Hôm nay,  

Gọi Tên Bốn Mùa

27/03/202600:00:00(Xem: 787)

em lễ chùa này
 
Có một lần ngồi nhâm nhi ly rượu vang Ý tại một quán nhỏ bên bờ kênh đào thơ mộng của Venice, nhìn những căn nhà cổ soi bóng nước, nhìn tài tử giai nhân dập dìu qua lại, tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ cổ điển người Ý Antonio Vivaldi. Ông sinh ra ở thành phố tình yêu này. Một xứ sở với thiên nhiên đẹp, con người đẹp, âm nhạc đẹp, thì người ta dễ yêu nhau lắm, mùa nào cũng là mùa của tình yêu!
 
Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi chính là bản Concerto Bốn Mùa soạn cho violin và dàn nhạc. Đây là một bức tranh tuyệt đẹp, vẽ phong cảnh sống động của bốn mùa xuân-hạ-thu-đông, được phát họa bằng những nốt nhạc. Tổ khúc có bốn concerto; mỗi concerto có ba chương ngắn với bốn chủ đề Xuân-Hạ-Thu- Đông. Có lần một người bạn hỏi tôi làm sao để cảm nhận được rằng âm nhạc cổ điển có thể tả cảnh mà không sử dụng đến lời ca? Tôi đề nghị bạn nghe tổ khúc Bốn Mùa. Nghe nhạc cổ điển không lời cần nhiều đến trí tưởng tượng. Chương Một của bản concerto đầu tiên-Mùa Xuân- được viết ở cung Mi trưởng. Ngay từ những giai điệu đầu tiên, người nghe có thể tưởng tượng ra cảnh đất trời huy hoàng, hân hoan vào xuân. Ngay sau đó là tiếng các cây vĩ cầm đối đáp với nhau tựa như tiếng chim ríu rít líu lo chào xuân trên cành. Rồi cả dàn nhạc du dương với giai điệu như làn gió xuân mơn man:

 
Concerto Mùa Hè được viết ở cung Sol thứ. Ở Chương Ba, người nghe có thể cảm nhận được bầu không khí nóng oi ả chuyển mình thành những cơn mưa giông mùa hè. Giai điệu dồn dập như tiếng gió rít, rồi những hạt mưa rào đổ xuống. Thỉnh thoảng có cả tiếng sấm vang rền trên bầu trời vần vũ:


 
Concerto Mùa Thu được viết ở cung Fa trưởng, đưa người nghe về khung cành thanh bình của chốn thôn quê. Chương Ba như phác họa một cuộc đi săn trong rừng thu, với nhịp điệu như bước chân nhanh của đoàn người cùng đàn chó săn, có tiếng kèn đi săn vang vọng trong khu rừng:


 
Rồi Mùa Đông đến u uất với cung Fa thứ (F minor). Nhưng trong chương hai được viết ở cung Mi giáng trưởng, giai điệu như để diễn tả một cuộc đi dạo tĩnh lặng trong khung trời tuyết rơi nhè nhẹ. Kỹ thuật búng dây (pizzicato) những cây violin làm nền khiến người nghe liên tưởng đến tiếng tuyết rơi trên mái hiên nhà.

 
Nay bàn về ca khúc. Nhiều ca khúc Việt Nam cũng có chủ đề bốn mùa, có xuân-hạ-thu-đông đi qua trong lời hát. Gọi Tên Bốn Mùa là một ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, với lời ca mạng đậm phong cách tình khúc nhạc Trịnh. Chữ nghĩa bóng bẩy ẩn dụ, kích thích trí tưởng tượng của người nghe. Có giai thoại cho rằng bài hát này viết về một người con gái trong mối tình đầu đơn phương của người nhạc sĩ. Người nghe có thể hình dung ra hình ảnh người thiếu nữ ở độ tuổi xuân thì, hư hư thực thực ẩn hiện trong trời đất thay đổi theo bốn mùa:

Em đứng lên gọi mưa vào Hạ
Từng cơn mưa từng cơn mưa
Từng cơn mưa mưa thì thầm dưới chân ngà
Em đứng lên mùa Thu tàn tạ
Hàng cây khô cành bơ vơ
Hàng cây đưa em đi về giọt nắng nhấp nhô
Em đứng lên mùa Đông nhạt nhòa
Từng đêm mưa từng đêm mưa
Từng đêm mưa mưa lạnh từng ngón sương mù
Em đứng lên mùa Xuân vừa mở
Nụ xuân xanh cành thênh thang
Chim về vào ngày tuổi em trên cành bão bùng
Rồi mùa Xuân không về
Mùa Thu cũng ra đi
Mùa Đông vời vợi
Mùa Hạ khói mây
Rồi từ nay em gọi
Tình yêu dấu chim bay
Gọi thân hao gầy
Gọi buồn ngất ngây…
 
Đúng là lời ca làm người con gái với mái tóc “dài đêm thần thoại” càng thêm hư ảo. Giọng hát liêu trai của Khánh Ly với tiếng đàn guitar thùng thâu âm trước 1975 thật thích hợp ngữ cảnh của bài hát:

 
Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ thường biết đến nhiều nhất qua bài hát Bồng Hồng Cài Áo về tình mẫu tử; hay bài Thương Quá Việt Nam về tình yêu quê hương đất nước. Có người ngạc nhiên khi biết tình khúc Tóc Mây cũng là của Phạm Thế Mỹ, với lời ca vô cùng thơ mộng, lãng mạng. Trong ca khúc này cũng có hình ảnh một người con gái với mái tóc dài, nhưng quyến rũ và gợi tình hơn:
Theo gió heo may đến đêm gọi tình
Một trời áo tím trong mắt trên môi
Như chiếc nôi êm ru cơn mộng lành
Gọi vầng trăng cũ sáng cho hồn vui
Như cánh hoa đêm đong đưa nụ tình
Gọi mời cơn gió hôn lá trên cao
Như cánh chim đêm bơ vơ một mình
Trời bao nhiêu gió tóc bao nhiêu buồn…
Rồi người con gái tóc dài xuất hiện qua bốn mùa, làm xôn xao tâm hồn tương tư của người nhạc sĩ:

…Mùa hè vui đôi chân chấp cánh
Tóc mây hồng cho mắt long lanh
Trời mùa đông môi em thắp nắng
Tóc mây dài, chân vui đường vắng
Rồi mùa xuân cây thay áo mới
Tóc mây vàng cho nắng thêm tươi
Rồi mùa thu xôn xao lá úa
Tóc mây buồn phủ kín tim tôi…

Qua giọng hát Thái Hiền, người con gái đẹp như trong tranh ấy lại càng thêm thanh thoát:


 
Đức Huy là một nhạc sĩ đa tài, đa tình. Ông viết nhiều tình khúc nổi tiếng từ trước 1975 như "Cơn Mưa Phùn" (1968), "Bay Đi Cánh Chim Biển" (1972), "Nếu Xa Nhau" (1970). Sau 1975 ra hải ngoại, sức sáng tác của Đức Huy vẫn mạnh mẽ. Nhạc của ông trẻ trung, mang phong cách nhạc Tây Phương, lời ca tình tứ, có đôi khi thật chân thành trong tình yêu. Ca khúc “Sao Vẫn Còn Mưa Rơi” được sáng tác vào năm 1984. Trong bài hát cũng có bốn mùa, nhưng không có người con gái nào xuất hiện, mà chỉ là tình cảm thương nhớ của người nhạc sĩ theo năm tháng về một cuộc tình vừa tan vỡ:
Bắt đầu trời vào đông
nhìn hàng cây trơ lá
những tháng dài chờ trông
từ ngày em vắng xa
Em đi làm nhung nhớ
niềm nhung nhớ chơi vơi
bây giờ là tháng hai
sao vẫn còn mưa rơi
Thế rồi trời vào xuân
tưởng rằng em sẽ đến
những tháng dài màn đêm
nào ngờ em đã quên
Em đi về nơi ấy
về nơi ấy xa xôi
bây giờ là tháng tư
sao vẫn còn mưa rơi…
…Thế rồi trời vào thu
nhìn hàng cây trút lá
những tháng dài chờ trông
từ ngày em vắng xa
trên con đường em bước
một chiếc bóng đơn côi
bây giờ là tháng mười
sao vẫn còn mưa rơi...

Giai điệu và lời hát đều tuyệt đẹp! Giai điệu trưởng mà vẫn man mác buồn. Trong tiếng guitar thùng lãng đãng, Đức Huy tự đàn tự hát Sao Vẫn Còn Mưa Rơi như lời kể về một người tình đã chia tay trong nhớ nhung lưu luyến:

 
Nói đến tình khúc thì không thể không nhắc đến Phạm Duy. Loạt ca khúc phổ thơ Phạm Thiên Thư vào khoảng đầu thập niên 1970s đã ghi dấu ấn trong lòng khán giả hâm mộ với những tình khúc bất hủ như Ngày Xưa Hoàng Thị, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng. Em Lễ Chùa Này cũng nằm trong loạt sáng tác này, Phạm Duy phổ nhạc bài thơ Thoáng Hương Qua của Phạm Thiên Thư, kể về một mối tình qua bốn mùa, nhưng kết thúc buồn với sinh ly, tử biệt. Có giai thoại cho rằng trong thời gian còn là tu sĩ, nhà thơ chứng kiến hình ảnh thơ mộng, tựa như một mối tình chỉ mới thoáng qua giữa một chú tiểu và một cô gái trẻ đi lễ chùa quanh năm. Cả hai chỉ ở độ tuổi trăng tròn, gặp nhau mỗi khi cô gái lên chùa lễ Phật. Cô gái qua đời chỉ khoảng một năm sau, được an táng tại chùa. Hoàn cảnh bi thương đủ cảm hứng cho những dòng thơ tình nhưng vẫn thoát tục.
 
Em Lễ Chùa Này được Phạm Duy phổ thơ khá phóng khoáng, chỉ lấy ý chứ không theo nguyên bản của bài thơ. Dưới đây là một trích đoạn của bài thơ Thoáng Hương Qua:
Đầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp
Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn
Giữa thu em lễ chùa này
Lầu chuông có con chim hót
Tiếng ca theo làn gió may
Lá vàng sương gieo nhẹ hạt
Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy
Cuối đông đưa em tới đây
Trong lòng áo quan gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn mây
Cội hoa tưởng ai trầm lặng…
 
Và trích đoạn của lời ca Em Lễ Chùa Này:
Đầu mùa xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này vườn nắng tung bay
Và ngàn lau vàng màu khép nép
Bãi sông bay một con bướm đẹp
Mùa hạ qua cùng em đi lễ
Trái mơ ngon đồi gió mơn man
Từ lò hương làn trầm nghi ngút
Khói hương thơm bờ tóc em vờn
Rồi mùa thu cùng em đi lễ
Có con chim đậu dưới gác chuông
Hòa lời ca vào làn sương sớm
Gió heo may rụng hết lá vàng
Vào mùa đông cùng em đi lễ
Lễ chùa này một thoáng mưa bay
Và ngoài sân vài cành khô gẫy
Gió lung lay một cánh lan gầy
Tàn mùa đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa tơ óng như mây…

Có thể nhận thấy Phạm Duy như viết lại lời nhưng vẫn theo sát với ý tứ của bài thơ, một điều mà không phải nhạc sĩ phổ thơ nào cũng làm được. Thủ pháp âm nhạc của Phạm Duy trong Em Lễ Chùa Này rất độc đáo. Giai điệu chính ở cung La trưởng bốn câu đơn giản, trong sáng, lập lại trong hai phiên khúc đầu tiên (xuân- hạ). Sang phiên khúc thứ ba (thu) giai điệu được chuyển tông lên một quãng bốn (từ La trưởng lên Re trưởng), rồi trở về La trưởng ở phiên khúc thứ tư (đông). Ở phiên khúc thứ năm (cuối đông) khi cô gái qua đời, giai điệu được chuyển thành cung La thứ buồn bã, thương tiếc; trong phần nhạc đệm có cả tiếng mõ như bài kinh cầu tiễn đưa người vừa mất. Nghe Thái Thanh hát Em Lễ Chùa Này từ trước 1975 mới thấy được sự toàn bích của ca khúc phổ thơ này:



Nghe lại những tình khúc bốn mùa để thấy khi người ta yêu nhau, mùa nào cũng là mùa tình yêu. Và cho dù cuộc tình kết thúc với sự chia xa, sự quyến rũ của tình yêu vẫn luôn mời gọi người tình đến với người tình. Cái đẹp của tình vui hay tình sầu vẫn là bất tử.
 
Doãn Hưng

Theo Ellen Wexler, phụ tá biên tập mục nhân văn, viết trên Smithsonian Magazine ngày 10 tháng 4 năm 2026, bức tranh The Parsonage Garden at Nuenen in Spring của Vincent van Gogh, từng bị đánh cắp khỏi một viện bảo tàng Hòa Lan rồi được tìm lại trong một túi Ikea cùng chiếc gối dính máu, nay đã được phục chế và đưa ra trưng bày trở lại.
Nếu có ai hỏi: “Anh tin vào triết học hiện sinh không?”, tôi sẽ trả lời: “Không, nhưng tôi đã nghe Trăng Tàn Trên Hè Phố và tin rằng con người sống trong chiến tranh, cần hát để tồn tại.” Sartre từng nói: “Existence precedes essence” – tồn tại có trước bản chất. Bolero thì nói: “Trăng tàn trên hè phố,” ai buồn hơn ai? Câu hỏi ấy, kỳ lạ thay, vạch ra, đời không có sẵn bản chất, chỉ có sẵn buồn. Trong quán rượu ở Biên Hòa năm 1972, có thể một người lính vừa hát vừa nghĩ: “Nếu tôi chết đêm nay, trăng vẫn sẽ tàn, nhưng ai sẽ nhớ rằng tôi từng tồn tại?” Đó chính là being-for-itself của Sartre — tồn tại hướng về hư vô. Còn giọng bolero là being-for-tears — tồn tại hướng về… nước mắt.
Theo Ali Watkins và Josephine de La Bruyère, viết trên The New York Times ngày 30 tháng 3 năm 2026, ba bức tranh của Renoir, Cézanne và Matisse đã bị lấy cắp trong một vụ đột nhập chớp nhoáng tại Phòng Tranh của Magnani-Rocca Foundation, một viện bảo tàng tư gần thành phố Parma, miền bắc nước Ý. Nhà chức trách Ý cho biết vụ trộm xảy ra trong đêm 22 tháng 3. Nhóm trộm đột nhập qua cửa chính của viện bảo tàng, rồi lấy đi ba tác phẩm chỉ trong vòng ba phút. Cảnh sát Carabinieri, đang điều tra vụ này, cho rằng đây là một phi vụ được tổ chức kỹ lưỡng và có chuẩn bị từ trước.
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người. Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Trong những ngày phong tỏa vì Covid-19 năm 2020, tại thị trấn Zutphen, miền đông Hòa Lan, bà Charlotte Meyer vô tình mở lại một ngăn kéo cũ trong nhà – và bất ngờ đánh thức một “kho tàng” mỹ thuật đã ngủ quên gần một thế kỷ: 35 bản khắc kim nguyên bản của Rembrandt van Rijn. Tập tranh khắc này vốn do ông nội bà, một nhà sưu tầm nghiệp dư, mua dần dần trong khoảng từ 1900 đến 1920 với giá chỉ vài đồng guilder mỗi tờ, vào thời mà tranh in chưa được xem là thứ nghệ thuật đáng kể, rồi được gói ghém lại như một thứ kỷ vật gia đình và dần rơi vào quên lãng.
Giữa ánh đèn vàng ấm của những quán cà phê “Jazz Kissa” tại Nhật Bản, một lớp người mê đĩa nhựa đang gìn giữ một cách thưởng thức âm nhạc mà thời đại ồn ào hôm nay gần như đã quên: ngồi lại với nhau, và nghe cho trọn. Một chiều thứ Bảy, chúng tôi len qua những con hẻm nhỏ của khu Shimokitazawa ở Tokyo – nơi áo thun cũ treo đầy cửa tiệm, mùi cà ri từ quán ăn bình dân lan ra ngoài phố – để tìm một quán chỉ thấy trên mạng. Khi nhận ra tấm bảng nhỏ treo kín đáo, chúng tôi bước lên cầu thang hẹp, gõ nhẹ cánh cửa không cửa sổ, rồi bước vào một căn phòng ốp gỗ ấm áp, treo rèm hạt và bức tranh vẽ nữ nghệ sĩ harp Alice Coltrane.
Ngựa là một hình ảnh rất gần với chúng ta, ngay cả trong đời thường, bất kể thực tế rằng không còn bao nhiêu quốc gia dùng ngựa để kéo xe nữa. Tuy nhiên, bạn thử ngó lên tường, hay mở ra một vài truyện cổ, hay các trang thơ xưa, gần như lúc nào cũng có thể gặp hình ảnh con ngựa. Dĩ niên, năm tới là năm con ngựa. Nhưng trước giờ, trong sách sử, vẫn có Thánh Gióng bay mãi trong truyện cổ tích Việt Nam với ngựa sắt. Ngựa đã gắn liền với lịch sử Việt Nam như thế. Đó là ngựa sắt, vậy mà bay được ra trận, chở được cậu bé Phù Đổng Thiên Vương nhổ gốc tre khổng lồ, phi ngựa như giông bão, ào ạt càn quét quân Bắc phương ra khỏi bờ cõi nước Nam. Trong ký ức đời thường, đối với dân Sài Gòn, những người ở lứa tuổi 60 trở lên, hình ảnh con ngựa là các xe thổ mộ chạy lóc cóc ở ngoại ô. Lúc đó, chưa có xe buýt nội ô, chỉ có xe đò (bây giờ gọi là xe khách) liên tỉnh. Bước tới gần ngoại ô, như Hòa Hưng, Bảy Hiền, Ông Tạ, Bà Điểm, Hóc Môn... sáng sớm là có xe thổ mộ với vó ngựa chạy lóc cóc.
Ngay dịp Valentine năm nay, hãng Warner Bros. cho ra mắt bộ phim “Wuthering Heights” – phóng tác mới nhất từ tiểu thuyết “Đỉnh Gió Hú” của Emily Brontë. Phim do Emerald Fennell – nữ đạo diễn Anh từng gây tiếng vang với “Promising Young Woman” và “Saltburn” – viết kịch bản và đạo diễn, với Margot Robbie đóng vai Cathy và Jacob Elordi trong vai Heathcliff. Ngay phần giới thiệu đầu phim, Fennell chỉ ghi lời khiêm tốn “dựa theo tiểu thuyết của Emily Brontë”, và còn để nhan đề trong ngoặc kép, như muốn nói đây là một phiên bản riêng, không phải chuyển thể “theo sách”.
Có lẽ cách dễ nhất để hiểu Bảy tám năm của Bùi Chát không phải là nhìn nó như một dự án ý niệm về sự phai tàn, mà như một tình huống hội họa được kéo dài trong thời gian. Ở đó, tranh không chỉ được treo lên để xem, mà được đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh sẽ biến mất. Không phải như một tai nạn, mà như một điều kiện tồn tại.
Theo lẽ thường, con người học hỏi kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó. Lấy toán học làm ví dụ, những đứa trẻ vào tiểu học bắt đầu cộng trừ nhân chia; lên trung học biết thêm căn, lũy thừa; rồi đến các môn hình học, đại số, lượng giác, giải tích, tân toán học… Để hình tượng hóa mức độ phức tạp của toán học, người ta thường dùng bức ảnhnhà bác học Albert Einstein đứng trước tấm bảng với chằng chịt những phương trình mà không có mấy người hiểu được.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.