Hôm nay,  

Thế Giới Sáng Tạo Miền Nam Việt Nam 1954 – 1975 Đến Nay

20/03/202511:46:00(Xem: 5179)

THẾ GIỚI SÁNG TẠO MIỀN NAM VIỆT NAM

1954 – 1975 ĐẾN NAY

 

Giới thiệu của người dịch

  

blank

 

Cuốn sách này là bản dịch của một tập hợp bài viết về các nhân vật, văn học và báo chí của các cá nhân người Việt đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn thông tin phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của Miền Nam Việt Nam, cũng như sự nghiệp cá nhân trong lãnh vực nhân văn.

 

Những nhân vật được mô tả phần lớn đã nổi tiếng trong thời kỳ 1954 - 1975. Sau khi Miền Nam sụp đổ vào tay Bắc quân năm 1975, hầu hết trong số họ đã bị giam cầm một số năm trong các trại cải tạo cộng sản. Sau đó, vào những năm 1980, một số đã đến Hoa Kỳ và hầu hết vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.

 

Võ Phiến (1925 - 2015), nhà tiểu luận, tiểu thuyết gia và sử gia văn học, đã mô tả nền văn học phát sinh dưới thời Việt Nam Cộng Hòa như sau:Ở Miền Nam Việt Nam thời 1954-75, giữa hoàn cảnh chiến tranh, đã phát triển một nền văn nghệ khác hẳn. Trên sách báo tha hồ nở rộ những nụ cười sảng khoái, công kích điều sai chuyện quấy, đùa riễu những phần tử xấu xa. Phần tử ấy không thuộc hạng Lý Toét Xã Xệ. Không hề có nhân vật nào thấp bé như thế bị bêu riếu trong thời kỳ này. Nạn nhân là từ hạng những tay cầm đầu một tỉnh cho đến các vị cầm đầu cả nước. Tiếng cười cợt ngang nhiên, hể hả, râm ran khắp cùng trên mặt sách báo... Mặt khác, mọi quan niệm nhân sinh, mọi tín ngưỡng, hay có dở có, cao thâm có mà ngông cuồng gàn dở cũng có nữa, tha hồ được tìm hiểu, trình bày, quảng bá. Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy.”
 

Chế độ cộng sản vào tiếp quản năm 1975 đã tìm cách xóa bỏ di sản này bằng cách hình sự hóa nó và phá hủy vật lý mọi tàn tích có thể thu thập được. Do đó, những bộ sưu tập đầy đủ nhất về văn học Việt Nam trong giai đoạn này không phải ở Việt Nam mà ở một số thư viện học thuật tại Hoa Kỳ, như thư viện của Đại học Cornell, Đại học Yale và Đại học Hawaii.
 

Tác giả của cuốn sách này, Bác sĩ Ngô Thế Vinh, là một trong những nhân vật hàng đầu trong đời sống văn học ở Nam Việt Nam trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, và đã từng quen biết với tất cả những nhân vật mà ông phác thảo. Bác sĩ Vinh là bác sĩ chuyên ngành nội khoa tại một Trung Tâm Y Khoa Long Beach, Nam California. Ông cũng là một tác giả không biết mỏi mệt, với các tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, các sách bình luận văn hóa (như cuốn này) và các bài tường trình khảo sát. Đặc biệt, ông đã đích thân thực hiện chuyến đi điền dã theo suốt chiều dài 4.800 km của sông Mekong và đã viết hai cuốn sách nói về sự tồn vong của con sông này, một con sông lớn của thế giới và là mạch sống của hơn 70 triệu người sống dọc theo hai bờ con sông và nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hai cuốn sách này và một cuốn sách khác của ông đã được trao các giải thưởng và đã thu hút được nhiều đánh giá tích cực. Ông vẫn là một nhà bảo vệ môi trường tận tụy và kiên trì. Ngoài ra, tôi thấy ông là một nhà báo cực kỳ tài năng với khả năng gần như kỳ diệu trong việc truy tìm các tài liệu và sự kiện khó hiểu.

Tác giả có tình bạn thân thiết với tất cả những cá nhân mà ông thảo luận trong cuốn sách này, vì vậy chân dung của ông thường bao gồm các đoạn trích từ thư từ của họ. Là một bác sĩ, ông cũng quan tâm đến tình hình sức khỏe của họ, vì vậy cũng tạo nên một phần của nhiều bức chân dung này. Những cá nhân mà ông miêu tả trong tập sách này là:
 

• Mặc Đỗ (1917 – 2015)

Là một nhà báo, tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn và dịch giả, ông sinh ra tại Hà Nội trong một gia đình thấm nhuần Nho giáo, nhưng cũng dễ dàng tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Ông di cư vào miền Nam năm 1954 và thành lập một nhóm văn học có tên là Quan Điểm và tờ báo Tự Do. Ngoài các tiểu thuyết và truyện ngắn của riêng mình, ông còn dịch các tác phẩm của Hemingway, Fitzgerald, Mauriac, Tolstoy, Pasternak và những người khác.
 

• Như Phong (1923 – 2001)

Được tác giả mô tả là “nhà báo của các nhà báo”, Như Phong là một tiểu thuyết gia, một chuyên gia về các vấn đề cộng sản ở Bắc Việt Nam và là một chiến lược gia thường làm việc trong hậu trường với tư cách là cố vấn chính trị cho những nhân vật trong đời sống cộng đồng. Ở Hoa Kỳ, ông đã kết bạn với nhiều người trẻ tuổi và ông đã trình bày những kế hoạch lớn liên quan đến vai trò của báo chí trong tương lai của Việt Nam.
 

• Võ Phiến (1925 – 2015)

Là một nhà tiểu luận, nhà văn truyện, nhà sử học văn học và biên tập viên, ông là một trong những tác giả chính gắn bó với tạp chí Bách Khoa tại Sài Gòn. Sau năm 1975, căn nhà của ông ở Los Angeles đã trở thành trung tâm văn học lưu vong. Ông đã viết nhiều cuốn sách nghiên cứu sâu sắc về lịch sử văn học của Nam Việt Nam. Ông cũng là chủ đề một sách nghiên cứu của John Schafer: The Sadness of Exile.
 

• Linh Bảo (1926 – 2024)

Là một trong những nhà văn nữ đầu tiên của Việt Nam, Linh Bảo đã dành phần lớn cuộc đời mình sống ở các quốc gia khác, bao gồm một số năm ở Quảng Châu và Hồng Kông. Là một tiểu thuyết gia, nhà văn tài năng, nhà báo tự do, nhà hoạt động nữ quyền, các tác phẩm của bà sử dụng sự chế giễu để phơi bày những khía cạnh tiêu cực của cuộc sống. Phong cách của bà là sự tàn nhẫn, nghịch lý, tinh quái và bất chấp, nhưng đồng thời cũng đầy đau khổ.
 

• Mai Thảo (1927 – 1998)

Ông là một tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhà thơ và là người sáng lập kiêm biên tập của tạp chí tiên phong Sáng Tạo. Sau khi di cư sang Hoa Kỳ, ông sống một cuộc sống giản dị như tu sĩ trong căn hộ một phòng, đó cũng là văn phòng làm việc của ông – nơi ông chuẩn bị từng số tạp chí Văn lưu vong. Ông là một trong số ít nhân vật được đề cập trong cuốn sách này không bị giam cầm trong trại cải tạo. Thay vào đó, là hai năm tuyệt vọng sống ẩn náu ở Sài Gòn trước khi trốn thoát bằng thuyền đến Malaysia và sau đó đến Hoa Kỳ.
 

• Dương Nghiễm Mậu (1936 – 2016)

Là một tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhà tiểu luận, ông sinh ra tại Hà Nội và di cư cùng gia đình vào Nam vào năm 1954. Tiểu thuyết đầu tay của ông, Gia Tài Người Mẹ, đã giành được Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1966. Ông nhập ngũ năm đó và làm phóng viên chiến trường. Sau khi bị giam cầm trong trại cải tạo từ năm 1975 đến năm 1977, ông làm nghề sơn mài để kiếm sống. Ông là một trong số ít tác giả được đề cập trong cuốn sách này đã chọn ở lại Việt Nam thay vì di cư.
 

• Nhật Tiến (1936 – 2020)

Là một tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhà viết kịch sung mãn và đa dạng, Nhật Tiến là một Hướng đạo sinh của phong trào Hướng đạo Việt Nam, và luôn trung thành với truyền thống của phong trào này trong suốt cuộc đời. Với hơn hai mươi cuốn sách mang tên mình, những sáng tác của ông đặc biệt gắn liền với tuổi thơ và thường đề cập đến nỗi đau khổ của trẻ em.
 

• Nguyễn Đình Toàn (1936 – 2023)

Ông là một nhà thơ, tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhạc sĩ và người dẫn chương trình phát thanh có ảnh hưởng mang tên “Nhạc Chủ Đề”. Hầu hết các tiểu thuyết của ông đều xuất hiện từng phần trên nhiều tạp chí khác nhau trước khi xuất bản thành sách và chú trọng nhiều hơn vào khung cảnh hơn là cốt truyện. Ông đã viết lời bài hát “Tình Khúc Thứ Nhất” của nhạc sĩ Vũ Thành An, mơ hồ nhưng đầy gợi cảm: “Tình vui theo gió mây trôi, ý sầu mưa xuống đời.”
 

• Thanh Tâm Tuyền (1936 – 2006)

Ông sinh ra tại thành phố Vinh, Nghệ An, đầu tiên ra Hà Nội, nhưng sau đó di cư vào Sài Gòn năm 1954. Ông là một trong những người đóng góp chính cho tạp chí Sáng Tạo. Ông đã nổi tiếng từ sớm với thể loại thơ tự do ít người biết đến và hoàn toàn mới lạ, nhưng sau này đã chuyển sang các hình thức thơ truyền thống. Từ năm 1975 đến năm 1982, ông bị giam cầm trong các trại cải tạo rất khắc nghiệt ở miền Bắc Việt Nam. Ông là một tiểu thuyết gia, nhà văn hư cấu và nhà viết kịch, và cũng là một nhà thơ.
 

• Nguyễn-Xuân Hoàng (1937 – 2014)

Ông là một tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhà tiểu luận và biên tập viên. Ông hoạt động ở Sài Gòn trước năm 1975 và di cư sang Hoa Kỳ sau những năm trong các trại cải tạo và làm chủ biên cho một số tạp chí văn học Việt Nam lưu vong.
 

• Hoàng Ngọc Biên (1938 – 2019)

Là một nghệ sĩ, họa sĩ, nhà thơ, tiểu thuyết gia, học giả về Proust, dịch giả và nhạc sĩ, ông là một trong những người đa năng và năng động nhất được thảo luận trong tập này. Các tác phẩm của ông trên nhiều phương tiện truyền thông rất đa dạng và mang tính thử nghiệm cao.
 

• Đinh Cường (1939 – 2016)

Là một nghệ sĩ, họa sĩ, nhà thơ và giảng viên hội họa. Đến năm 2005, ông đã có hơn hai mươi bốn triển lãm cá nhân và hai mươi mốt triển lãm với các nghệ sĩ khác. Ông cũng là tác giả của ba cuốn sách, một cuốn gồm các bài tiểu luận về nghệ thuật và hai cuốn gồm các bài thơ.
 

• Nghiêu Đề (1939 – 1998)

Là một nghệ sĩ, họa sĩ, nhà thơ, xuất thân từ tỉnh Quảng Ngãi. Là bạn thân thiết của tác giả, ông rất được săn đón với tư cách là nhà thiết kế bìa cho các tác phẩm văn học. Với tính cách thất thường và lập dị, ông không bao giờ bận tâm ghi chép về các hoạt động sáng tạo của mình. Ông sang định cư tại Hoa Kỳ cùng gia đình và mất năm 1998 trước khi bước sang tuổi sáu mươi.
 

• Nguyên Khai (1940 –)

Một nghệ sĩ mà hầu hết các tác phẩm của ông đều là tranh sơn dầu. Bản chất kín đáo và trầm tĩnh. Ông đã từng nói trong một cuộc phỏng vấn, “Hội họa không quay lưng lại thực tại, nhưng cũng không minh họa thực tại. Hội họa cho chúng ta cái nhìn khác; cái nhìn phi thực tại, để từ đó những khả thể của chân thiện mỹ được biểu đạt.”
 

• Cao Xuân Huy (1947 – 2010)

Một sĩ quan thủy quân lục chiến và nhà văn, nổi tiếng nhất với cuốn hồi ký chiến tranh: Tháng Ba Gãy Súng, một cuốn sách độc đáo, sống động và giàu cảm xúc. Tác giả có nhiều điều muốn nói về cuộc chiến đấu can trường của Cao Xuân Huy chống lại căn bệnh ung thư sắc tố mắt trong những năm cuối đời.
 

• Phùng Nguyễn (1950 – 2015)

Một chuyên gia IT, đồng thời là một nhà văn truyện ngắn, nhà tiểu luận và blogger. Tác giả dành nhiều sự quan tâm cho một giai đoạn trong cuộc đời mà Phùng Nguyễn chưa bao giờ nói đến nhưng lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động sau này của ông: quá trình hồi phục kéo dài sau một vết thương nghiêm trọng ở chân mà ông phải chịu trong một cuộc hành quân. Ngoài việc viết Blog có tựa đề “Rừng & Cây”, ông đã xuất bản hai tập truyện ngắn: Tháp Ký Ức (1988) và Đêm OaklandNhững Truyện Khác (2001).
 

• Phạm Duy (1921 – 2013)

Là một nhạc sĩ, nhà viết lời, nhà nghiên cứu âm nhạc và người viết hồi ký, ông là nhạc sĩ Việt Nam sáng tác nhiều nhất và xuất sắc nhất trong thế kỷ trước, trong số rất nhiều nhạc sĩ Việt Nam. Bức chân dung trong tập sách này sẽ xem xét các hoạt động của ông trong nhiều giai đoạn sự nghiệp và xem xét bản chất phát triển của mối quan hệ của ông với nhiều bạn bè và cộng sự.
 

• Eric Henry (1943 –)

Henry là một học giả người Mỹ chuyên về văn hóa Trung Quốc và Việt Nam, và là dịch giả của tập sách này. Tác giả đặc biệt chú ý đến những trải nghiệm ban đầu của Henry ở Việt Nam và những nỗ lực gần đây của ông nhằm vượt qua sự từ chối của gia đình Phạm Duy trong việc cấp phép xuất bản bản dịch tiếng Anh bốn tập hồi ký của Phạm Duy.
 

• Phạm Biểu Tâm (1913 – 1999)

Ông là một bác sĩ phẫu thuật, giáo sư y khoa lỗi lạc và là Khoa trưởng trường Đại học Y khoa Sài Gòn. Tác giả đề cập đến những đóng góp to lớn của nhân vật này cho việc thành lập một hệ thống y tế hiện đại tại Việt Nam, đặc biệt chú ý đến các hoạt động của ông với tư cách là một nhà giáo dục và lòng vị tha và sự quảng đại của cá nhân ông.
 

• Phạm Hoàng Hộ (1929 – 2017)

Tiến sĩ Phạm Hoàng Hộ là một nhà khoa học - thực vật học, người sáng lập và cũng là Viện trưởng của Đại học Cần Thơ, là tác giả của bộ sách Minh họa Cây Cỏ Việt Nam, gồm nhiều tập hoàn chỉnh. Chân dung của ông trong tập sách này ghi nhận quá trình phát triển của ông với tư cách là một nhà khoa học, cùng với các hoạt động không ngừng nghỉ với tư cách là một nhà giáo dục và Viện trưởng trường đại học và những nỗ lực của ông để vượt qua những hạn chế mà chính phủ Việt Nam từ sau 1975 đã áp đặt lên ông.

Bác sĩ Ngô Thế Vinh cũng là tác giả cuốn sách thứ hai về Chân dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa đề cập đến 17 nhân vật khác (Nguyễn Tường Bách & Hứa Bảo Liên, Hoàng Tiến Bảo, Tạ Tỵ, Trần Ngọc Ninh, Lê Ngộ Châu, Nguyễn Văn Trung, Dohamide, Lê Ngọc Huệ, Nghiêm Sỹ Tuấn, Đoàn Văn Bá, Mai Chửng, Trần Hoài Thư & Ngọc Yến, Phan Nhật Nam, Võ Tòng Xuân, Trần Mộng Tú và John Steinbeck). Tập này kết thúc bằng một bức chân dung văn hóa, không phải của một con người, mà là Con Đường Sách, một khu bán sách được tổ chức độc đáo bên cạnh Bưu điện Trung tâm Sài Gòn. Tôi hy vọng có thể dịch và xuất bản cuốn sách này sớm với tên gọi “Thế giới sáng tạo miền Nam Việt Nam, Tập 2”.
 

Kết hợp hai tập chân dung này tạo thành một bức chân dung sống động về một nền văn hóa có nhiều điều để cống hiến cho thế giới, đồng thời đưa ra sự sửa sai và bác bỏ mạnh mẽ những nỗ lực của chính quyền cộng sản Việt Nam nhằm phủ nhận tầm quan trọng của nền văn hóa này.

ERIC HENRY 
Đồi Chapel, Bắc Carolina.
Viết cho ngày: 30 tháng 4 năm 2025



Thi sĩ Huyền Không, bút danh khi làm thơ của cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác (1929-2006), trọn đời là một kẻ lữ hành. Thầy đã đi qua nhiều khu vực địa lý -- ra đời và xuất gia tại Huế, làm giảng sư ở nhiều tỉnh Miền Trung, du học ở Nhật trước khi về dạy ở nhiều đại học tại Việt Nam, rời nước và định cư ở Hoa Kỳ để rồi đi hoằng pháp ở nhiều nơi trên thế giới. Một cách lặng lẽ, Thầy cũng là người lữ hành của giấy mực, nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực của thi ca, dịch thuật và nghiên cứu.
“Năm ấy, cha tôi mười chín tuổi. Ông có ba người em gái nhỏ hơn — đứa lớn nhất mười hai tuổi, đứa bé nhất còn đang nằm trong nôi — và một em trai. Ông thương cô em út nhất, đứa sinh vào đầu tháng Giêng năm ấy. Chính ông là người đặt tên cho nó là Eunyoung, sau khi ngăn ông nội đừng gọi nó là Soonyoung — bởi những người anh chị của nó đều mang những cái tên như Hakyoung, Sookyoung, Jinyoung, và Heeyoung. “Con bé vốn đã là một con chiên non rồi,” ông nói, “sao còn mạo hiểm khiến nó hiền hơn nữa bằng một cái tên như Soon chứ?”
Tháng 3 bắt đầu những cơn nóng. Nóng của thời tiết, và nhiệt tăng của thời thế. Chiến tranh nóng hấp Trung Đông nhắc nhở một lần định mệnh vang rền thế kỷ trước trên quê hương dấu yêu. Tháng 3 đang nhường bước cho tháng 4 nghiệt ngả sắp kề, như câu thơ Nguyễn Xuân Thiệp, tháng ba xuống khu rừng. bóng quạ / rung những nhánh cây. màu tàn lửa... Trong bầu khí hâm hấp đó, tôi đọc “Đuổi bắt một mùi hương” (*) của Phan Tấn Hải, không hẹn mà tập truyện mang lại một sự thanh thản, dịu mát bất ngờ
Mây trắng là hình ảnh của cái vốn không có hình dạng sắc màu nhưng biến hiện ra vô cùng hình dạng sắc màu. Mây trắng là hình ảnh của vô thường, của sinh và diệt không ngừng, của xa lìa tất cả các nhãn hiệu bất kể là căn cước của da vàng hay da trắng, của Nam hay Bắc, của Việt hay Tây, Tàu, Mỹ, Nhật... Mây trắng là hiển lộ của tự do, của bình an. Nơi mây trắng không có bạo lực, không có níu kéo buộc ràng hay uốn nắn gắng gượng. Thơ của Lê An Thế là thơ của những ước mơ mây trắng, là lá cờ của mây trắng thong dong như thế.
Con người trong thiên truyện này của nhà văn Nguyễn Viện không được quyền ngủ, hắn phải tỉnh thức, tỉnh thức để nhận lãnh tất cả mọi khổ đau, bầm dập của cái-gọi-là đời sống, và tỉnh thức để biết đường trốn chạy ra khỏi cái mê cung kinh hoàng của chiến tranh, của những thế lực phi nhân tính, phi đạo đức luôn sẵn sàng đè bẹp những tâm hồn yếu đuối chỉ có một mong ước duy nhất là được sống, được sống như con người...
Tiểu thuyết CÓ NHỮNG KẺ ĐI MÃI KHÔNG VỀ là bi kịch của một nạn nhân không chỉ như tôi. Nó là bi kịch của một làng quê của một đất nước mà tôi là một giọt máu. Rume đã tồn tại như huyền thoại và mất đi như cụm khói của bom đạn. Có thể cái làng quê được gọi là Rume ấy không có thật, nhưng ký ức về nó giống như ký ức của tất cả những ai đã từng có một quê hương.
Lan man đôi chút về “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” Nguyên Giác – Phan Tấn Hải và mùi hương thoảng qua của chữ Có những người đi qua đời, để lại tiếng cười rổn rảng. Có người để lại chồng sách dày cộp. Còn Nguyên Giác - Phan Tấn Hải để lại một thứ mong manh hơn nhiều: Một mùi hương!
“Tiểu Trấn Magnolia” là tên một thị trấn nhỏ ở tiểu bang Georgia của nước Mỹ, mà trong đó chàng thanh niên Rocky rất yêu thích sống ở đó. Cái tên “tiểu trấn Magnolia” nghe có vẻ vừa xưa vừa nay, vừa cổ kính vừa tân thời. Nó như cái tên địa danh nào đó trong một câu chuyện cổ tích Đông phương đầy thơ mộng, nhưng nó cũng làm cho người đọc liên tưởng tới một địa danh thuộc thế giới Tây phương hiện đại.
Mở đầu tuyển tập Đuổi Bắt Một Mùi Hương*, là bốn câu thơ: Bên trời ngồi viết, tóc rối như mây, quê nhà mờ mịt, chữ lạnh đôi tay. Tôi rất thích hình ảnh, bên trời ngồi viết, có lẽ bởi cái vô định của không gian, và vô cùng điểm xô đẩy nhau trên dòng thời gian, cái ẩn chủ thể của viết, của tóc rối, của lạnh đôi tay trong không khí bài thơ này...
Ở tuổi mười bảy, trong sân chùa Xá Lợi một buổi chiều Sài Gòn, nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Đuổi Bắt Một Mùi Hương bất chợt nắm tay một cô bé áo trắng. Đúng khoảnh khắc ấy, một mùi hương lạ thoảng qua trong gió. Cái nắm tay run rẩy và mùi hương mong manh đó đã bám theo nhân vật chính suốt nhiều thập niên
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.