Hôm nay,  

Thánh Đường Âm Thanh: Văn Hóa Lắng Nghe Ở Nhật

06/03/202600:00:00(Xem: 838)
Thanh-duong-am-thanh
Katsumasa Kusunose, nhà nghiên cứu lịch sử âm nhạc và người sưu tập bao diêm lâu năm, điều hành tài khoản Instagram @jazz_kissa để ghi chép và lưu giữ truyền thống các quán cà phê jazz tại Nhật Bản. Ảnh: từ tài khoản @jazz_kissa instagram.
 
Giữa ánh đèn vàng ấm của những quán cà phê “Jazz Kissa” tại Nhật Bản, một lớp người mê đĩa nhựa đang gìn giữ một cách thưởng thức âm nhạc mà thời đại ồn ào hôm nay gần như đã quên: ngồi lại với nhau, và nghe cho trọn.

Một chiều thứ Bảy, chúng tôi len qua những con hẻm nhỏ của khu Shimokitazawa ở Tokyo – nơi áo thun cũ treo đầy cửa tiệm, mùi cà ri từ quán ăn bình dân lan ra ngoài phố – để tìm một quán chỉ thấy trên mạng. Khi nhận ra tấm bảng nhỏ treo kín đáo, chúng tôi bước lên cầu thang hẹp, gõ nhẹ cánh cửa không cửa sổ, rồi bước vào một căn phòng ốp gỗ ấm áp, treo rèm hạt và bức tranh vẽ nữ nghệ sĩ harp Alice Coltrane.

Trong phòng, khách ngồi hướng mặt về hai chiếc loa lớn, chăm chú như dự một buổi lễ. Mâm đĩa quay đều. Tiếng vibraphone ngân lên trong trẻo, tiếng kèn saxophone trầm đục, nhịp trống mảnh và đều. Ngoài tiếng tách trà và đôi câu thì thầm, gần như không còn âm thanh nào khác.

Chúng tôi đang ở Masako, một quán cà phê chuyên nghe jazz theo lối Nhật – nơi người ta đến không phải để chuyện trò, mà để ngồi nghe đĩa nhựa cho trọn vẹn.

Masako mở cửa từ năm 1953, từng đón những tên tuổi như Charles Mingus và Mal Waldron khi họ lưu diễn tại Nhật. Chủ quán hiện nay, Moeko Hayashi, tiếp quản năm 2020 sau khi thừa hưởng bộ sưu tập đĩa và tranh của người sáng lập Masako Okuda. Hayashi biết đến quán từ thuở thiếu niên thập niên 1980. Khi ấy bà từng nghĩ những quán như thế là bắt chước phương Tây. Sau này bà mới hiểu: mô hình ấy là sáng tạo riêng của Nhật Bản.

Những quán cà phê “Jazz Kissa” nghe nhạc jazz như thế xuất hiện từ cuối thập niên 1920, phát triển mạnh vào thập niên 1960–70, rồi dần thưa vắng khi hệ thống âm thanh gia đình trở nên phổ biến. Khoảng mười năm trở lại đây, phong trào sưu tập đĩa nhựa và yêu cầu âm thanh trung thực đã khiến nhiều người trẻ tìm về. Giữa thời đại nghe nhạc qua tai nghe và ứng dụng phát trực tuyến, việc ngồi chung một phòng, nghe trọn một mặt đĩa, trở thành một trải nghiệm hiếm hoi.

Tôi biết đến thế giới ấy qua tài khoản Instagram @jazz_kissa của Katsumasa Kusunose, 66 tuổi, cựu biên tập viên tạp chí, người đã ghé hơn 400 quán và được xem như người ghi chép đầy đủ nhất về truyền thống này. Ông nói: “Không phải ghé một lần là đủ. Phải quay lại, ngày này qua ngày khác, để quen không khí của quán.”

Hiện nay Nhật còn khoảng 400 quán như vậy, nhiều quán tồn tại từ thời cực thịnh của nhạc jazz thập niên 1960. Ở Ichinoseki, quán Basie của Shoji “Swifty” Sugawara đã đứng đó hơn nửa thế kỷ. Tại Tokyo, Eigakan mở từ năm 1978 với hệ thống loa do chính chủ quán Yoshida Masahiro tự thiết kế. Ở Yokohama, Downbeat dán kín tường bằng những trang tạp chí jazz cũ. Mỗi quán mang dấu ấn riêng của người chủ.


Chủ quán không chỉ mở nhạc. Họ chọn đĩa như một nghi thức. Phần lớn phát trọn một mặt đĩa, không tách bài lẻ. Họ quan sát khách để biết nên đặt kim xuống bản thu nào. Có người ghi chép thứ tự nhạc cẩn thận như dựng bố cục một câu chuyện. Có người tự chế loa, tự làm ampli, để âm thanh đạt độ trong trẻo mình mong muốn.

Tinh thần này từng gắn với phong trào sinh viên phản chiến trong thời chiến tranh Việt Nam. Tại Kyoto, quán Yamatoya là nơi tụ họp của sinh viên phản đối chiến tranh. Jazz khi ấy không chỉ là âm nhạc, mà còn gắn với phong trào dân quyền tại Hoa Kỳ. Bài “Strange Fruit” của Billie Holiday được nhiều người Nhật biết đến. Chủ quán Tadafumi Kumashiro nói: “Jazz và vận động chính trị khi ấy đi cùng nhau. Vì thế sinh viên đến quán để uống cà phê và bàn chuyện.”

Song các quán này không chỉ là nơi bàn luận. Chúng còn là nơi rèn kỷ luật lắng nghe. Hozumi Nakadaira, người sáng lập quán Dig tại Tokyo năm 1961, đặt ra quy định nghiêm: không nói chuyện. Đèn mờ, cửa sổ che kín, nhạc mở lớn. Cảnh sát từng nghi ngờ và đến kiểm tra. Họ hỏi: “Khách ngủ sao?” Câu trả lời ngắn gọn: “Không, họ đang nghe.”

Một nghiên cứu năm 2022 đăng trên tạp chí Brain Sciences cho thấy khi nhiều người nghe nhạc cùng lúc, hoạt động não bộ có thể đồng nhịp, làm tăng cảm giác gắn bó. Nhưng điều xảy ra trong phòng nghe khó diễn tả bằng thuật ngữ khoa học. Khi album A Love Supreme của John Coltrane lần đầu được phát tại Dig năm 1965, khách ngồi yên, không ai cử động.

Khách phương Tây ngày càng tìm đến. Nhà làm phim Nick Dwyer dành nhiều năm ghi lại câu chuyện này. Nhạc sĩ André 3000 từng tổ chức buổi nghe đĩa tại Callas Tokyo. Tuy nhiên, mang tinh thần ấy ra ngoài Nhật không dễ. Ở Los Angeles hay New York, nhiều quán “nghe nhạc” vẫn ồn ào như câu lạc bộ. Điều khác biệt nằm ở tập quán xã hội Nhật: tôn trọng sự yên tĩnh chung.

Trong chuyến đi, chúng tôi đến Basie tại Ichinoseki, cách Tokyo khoảng bốn giờ tàu. Quán đóng cửa từ sau đại dịch, nhưng Sugawara, nay 83 tuổi, đồng ý mở cửa cho National Geographic. Bên trong, hàng nghìn đĩa nhựa xếp kín tường. Hai chiếc loa do chính ông chế tạo đứng sừng sững.

Ông phát “So What” từ album Four and More của Miles Davis. Âm thanh vang dội, rõ ràng như buổi hòa nhạc trực tiếp. Trống dội vào phòng. Trumpet bật lên sắc gọn. Không ai nói. Chúng tôi ngồi đó, mỗi người một chỗ, nhưng cùng chung một nhịp nghe.

Trước khi rời Nhật, chúng tôi quay lại Masako. Khách vẫn ngồi đúng vị trí quen thuộc. Hayashi chào như người quen cũ. Chúng tôi cúi đầu nghe “Blue Nile” của Alice Coltrane.

Nổi da gà.

Những quán cà phê nghe jazz ấy không chỉ là nơi uống cà phê. Chúng là nơi người ta tập lại cách lắng nghe – lắng nghe âm thanh, và lắng nghe nhau.
 
Cung Đô sưu tầm & biên dịch
Nguồn:  Theo Joe Hagan, đăng trên National Geographic ngày 5 tháng 2 năm 2026.
 

Theo Ellen Wexler, phụ tá biên tập mục nhân văn, viết trên Smithsonian Magazine ngày 10 tháng 4 năm 2026, bức tranh The Parsonage Garden at Nuenen in Spring của Vincent van Gogh, từng bị đánh cắp khỏi một viện bảo tàng Hòa Lan rồi được tìm lại trong một túi Ikea cùng chiếc gối dính máu, nay đã được phục chế và đưa ra trưng bày trở lại.
Nếu có ai hỏi: “Anh tin vào triết học hiện sinh không?”, tôi sẽ trả lời: “Không, nhưng tôi đã nghe Trăng Tàn Trên Hè Phố và tin rằng con người sống trong chiến tranh, cần hát để tồn tại.” Sartre từng nói: “Existence precedes essence” – tồn tại có trước bản chất. Bolero thì nói: “Trăng tàn trên hè phố,” ai buồn hơn ai? Câu hỏi ấy, kỳ lạ thay, vạch ra, đời không có sẵn bản chất, chỉ có sẵn buồn. Trong quán rượu ở Biên Hòa năm 1972, có thể một người lính vừa hát vừa nghĩ: “Nếu tôi chết đêm nay, trăng vẫn sẽ tàn, nhưng ai sẽ nhớ rằng tôi từng tồn tại?” Đó chính là being-for-itself của Sartre — tồn tại hướng về hư vô. Còn giọng bolero là being-for-tears — tồn tại hướng về… nước mắt.
Theo Ali Watkins và Josephine de La Bruyère, viết trên The New York Times ngày 30 tháng 3 năm 2026, ba bức tranh của Renoir, Cézanne và Matisse đã bị lấy cắp trong một vụ đột nhập chớp nhoáng tại Phòng Tranh của Magnani-Rocca Foundation, một viện bảo tàng tư gần thành phố Parma, miền bắc nước Ý. Nhà chức trách Ý cho biết vụ trộm xảy ra trong đêm 22 tháng 3. Nhóm trộm đột nhập qua cửa chính của viện bảo tàng, rồi lấy đi ba tác phẩm chỉ trong vòng ba phút. Cảnh sát Carabinieri, đang điều tra vụ này, cho rằng đây là một phi vụ được tổ chức kỹ lưỡng và có chuẩn bị từ trước.
Có một lần ngồi nhâm nhi ly rượu vang Ý tại một quán nhỏ bên bờ kênh đào thơ mộng của Venice, nhìn những căn nhà cổ soi bóng nước, nhìn tài tử giai nhân dập dìu qua lại, tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ cổ điển người Ý Antonio Vivaldi. Ông sinh ra ở thành phố tình yêu này. Một xứ sở với thiên nhiên đẹp, con người đẹp, âm nhạc đẹp, thì người ta dễ yêu nhau lắm, mùa nào cũng là mùa của tình yêu! Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi chính là bản Concerto Bốn Mùa soạn cho violin và dàn nhạc. Đây là một bức tranh tuyệt đẹp, vẽ phong cảnh sống động của bốn mùa xuân-hạ-thu-đông, được phát họa bằng những nốt nhạc. Tổ khúc có bốn concerto; mỗi concerto có ba chương ngắn với bốn chủ đề Xuân-Hạ-Thu- Đông. Có lần một người bạn hỏi tôi làm sao để cảm nhận được rằng âm nhạc cổ điển có thể tả cảnh mà không sử dụng đến lời ca? Tôi đề nghị bạn nghe tổ khúc Bốn Mùa. Nghe nhạc cổ điển không lời cần nhiều đến trí tưởng tượng
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người. Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Trong những ngày phong tỏa vì Covid-19 năm 2020, tại thị trấn Zutphen, miền đông Hòa Lan, bà Charlotte Meyer vô tình mở lại một ngăn kéo cũ trong nhà – và bất ngờ đánh thức một “kho tàng” mỹ thuật đã ngủ quên gần một thế kỷ: 35 bản khắc kim nguyên bản của Rembrandt van Rijn. Tập tranh khắc này vốn do ông nội bà, một nhà sưu tầm nghiệp dư, mua dần dần trong khoảng từ 1900 đến 1920 với giá chỉ vài đồng guilder mỗi tờ, vào thời mà tranh in chưa được xem là thứ nghệ thuật đáng kể, rồi được gói ghém lại như một thứ kỷ vật gia đình và dần rơi vào quên lãng.
Ngựa là một hình ảnh rất gần với chúng ta, ngay cả trong đời thường, bất kể thực tế rằng không còn bao nhiêu quốc gia dùng ngựa để kéo xe nữa. Tuy nhiên, bạn thử ngó lên tường, hay mở ra một vài truyện cổ, hay các trang thơ xưa, gần như lúc nào cũng có thể gặp hình ảnh con ngựa. Dĩ niên, năm tới là năm con ngựa. Nhưng trước giờ, trong sách sử, vẫn có Thánh Gióng bay mãi trong truyện cổ tích Việt Nam với ngựa sắt. Ngựa đã gắn liền với lịch sử Việt Nam như thế. Đó là ngựa sắt, vậy mà bay được ra trận, chở được cậu bé Phù Đổng Thiên Vương nhổ gốc tre khổng lồ, phi ngựa như giông bão, ào ạt càn quét quân Bắc phương ra khỏi bờ cõi nước Nam. Trong ký ức đời thường, đối với dân Sài Gòn, những người ở lứa tuổi 60 trở lên, hình ảnh con ngựa là các xe thổ mộ chạy lóc cóc ở ngoại ô. Lúc đó, chưa có xe buýt nội ô, chỉ có xe đò (bây giờ gọi là xe khách) liên tỉnh. Bước tới gần ngoại ô, như Hòa Hưng, Bảy Hiền, Ông Tạ, Bà Điểm, Hóc Môn... sáng sớm là có xe thổ mộ với vó ngựa chạy lóc cóc.
Ngay dịp Valentine năm nay, hãng Warner Bros. cho ra mắt bộ phim “Wuthering Heights” – phóng tác mới nhất từ tiểu thuyết “Đỉnh Gió Hú” của Emily Brontë. Phim do Emerald Fennell – nữ đạo diễn Anh từng gây tiếng vang với “Promising Young Woman” và “Saltburn” – viết kịch bản và đạo diễn, với Margot Robbie đóng vai Cathy và Jacob Elordi trong vai Heathcliff. Ngay phần giới thiệu đầu phim, Fennell chỉ ghi lời khiêm tốn “dựa theo tiểu thuyết của Emily Brontë”, và còn để nhan đề trong ngoặc kép, như muốn nói đây là một phiên bản riêng, không phải chuyển thể “theo sách”.
Có lẽ cách dễ nhất để hiểu Bảy tám năm của Bùi Chát không phải là nhìn nó như một dự án ý niệm về sự phai tàn, mà như một tình huống hội họa được kéo dài trong thời gian. Ở đó, tranh không chỉ được treo lên để xem, mà được đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh sẽ biến mất. Không phải như một tai nạn, mà như một điều kiện tồn tại.
Theo lẽ thường, con người học hỏi kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó. Lấy toán học làm ví dụ, những đứa trẻ vào tiểu học bắt đầu cộng trừ nhân chia; lên trung học biết thêm căn, lũy thừa; rồi đến các môn hình học, đại số, lượng giác, giải tích, tân toán học… Để hình tượng hóa mức độ phức tạp của toán học, người ta thường dùng bức ảnhnhà bác học Albert Einstein đứng trước tấm bảng với chằng chịt những phương trình mà không có mấy người hiểu được.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.