Hôm nay,  

Xin Lỗi Anh Long

01/04/202602:50:00(Xem: 1499)
kim loan
Hình của tác giả.



Hai anh em tôi ngồi trong quán nước bến xe Bà Hạt, lát sau có một thanh niên khoảng gần 30 tuổi tiến đến, chúng tôi nhận ra anh Long vì tuần trước, anh và chủ tàu vượt biên là anh Minh có đến nhà tôi để bàn bạc và thỏa thuận giá cả chuyến đi.

Ba người bắt tay nhau, anh Long tiếp:

-       Cô và anh ngồi đây, tôi còn đi đón thêm người.

Lát sau, anh dẫn đến một phụ nữ cùng cậu thiếu niên chừng 14 tuổi và bé trai cỡ 8 tuổi, anh giới thiệu:

-       Đây là Loan, còn đây là chị Cải và hai con trai của chị ấy: Sơn và Cu Tí. Tôi sẽ là người dẫn đường, là trưởng nhóm, từ đây cho đến khi qua Cambodia, trước khi lên tàu ra khơi mọi người phải đi theo tôi, nghe lời hướng dẫn của tôi!

Vừa lúc đến giờ lên xe đò, anh Long dặn:

-       Chút nữa trên xe sẽ có 3 nhóm khác, tổng cộng là 4 nhóm, tính luôn các trưởng nhóm thì khoảng hơn 20 người, tất cả đều “quen”, nên cứ việc nói chuyện thoải mái, nhưng luôn nhớ nghe lời trưởng nhóm khi có bất cứ việc gì cần thiết.

Mọi người bắt đầu lên xe, tôi quay lại vẫy tay chào anh tôi, rồi đi xuống phía cuối xe, nơi có 3 cô gái đang ngồi hàng ghế chót, còn dư một chỗ, tôi liền ngồi vào đấy. Tôi chẳng biết anh Long ngồi chỗ nào, xe lăn bánh, tiếng nói chuyện bắt đầu rì rào. Tám giờ tối, gió mát mẻ, những phố xá lùi lại phía sau, xe hướng về đồng ruộng vắng vẻ, trực chỉ Long An. Tôi muốn nhắm mắt nghỉ ngơi vì cảm xúc nhớ nhà bắt đầu làm lòng tôi thổn thức, nhưng ba cô gái bắt chuyện hỏi han, mới biết cả bốn đứa chỉ hơn kém nhau 1 tuổi, từng học cùng mái trường, chỉ là khác khóa, khác lớp. Cơn buồn ngủ tan biến, chúng tôi nói chuyện về trường lớp suốt đoạn đường dài cho đến gần nửa đêm khi nhiều người trên xe đang ngon giấc, anh Long bỗng xuất hiện từ phía sau ghế, cúi xuống nói với tôi:
-       Chút nữa xe đến biên giới, cửa khẩu Mộc Hóa, chúng ta sẽ nghỉ qua đêm tại một quán ăn ven đường.

Tôi thắc mắc:

-       Sao mình không đi xuyên đêm luôn hả anh?

-       Giờ này trạm cửa khẩu đóng cửa, ngày hôm sau họ mới làm việc lại.


Bốn đứa dừng nói chuyện, nhìn qua khung cửa xe nao nức chờ đợi phút giây nhìn thấy biên giới dù bên ngoài tối đen.

Xe dừng lại, mọi người xuống xe, màn đêm tĩnh mịch, quán ăn duy nhất giữa đồng có chút ánh đèn le lói, bên trong các bàn ghế xếp gọn gàng. Một người ra lệnh:

-       Ai theo nhóm nấy, lên bàn ngủ, sẽ có mùng mền đem ra. Các nhóm trưởng nằm ngoài hiên hoặc trong xe.

Cô bạn trong ba cô bạn mới quen đề nghị:

-       Nhóm tụi mình ngoài 3 đứa còn có một cặp vợ chồng, hay là tụi mình hỏi ban tổ chức đổi Loan qua bên đây, cặp kia qua bên đó?

Cô bạn khác gạt ngay:

-       Thôi khỏi làm phiền ai. Khác nhóm nhưng vẫn gặp nhau, nay mai lên tàu qua Thái chung cả tàu, lo gì!


Tôi đồng ý rồi bước đến chỗ mẹ con chị Cải đang nằm, mùng mền hẳn hoi, hầu như ai cũng mệt nên chỉ hơn chục phút sau cả quán im lìm, chỉ nghe tiếng ngáy đều trong khuya vắng.

Hơn 6 giờ sáng đã nghe lục đục trong quán, tôi mở mắt, thấy anh Long đang ngồi uống cafe ở chiếc bàn trong góc quán, một vài chiếc mùng cuối cùng cũng đang dọn dẹp, trả lại không gian cũ cho quán. Anh Long nhắc tôi sau khi đánh răng rửa mặt ra ăn sáng. Ai ăn xong sớm thì đi bộ ra ngoài quán, tha hồ ngắm cảnh biên giới, vì đến giữa trưa xe mới chạy qua cửa khẩu, đó là giờ nhóm lính canh gác chịu ăn hối lộ.

Trời đứng bóng, xe chuẩn bị vượt qua cửa khẩu, để tránh sự nghi ngờ và giảm bớt tiền hối lộ, chỉ có người lớn tuổi và trẻ em được ngồi trên xe, còn lại chúng tôi phải đi tắt dưới ruộng lúa khoảng một cây số. Đường ruộng khô cứng, gập gềnh, tôi cố đi nhanh nhưng vẫn bị bỏ lại phía sau. Anh Long thỉnh thoảng dừng lại, chờ tôi, mỉm cười:
-       Cô đúng là tiểu thơ đi vượt biên!

Tôi chống chế:

-       Tại đường ruộng em đi chưa quen.

-       Cô mới vượt biên lần đầu sao?

-       Dạ không, nhưng lần trước đi đường biển miền Tây, khi đang còn nằm tập kết chờ “taxi” đã bị giải tán, có lội ruộng bao giờ đâu!


Rồi cũng ra tới đường lộ, leo lên xe đã chờ sẵn, tiếp tục chuyến hành trình. Trời trưa nắng cháy, cảnh vật hai bên đường nghèo nàn, lác đác có vài căn nhà sàn và bóng người. Càng về gần thủ đô phố xá đẹp hơn, nhà cửa san sát, người qua lại đông hơn. Đến chiều, xe tiến vào Phnom Pênh, qua cây cầu đá dài, có người nói:

-       Đây là cây cầu nổi tiếng của Phnom Pênh, cầu mang tên Sài Gòn.


Xe dừng dưới chân cầu, trước một quán ăn bề thế, tấp nập người ra vào. Một số người chạy đến vây quanh xe, hỏi chúng tôi bằng tiếng Việt “Đổi tiền Riel không bà con ơi!?”. Tôi và ba cô bạn không có tiền để đổi, (có dấu trong người vài chiếc nhẫn vàng  phòng khi hữu sự), vì khi còn ở Việt Nam, chúng tôi đã nộp một số tiền cho ban tổ chức, là tiền mà các người dẫn đường sẽ lo chuyện ăn uống, chỗ ở, xe cộ trong thời gian chờ ngày xuống tàu ra khơi. Tuy nhiên, có một số người vẫn có tiền, họ đổi tiền riel để xài riêng. (Sau này, trên con đường bị bắt giam hai lần tại Cambodia, và tại bãi biển Thailand, tôi mới thấy có tiền rất hữu ích, vì mỗi lần gặp “khó khăn” cần chi tiền vẫn tốt hơn là phải đưa ra cái nhẫn vàng, họ có “thối lại” tiền đâu!).

Xong vụ đổi tiền, cả đoàn kéo vào quán ăn cơm, chủ quán người Việt, các món ăn rất ngon, vì Phnom Pênh nằm giữa dòng chảy sông Mekong và Tonle Sap nên cá tôm tươi rói, ê hề . Mẹ con chị Cải gọi cá kho tộ, canh chua. Bàn bên cạnh mấy cô bạn cũng gọi cùng món, tôi đang phân vân thì anh Long gợi ý:

-       Nếu cô thích ăn tôm thì nên gọi cơm tôm càng kho tàu, món ngon nhất quán đấy.


Tôi nghe theo lời “thổ địa”, nhìn dĩa cơm lấp lánh màu gạch tôm, với bắp cải đậu que luộc và chén nước mắm ớt, tôi ăn ngon lành, đúng là không có chỗ nào chê.

Cơm nước xong, từng nhóm đón xe lam về nhà trọ (xe đò đưa chúng tôi đến Phnom Pênh đã xong nhiệm vụ). Tôi say sưa ngắm cảnh phố phường mà quên mất thân phận vượt biên. Nhà trọ là căn nhà lầu đúc hai tầng, rộng rãi, bên trong chẳng có đồ đạc gì ngoài cái sàn nhà lót gạch bông mát rượi. (Chủ nhà xưa kia khá giả, nay thời thế thay đổi, như Sài Gòn sau 1975, làm nhà trọ để kiếm sống). Mỗi nhóm được một cái mùng to, không mền gối, cứ đem hành lý vào  mùng, muốn ngủ kiểu nào thì ngủ. Ngoài chúng tôi, còn nhiều khách khác, là dân đi buôn lậu hàng hóa Thái-Cam mang về Việt Nam bán lại, họ nói chuyện bằng tiếng Việt và tiếng Cam, ồn ào cả cái nhà trọ. Chúng tôi 4 nhóm được giăng mùng sát nhau, nên ngồi trong mùng nói chuyện, ai mệt thì ngủ, ai thức cứ thức vì các âm thanh hỗn độn nơi đây không bao giờ ngưng.


Sáng hôm sau thức giấc, chỉ còn một mùng của nhóm tôi. Anh Long giải thích:

-       Các con buôn đã thức dậy từ sớm, và các nhóm của chúng ta cũng đã ra khỏi đây, tôi thấy cô và mẹ con chị Cải ngủ ngon quá, không nỡ đánh thức.


Chị Cải áy náy:

-       Mấy mẹ con tui đêm qua ham vui, đến 2 giờ sáng mới chợp mắt, tui xin lỗi nếu làm ảnh hưởng đến đoàn.

-       Đâu có gì gấp! Chúng ta sẽ phải đổi nhà trọ mỗi ngày để tránh bị chú ý, chờ ngày đi cảng Kampong Som xuống tàu, còn bây giờ là đi “tham quan” chợ Olympic và ăn trưa.


Năm người đi bộ, từ nhà trọ khoảng 6-7 blocks đường là đến chợ. Ngôi chợ kiểu như chợ Bến Thành, các gian hàng san sát nhau đủ loại, vì đây là chợ đầu mối lớn nhất Cambodia lúc bấy giờ. Vào chợ, tôi ngạc nhiên vì nhiều tiểu thương nói sành cả hai tiếng Việt-Cam. Chúng tôi thong thả ngắm từng gian hàng, lúc này mới biết chị Cải là dân Việt gốc Hoa, từng sống ở Cam một thời gian, nên chị nói sành sõi cả ba thứ tiếng. Chị mua một vài món đồ cho hai thằng con, rồi quay qua nói với tôi:

-       Mua ít đồ phòng hờ cần xài khi qua trại tỵ nạn.


Anh Long hỏi tôi:

-       Cô Loan thích mua gì không, tôi sẽ mua cho?

-       Dạ thôi, em có mang theo vài món đồ khô dùng trên tàu khi cần thiết.

-       Ý tôi là hàng lưu niệm kìa!

-       Đi vượt biên chớ có phải du lịch mà mua đồ lưu niệm?

-       Thì mua để sau này cô đi định cư mang theo, gọi là kỷ niệm xứ Cam.

-       Xa vời quá, dù sao cũng cám ơn anh.


Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời.

Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông. Nhà trọ mới, nhỏ hơn nhà trọ hôm qua, được dọn sạch tầng dưới cho hơn chục người khách, tầng trên có hai mẹ con chủ nhà sinh sống và nhận luôn việc nấu cơm cho khách, tôi vui sướng gặp lại ba cô bạn. Chúng tôi xúm vào kể chuyện đi chơi Phnom Penh, và tán dóc với chủ nhà qua lời thông dịch của chị Cải. (anh Long bỏ đi đâu đó, sau này mới biết, họ luôn chạy đôn chạy đáo như con thoi, để liên lạc với ban tổ chức, chờ lệnh tiếp theo).


Gần đến giờ cơm chiều, tôi bỗng bị ói mửa, lên cơn sốt nhẹ, có lẽ vì tôi uống quá nhiều nước thốt nốt ngoài chợ, và lang thang cả buổi ngoài trời nắng. Chị Cải đưa tôi thuốc hạ sốt, rồi tôi chợp mắt ngủ. Tỉnh dậy khi bên ngoài đã chạng vạng tối, tôi tỉnh táo hơn, anh Long hỏi:

-       Cô ăn cháo nhé, tôi đã nhờ chị chủ nhà nấu, những người khác đã ăn cơm xong rồi.


Tôi lắc đầu:

-       Em không muốn ăn cháo, em chỉ thèm một tô hủ tíu mì.

-       Giờ này lấy đâu ra hủ tíu mì cho cô?

-       Hồi trưa trên đường về đây, em thấy quán mì ngay góc đường!

-       Cô tinh mắt nhỉ, không lo cảnh giác lính Cam mà chỉ thấy hàng hủ tíu mì. Nhưng nếu tôi dẫn cô ra đó, sắp đến giờ giới nghiêm, loạng quạng gặp tên lính Cam hỏi giấy tờ, cô lại không biết tiếng Cam, là nó mời về đồn ngay đấy.

-       Thì anh đi mua về cho em.


Chị Cải và mấy cô bạn cũng góp lời, rằng một tô hủ tíu mì sẽ giúp tôi mau lại sức hơn là tô cháo trắng ăn với cá khô. Anh đành khoác thêm chiếc áo sơ mi rồi đi ra ngoài, lát sau xách về tô mì nóng hổi. Ba cô bạn cười nắc nẻ:

-       Anh Long ơi, nhìn anh rảo bước vội vã trong trời mờ tối, áo bay phất phới, xách cái cà-mèn, chẳng khác gì đang chăm vợ đẻ.

Anh tủm tỉm cười:

-       Ối dào, chăm vợ đẻ cũng chẳng vất vả bằng chăm tiểu thơ vượt biên, cho đúng phương châm “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi”.


Vài ngày tiếp theo, đổi vài nhà trọ, cho đến một ngày tại nhà trọ ngoài nhóm tôi ra, không có nhóm quen, nhưng có 5-6 người Việt khác, anh Long bảo họ cũng sẽ xuống tàu vượt biên với chúng tôi. Buổi chiều anh Long mang cơm về rồi thông báo, sáng sớm mai sẽ đi thành phố cảng KamPong Som. Ăn xong, mọi người  ngồi uống trà ăn bánh, vì còn sớm, tôi và anh Long mang trà ra ngoài hiên nhà nói chuyện. Biết tôi là cô giáo ở Việt Nam, anh trầm ngâm:

-       Tôi cũng suýt nữa làm thầy giáo đấy.

-       Thế à! anh dạy môn gì?

-       Tôi đậu Cao Đẳng Sư Phạm môn Toán, Lý, nhưng chiến tranh Tây Nam bùng nổ, tôi phải đi “nghĩa vụ quân sự” qua Cambodia.

-       Nhưng ba năm sau anh sẽ được giải ngũ và về học lại chứ?

-       Trên lý thuyết là như thế, nhưng vào cuộc chiến rồi bị kẹt thêm mấy năm nữa, đến khi thế giới yêu cầu Việt Nam rút quân ra khỏi Cam. Dầu sao, cũng có chút an ủi cho tôi, khi ở chiến trường, nhiều lần tôi đã có dịp dạy Toán cho các đồng đội người Việt và người Cam.

-       Rồi sao anh không về nhà?

-       Anh Minh chủ tàu kêu tôi ở lại giúp anh tổ chức đường dây vượt biên. Giai đoạn này Cam còn trong giai đoạn “chuyển tiếp” nên tham nhũng hối lộ tràn lan, các chuyến đi thành công dễ dàng. Có lúc tôi tính nghỉ nhưng thâm tình với anh Minh khiến tôi dùng dằng mãi đến giờ. Tuy nhiên, công việc này kiếm khá nhiều tiền, tôi đã xây nhà cho bố mẹ, cho tiền các em làm vốn đầy đủ, hơn hẳn làm thầy giáo nghèo, cô nhỉ?

-       Vậy sao anh không đi vượt biên ra nước ngoài, sau này bảo lãnh gia đình?

-       Không! Tôi là Bắc Kỳ mới, không phải Bắc Kỳ di cư như cô, lại là bộ đội, khi qua trại sẽ bị phân biệt, khó được các phái đoàn chấp nhận . Đã có nhiều trường hợp đồng đội của tôi, vượt thoát qua Thái, đa số vẫn ăn dầm nằm dề ở trại, có người nản chí quay trở về Cam, có người cũng đã tự tử ngay ở trại, sau này cô qua trại sẽ thấy những gì tôi nói là sự thật.

 

Tờ mờ sáng, chúng tôi ra bến xe, nơi đây các xe chở hàng chạy bằng than cũ kỹ, sẽ dừng lại đón thêm khách. Mỗi khi có xe trờ tới, đám đông xô lấn leo lên, cuối cùng anh Long cũng đưa tôi và mẹ con chị Cải vào một xe bé xíu, bên trong chất đầy bao bố hàng hóa, anh dặn:

-       Chút nữa khi vào cửa ngõ thành phố Cảng, sẽ có một trạm kiểm soát, cô cứ bình tĩnh như những gì tôi dặn tối qua.

Quả thật, xe chạy hơn một tiếng thì bị chặn lại, hai người lính Cam cầm súng AK lục soát xe, chất vấn tài xế, rồi hỏi tôi mấy câu, đại khái là đi đâu, đến đó làm gì, đến câu thứ ba tôi không biết trả lời, (vì học được đúng 2 câu), anh lính chĩa súng vào tôi ra lệnh bằng tiếng Cam, ra hiệu xuống xe. Chị Cải trả lời trơn tru nên được thoát, anh Long bước xuống theo tôi, nhìn vào trạm gác ngay lề đường, thấy ba cô bạn, đôi vợ chồng và hai chú lớn tuổi cũng đứng đó. Anh nói nhỏ bên tai tôi:

-       Vậy là yên chí, tám người cứ vào đấy “nghỉ ngơi” vài ngày, ban tổ chức sẽ chuộc ra.


Đúng như anh nói, chúng tôi bị giam trong căn phòng phía sau trạm gác, có cơm nước do ban tổ chức đưa đến. Chiều ngày hôm sau, có tin nhắn buổi tối sẽ có 4 chiếc xe ôm đến đón đưa ra biển. Trời vùng biển tháng 12 tối thui, bốn chiếc xe phóng đi trong màn đêm, tôi nghe tiếng gió phần phật bên tai. Bỗng có tiếng xe đuổi theo phía sau, tiếng súng bắn chỉ thiên và tiếng chó sủa, bốn chiếc xe ôm tạt vào lề, là khu vườn lau sậy mênh mông, họ quát tháo bằng tiếng Cam, hối thúc chúng tôi xuống xe, rồi họ chạy biến đi trong đêm.

Chúng tôi, theo bản năng sinh tồn, chạy như bay vào vườn lau sậy, chạy càng nhanh càng xa, bất chấp phía trước mịt mùng, tránh xa tiếng chó sủa bắt đầu yếu dần rồi im hẳn phía sau. Mệt lả người, chúng tôi dừng lại, gọi tên nhau khe khẽ, tìm được 5 người, là tôi và hai cô bạn với hai vợ chồng, còn hai chú kia và một cô bạn chẳng thấy đâu. Anh thanh niên bảo, tạm thời là an toàn, nhưng đêm tối thế này, chúng ta nên ngồi xuống, chờ trời sáng tính tiếp, nếu buồn ngủ thì thay phiên nhau ngủ. Nhưng chẳng ai ngủ được, năm người ôm túi hành lý, dựa vào nhau, mắt mở thao láo. Chừng nửa tiếng sau, có ánh đèn pin và tiếng chân người lạo xạo, có hai người nói chuyện bằng tiếng Cam, rồi có tiếng gọi:

-       Loan ơi! Loan ơi!


Tôi mừng rỡ nhận ra giọng anh Long, liền la lên:

-       Tụi em ở đây anh ơi!


Anh Long cầm đèn pin và một anh lính Cam đeo súng, tìm được chúng tôi, anh thở phào:

-       Vậy là đủ người rồi, đi thôi.


Anh Long đi bên cạnh tôi, thấy tôi vừa đi vừa run rẩy, anh lấy trong túi quần ra một chiếc khăn rằn, khoác lên người tôi:

-       Cô ráng giữ ấm, kẻo lên cơn sốt như hôm ở nhà trọ thì mệt lắm, ở đây không có ai đi mua hủ tíu mì cho cô đâu!


Ra tới đường cái, bên kia đường là một trại lính khá kiên cố, có vọng gác và hàng rào kẽm gai xung quanh. Bước vào cổng trại, trong khi chờ anh lính đi gặp cấp trên, anh Long nói với chúng tôi trước khi chia tay:

-       Đây là nhà giam cuối cùng, sau khi dàn xếp bên ngoài xong xuôi, là lên tàu ra biển.


Nhà giam, là một phòng khá rộng, có vẻ là hội trường của trại, chúng tôi vui vẻ đoàn tụ toàn bộ những người trên chuyến xe đò hôm nào, và thêm một số người khác, tổng cộng là 41 người, sẽ cùng chung chuyến tàu ra khơi.


Hơn một tuần ở nhà giam sướng như tiên. Ngày hai buổi họ mở cửa cho ra ngoài, vệ sinh tắm rửa, vận động chân tay. Cơm phục vụ đầy đủ do nhóm tổ chức cho người mang đến. Vui nhất là buổi tối, rảnh rang, có chàng hài hước kể chuyện cười vỡ bụng, có chú kia thích kể truyện Tàu, chị Cải kể chuyện từng sống ở đảo Baklon của Cam, nhóm trẻ chúng tôi xúm lại ca hát. Đêm mệt thì mỗi người gối đầu trên hành lý, chẳng có mùng mền vẫn ngủ ngon lành.


Chiều hôm đó anh Long xuất hiện với người đưa cơm, anh vào trong ăn với chúng tôi và nói: “Tối nay ra khơi!”. Ai nấy lo dọn dẹp hành lý, không cười đùa nữa vì biết giây phút quan trọng sắp đến. Từng nhóm ngồi rải rác trong phòng, im lặng, ánh đèn ngoài sân hắt vào phòng mờ ảo. Một cô lớn tuổi đứng lên:

-       Xin mọi người vẫn ngồi yên vị, những người Công Giáo sẽ cùng đọc kinh. Còn ai có đạo gì có thể cầu nguyện riêng.

Rồi cô xướng kinh, anh Long ngồi kế bên tôi cũng đọc theo, từng lời kinh rõ mồn một. Hết 50 kinh, tôi hỏi:

-       Anh có đạo à?

-       Ừ, tôi gốc Bùi Chu mà! Sau 1975, gia đình tôi dọn vào khu Kinh 9, Cần Thơ ở đến nay.

Tôi chuyển đề tài, hồi hộp:

-       Em lo quá anh Long ơi.

-       Cô yên tâm, phần khó khăn trong đất Cam đã xong, chút nữa lên tàu ra biển, nếu thời tiết thuận hòa, nếu máy tàu êm xuôi, thì giờ này ngày mai cô đang ở bờ biển Thailand.

-       Nghe mấy cái “nếu” của anh cũng đủ làm em run rồi. Từ trước đến nay, có chuyến nào đi bị thất bại, tàu chìm, hoặc gặp hải tặc không?

-       Chắc chắn không có hải tặc vì tàu chạy ven biển. Các tàu ra khơi đều đến nơi bình an. Chỉ có hai lần khi ở Phnom Penh, nghe tin đường dây nhận hối lộ có mâu thuẫn nội bộ, tụi anh phải đưa khách trở về Việt Nam, vậy thôi!


Tôi yên tâm hơn, rồi nhìn anh, chân thành:

-       Anh Long ơi, em muốn nói lời cám ơn anh, suốt thời gian qua đã chăm lo cho mọi người thật nhiệt tình, chu đáo, riêng em còn được anh “phục vụ” hủ tíu mì ...

Chưa nghe hết câu, anh buột miệng:

-       Qua đếnThái, em ...à không... cô viết thư cho tôi nhé?

Tôi hỏi lại:

-       Anh muốn em viết thư?

Anh bối rối, xua tay:

-       Nói thế thôi, vì lời cám ơn của cô làm tôi nhớ những chuyến đưa người đi trước đây, có cô cũng xinh xinh như cô, nói cám ơn, nói qua Thái sẽ viết thư cho tôi, nhưng rồi chẳng có lá thư nào. Tôi bị mấy lần cho leo cây như thế, nên rất sợ mấy cô xinh xinh hứa nhưng không làm.

-       Anh nói em cũng ... “xinh xinh” ư? Vậy thì anh nghe đây, lời hứa danh dự của em, là khi qua trại, việc đầu tiên em sẽ viết thư cho gia đình và cho anh, để anh thấy không phải cô “xinh xinh” nào cũng hứa lèo, nhưng em gửi thư về đâu ?

-       Cô cứ gửi cho gia đình cô chuyển giùm, vì tôi và anh Minh phải đến nhà cô thâu 3 cây vàng.

Tôi lấy chiếc khăn rằn trong giỏ hành lý:

-       Em gửi lại anh chiếc khăn, và một lần nữa, cám ơn anh thật nhiều, vì tất cả.

Anh cầm chiếc khăn, quàng lên vai tôi:

-       Cô hãy giữ chiếc khăn này, tôi đã mua để tặng cô, làm kỷ niệm xứ Chùa Tháp.


Lúc đó, một chiếc xe nhà binh (xe cam nhông) tiến vào cổng, dừng trước phòng giam, anh Long bật dậy, kêu gọi mọi người mau chóng ra ngoài. Anh và vài thanh niên leo lên xe, lần lượt giúp từng người lên, tôi đang chờ tới lượt thì anh lại gọi tên tôi:

-       Loan! Loan! Ra đây, ra đây!


Rồi đi về phía anh, được anh kéo lên thùng xe, tất cả nằm đè lên nhau, xe chạy vun vút, có khi tôi nghe cả tiếng lá cây cọ quẹt vào thành xe những âm thanh chát chúa. Tới bờ biển, xe dừng lại, các người dẫn đường khác chạy ra từ một bụi cây, hướng dẫn chúng tôi chạy xuống chiếc thuyền đang đậu sẵn. Cả 41 người lên thuyền, nặng chịch, mạn thuyền cách mặt nước chưa đầy gang tay, anh Long kêu những thanh niên biết bơi cùng xuống dưới nước, phụ với nhóm dẫn đường, bám theo mạn thuyền, đưa thuyền đến với chiếc tàu ngoài giữa biển. Đến nơi, anh Minh chủ tàu đứng trên boong rọi đèn pin, hễ ai bước lên là đẩy ngay xuống hầm tàu. Vì anh Long vẫn đang ở dưới biển để đỡ con thuyền khỏi bị lật khi đám người đổ dồn về phía tàu lớn, nên tôi không có cơ hội bắt tay anh tạm biệt. Cái bắt tay tôi đã dự định, cái bắt tay duy nhất, lần đầu cũng có thể là lần cuối, đã không thực hiện được.

Đến trại tỵ nạn Panatnikhom, tôi viết ngay lá thư dài, kể cho gia đình chi tiết chuyến đi, ở đoạn cuối tôi viết cho chị tôi: “Chị Thanh, nhờ chị chuyển lá thư kèm theo cho anh Long khi họ quay lại lấy vàng, nhé!”. Thư cho anh Long chỉ một mặt giấy, viết lại những lời cảm ơn chân thành tôi đã nói với anh đêm cuối, vì mục đích chính chỉ là thực hiện một lời hứa danh dự, để anh bớt thành kiến với mấy cô “xinh xinh” . Viết không đầy một trang, dư chỗ tôi bèn viết thêm địa chỉ của tôi ở trại và nhắn: “Anh Long, nếu có thời gian rảnh thì viết thư cho em, còn nếu bận thì không sao cả! Chúc anh nhiều sức khỏe và may mắn trong cuộc sống”.

Rồi chị tôi thay mặt gia đình viết thư hồi âm, kể cho tôi nghe chuyện gia đình, hàng xóm, và tái bút gọn gàng: “Đã chuyển thư cho Long, em yên tâm”. Đọc thư xong, lòng tôi nhẹ nhàng phơi phới, đã trả nợ xong lời hứa.  

Cuộc sống ở trại có đủ buồn vui, qua vài lần chuyển trại, tôi đánh mất chiếc khăn rằn, kỷ niệm của anh Long và xứ Cam. Đôi khi bốn đứa con gái chúng tôi nhớ về chuyến đi, nhắc đến anh Long, tôi lại thầm nghĩ, chắc anh bận rộn nên không viết thư cho tôi, mà suy cho cùng, có gì để mà viết, nhưng ít ra anh cũng đã hiểu rằng không phải cô “xinh xinh” nào cũng thất hứa.

Sau bốn năm ở trại tỵ nạn, tôi đi định cư Canada. Rồi sau đó hàng năm bay qua Mỹ thăm gia đình tôi cũng đã định cư ở Mỹ. Mới đây, khi nhắc về chuyến vượt biên dừng chân ở Cambodia, tôi nói về anh Long, người dẫn đường dễ thương tận tình, rồi nói với chị tôi:

-       Trong lá thư đầu tiên gửi về nhà, em có nhờ chị chuyển thư cho anh Long, rồi chẳng thấy anh ấy viết cho em dù một lá thư.

Chị tôi... thú tội:

-       Lá thư ấy đã không bao giờ gửi.

Thì ra, chị đã đọc thư, tự kiểm duyệt và tự quyết định. Chị lo xa, sợ tôi và anh Long có tình ý gì sẽ... khổ cả hai, còn nếu không (hoặc chưa) có tình ý gì, thì cũng nên... phòng cháy hơn chữa cháy, xé bỏ lá thư là thượng sách, “an toàn trên xa lộ”.

Tôi giải thích cặn kẽ cho chị nguyên do tôi viết lá thư đó, chị đã hiểu ra, và thấy tiếc nuối ân hận vô cùng. Chị nhớ lúc Long và anh Minh chủ tàu đến nhà tôi lấy vàng, Long có chần chừ hỏi thăm tôi vài câu, có lẽ có ý mong chờ,  nhưng chẳng có lá thư nào cho anh.

Anh Long ơi, nếu anh đọc được bài viết này, thì xin anh nhận nơi đây lời xin lỗi của em, vì đã đánh mất chiếc khăn rằn của anh tặng, và xin lỗi vì ngần ấy năm, em đã để anh thất vọng, tiếp nối vào danh sách các cô “xinh xinh”... thất hứa!

Chị của em cũng gửi lời xin lỗi anh.

Và khi anh đọc đến dòng cuối này, anh hãy xem như đã nhận lá thư năm ấy của em, được không?


Edmonton, Tháng4/2026

KIM LOAN

 

 

 

 

 

 

Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.