đẹp về mỹ thuật, kiến trúc và cả lịch sử.
 
Ở một khía cạnh khác, sâu sắc hơn, là tính chất hai mặt khác biệt của chằng tinh, dù là A Tu La, hay La Sát hay Dạ Xoa được lưu giữ trong tín lý phật giáo với những biểu hiện thiện ác khác nhau thì A Tu La hay La Sát cũng được coi là một loại chúng sanh. Một loại chúng sanh mà có lúc gặp duyên biết hồi đầu hướng thiện bơi vào bờ!
 
Nhìn, nghe toàn cảnh thế giới chúng ta hôm nay, thiệt hỗn loạn rối ren như chưa từng bao giờ có.
 
Cầu mong sao các La Sát người và các Dạ Xoa, A Tu La người trần thế này, sẽ có lúc phát khởi có hai mặt hoán đổi và biết làm lành tránh dữ như chằng tinh xa xưa…
Cầu mong lắm thay!
Nam Mô Bái Bạch kinh Lăng Già Lankavatara
 
Paris vào thu 2025
Chúc Thanh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .
Ngày xưa rất xa xưa, ở vùng quê thôn dã, người dân sống giản dị, đơn sơ, mộc mạc; người ta trồng tỉa những vườn rau cải, vườn ngô, vườn cà… lấy hoa lợi để sống. Thường thường có chim chóc kiếm ăn đến phá phách, dãi dãi, mổ mổ những hạt mới ươm trồng hay những nụ hoa mới ra, chúng ăn, với con người trồng tỉa lấy hoa lợi là chúng nghịch ngợm và phá hoại, ăn khín. Mới đầu chúng đến một vài con, sau rủ nhau đến nhiều hơn, cả nhà cả đàn chim chóc… và người gia chủ trồng tỉa phải tìm cách bảo vệ hoa màu của họ, nguồn sống của họ.
Người đàn bà với tay kéo tấm bạt vải phủ hai mặt bàn thấp và lổng chổng mấy cái ghế úp lại phía trên. Buổi chiều tháng chín nhả vài vệt nắng vàng sậm trên mấy lùm cây mắm khẳng khiu mọc hoang dại bên hông. Căn nhà chia làm hai, phía trên mặt lộ làm quán lộ thiên, phần còn lại là căn nhà sàn nằm doi ra mặt bờ kinh Cụt. Mặt quán cũng được biến dạng mỗi ngày. Sáng có cà-phê, hàng xôi và thuốc lá. Buổi trưa là quán cơm bình dân cho đám khách hàng chợ Giữa, đến từ các huyện xa xôi. Tối đến, chỉ còn vỏn vẹn thùng thuốc lá bán lẻ. Tất cả sinh hoạt biến dạng dưới bàn tay của người đàn bà và đứa con gái nhỏ. Người ta nhìn thấy trong đôi mắt nâu đen của hai má con in đậm hình ảnh căn nhà chật chội, bày biện lượm thượm những ghế bàn buồn bã, lạnh lùng. Bóng dáng người đàn bà và bếp lửa áo cơm, vẫn không đủ vẽ lên khung cảnh đầm ấm của một gia đình. Đứa con gái mười bốn tuổi, giống má, lầm lũi như chiếc bóng trong nhịp đời hờ hững.
Ai cũng có những hoài niệm mang theo cả cuộc đời, hoài niệm ngày càng nhiều theo tuổi tác dâng lên, người may mắn có nhiều hoài niệm vui hơn buồn để khi chợt nhớ thấy lòng vui vui. Ai cũng có những ước mơ thầm kín để khi hoài niệm thấy mình còn là người, giả như ước mơ cho người yêu cũ có cuộc sống hạnh phúc. Điều ấy nói ra ai tin nên xếp vào ước mơ thầm kín, còn những ước mơ nói ra được chỉ là hoang tưởng nhất thời như thấy chiếc xe đẹp lướt qua, ước gì mình có chiếc xe ấy. Nhưng giả sử ngày mai trúng số, có tiền mua chiếc xe ấy thì ước mơ nói ra được hôm qua đã thay đổi thành chiếc xe mắc tiền hơn nữa và đẹp hơn nữa vì là chiếc xe của hôm nay, của người mới trúng số. Khác với ước mơ thầm kính vui buồn riêng mang coi vậy mà theo ta như hình với bóng, càng thầm kín càng bền lâu sau nỗi buồn chia xa đã gặm nhấm tâm can theo tháng ngày, nghe tin người xưa không hạnh phúc thì nỗi buồn tăng lên gấp đôi nhưng nói ra ai tin trong trời đất bao la này…
Truyện HOÀNG CHÍNH - Thứ Mùa Màng Không Có Thật
Má Chanh mất rồi, đưa vô bệnh viện bị má khó thở, rồi bà đi rất mau, đi ngay trong phòng khám. Ông nói một hơi rồi lặng lẽ khóc… khóc ấm ức, nghẹn! Cứ nhìn ông già khóc vợ nghẹn lời, mà nhớ lại nhiều lần ông còn như muốn kể lể: Cuộc tình của ba với má Chanh gián đoạn rồi kết nối nhiều lần mà không đáng buồn vì là cuối đời ba vẫn yêu quý má, má vẫn yêu thương ba như ngày đầu mới gặp…
Thật khó mà nói về mình khi bước vào tuổi 90-cái tuổi lớn nhưng không thừa, đôi khi lại thiếu- Ở tuổi 90, sức khỏe xuống cấp, lôi theo sự trì trệ thoái hóa của não bộ, trở nên bảo thủ. Đôi khi lại phấn chấn, một chút quá khích, muốn bước thêm những bước dài nữa thì bị hụt hơi. Ngày xưa hăm hở viết, cứ tưởng mình đắc thủ tư tưởng cổ kim nhiều lắm. Bây giờ ở tuổi 90 lại thích đọc, như tim về nơi trú ẩn, tự an trí mình.
Câu chuyện ngày nay kể về một chuyện ngày xưa, một ngày của thuở hồng hoang loài người; hằng triệu năm trước, khi một mảnh đất trên địa cầu, sau cơn địa chấn, tách ra và trôi dạt về phương Nam, ngày càng xa thẵm và nó trôi đến phía cực Nam của trái đất, dừng lại một nơi chốn tận cùng, rồi một biên giới được dựng lên bởi bức tường Băng Tuyết vĩnh viễn. Trên mảnh đất xa xôi, ngàn năm cô đơn ấy, một loài chim Cánh Cụt ríu rít sống bên nhau, yêu thương che chở nhau cho đến chết vì nhau.
Lúc tôi đậu thanh lọc, được chuyển từ trại “cấm” sang trại tự do, tinh thần vui vẻ, tôi không có ý định tiếp tục công việc ở post office mà muốn thử công việc mới, làm thiện nguyện 3 jobs không hề mệt mỏi . Sáng sớm dạy lớp English Vỡ Lòng cho người lớn tuổi tại trường ESL, sau đó chạy “show” qua trường Việt Ngữ dạy Tiếng Việt cho các em nhỏ, và thời gian còn lại trong ngày làm việc là dành cho Văn Phòng Cao Ủy Định Cư.
Tôi đang đổ xăng, bỗng có người thanh niên tiến đến nên tôi cảnh giác xem anh ta muốn gì? Anh ấy không có thái độ gây hấn hay gì hết, ngược lại là nụ cười xã giao dễ mến và và hành lễ khoanh tay là điều đã hiếm thấy ở giới trẻ Việt trên nước Mỹ bây giờ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.