Hôm nay,  

Khi Cùng Tử Ghi Lời Ca Tỉnh Thức: Đọc 3 tập thơ Lê Phương Châu

01/08/202500:00:00(Xem: 1485)
 
LE-PHUONG-CHAU-ba-tap-tho-copy

Ba tập thơ.

 
Làm thơ là một hành trình, với nhiều người, có khi rất là tình cờ bất chợt như làn gió mát buổi sớm chúng ta gặp mà không hề mong đợi. Thơ của chị Lê Phương Châu có phong cách như thế, khi thơ đọc như là những dòng chữ tình cờ, nơi đây chị có vẻ như không cố ý tìm chữ, tất cả chỉ là tự nhiên như ca dao. Trên từng dòng chữ, chị hiện ra như các hơi thở của tỉnh thức, để tự quán sát đời mình tan rã từng ngày, từng giờ, từng khoảnh khắc trong dòng sông vô thường. Và từ đó, thơ của chị khởi dậy trên các trang giấy.

Trước mặt tôi là ba tập thơ – Như Dòng Sông Trôi Xa (NXB Hội Nhà Văn, 2013), Dấu Chân Ngược Gió (NXB Hội Nhà Văn, 2015), và Một Khắc Trăm Năm (NXB California, 2013) – của nhà thơ Lê Phương Châu. Ba thi tập đó là gần phân nửa các sáng tác thi ca của Lê Phương Châu, người hiện nay đã in 8 tập thơ, trong đó thi tập đầu tiên trong đời thi sĩ của chị là Tình Khúc Mưa Tháng Năm in năm 1969, và tập thứ nhì là Thơ Lê Phương Châu in năm 1972. Sau hai thi tập in trước 1975 đó, phải tới hơn 30 năm sau, chị mới in thơ trở lại.  

Sau nhiều thập niên, thơ của chị càng lúc càng gần với Thiền hơn, như trong bài Tỉnh Thức:

Giữa khuya đêm tỉnh thức
Nằm nghe tiếng công phu
Âm Lăng Nghiêm huyền hoặc
Quét khô đỉnh khói mù!
(Dấu Chân Ngược Gió, trang 24)

Cuộc đời của chị gần với mái chùa, từ khi còn ở trong nước, cho tới khi ra định cư ở hải ngoại. Những cơ duyên đó đã hiển lộ trong thơ Lê Phương Châu qua các hình ảnh của vô thường và tỉnh thức. Tôi là người sau chị một thế hệ (em của chị là bạn học của tôi thời kỳ trước 1975) nhưng vẫn không thấy ngôn ngữ thơ của chị có sự cách biệt thế hệ.

Thơ của chị Lê Phương Châu không bàn về lịch sử, nhưng đôi khi làm trĩu nặng những nỗi buồn trên trang giấy, như trong bài Nhớ Huế, trang 72-73 của thi tập Dấu Chân Ngược Gió, chị viết:

Như tôi về bên nớ
Quảy bóng đầy hai vai.

Tôi phải dừng lại, để đọc đi, đọc lại. Bài thơ này chị viết vào Tết Giáp Ngọ, tức là Tết Nguyên Đán 2014. Nơi một khổ thơ áp cuối trong cùng bài, chị viết:

Cành mai khô chiêu niệm
Trổ ngang bờ tử sinh.

Lê Phương Châu không thuần túy viết thơ như một người làm thơ, chị sống thơ như một hành giả sống thơ trong đời. Chị sống với tỉnh thức. Thơ của chị là hơi thở của một người đã chứng kiến nhiều thăng trầm của lịch sử, và bây giờ là những dòng chữ của tỉnh thức giữa cõi mộng. Dòng thơ của chị lặng lẽ, như một Thiền sư tịch lặng kiểu thi sĩ: không giảng giải, không lý luận, mà là những khoảnh khắc trực nhận, những sát-na bật lên của chữ, trong đó đôi khi là một nỗi buồn mơ hồ của phận người và một hoài niệm về một quê hương tâm linh.

Trên các trang giấy, Lê Phương Châu tự hiển lộ bản thân là một người đi qua những mùa xuân thiên cổ, những cơn mưa hạ, những giấc mộng viễn ly – để rồi trở về với chính mình trong từng câu thơ.
 
Trong bài thơ nhan đề Đã Về Đây, viết ở Tu Viện An Lạc vào đêm 11.5.2013, gồm 5 khổ thơ năm chữ, mỗi khổ thơ gồm bốn dòng, chị tự giới thiệu ngay ở những dòng đầu:

bài kinh đầu sám nguyện
pháp cú mưa lâm râm
mùa đông tìm chỗ trú
vỗ về cánh chim dơi.
(Một Khắc Trăm Năm, trang 52)

Cách viết như thế cũng là phi truyền thống, vì tôi luôn luôn viết các chữ hoa đầu khi nào viết tới Pháp Cú. Cũng y hệt như khi viết tên Phật mà không viết hoa đầu chữ.

Tuy nhà thơ Lê Phương Châu đã nhìn thấy những trận mưa Pháp Cú hiển lộ trong tâm, nhưng chị cũng tự nhận là những nghiệp trần vẫn còn vương vấn, như bốn dòng cuối trong bài Thức Tỉnh Trăm Năm:

nghiệp trần chưa phủi sạch
một sớm theo cánh gió bay ngang
ai có hiểu vì sao chiếc lá vàng
đêm tắt nến còn nghe thơm mùi đất!
(Dấu Chân Ngược Gió, trang 128)

Chúng ta cần thấy rõ: nhà thơ Lê Phương Châu không phải là một Thiền sư sử dụng ngôn ngữ thơ để truyền đạt bất kỳ ý thiền nào. Chị chỉ viết tự nhiên, trong cương vị một nhà thơ, một nữ cư sĩ nhiều thập niên có cơ duyên hỗ trợ Tam Bảo. Do vậy, với chị, làm thơ chỉ là làm thơ tự nhiên, không có ý truyền giảng gì hết. Chị làm thơ cũng là một cách tu riêng, rất riêng. Thí dụ như trong bài thơ Đôi Bờ Hư Thực, sáng tác vào tháng 6.2014 tại Tu Viện An Lạc (California)  chị nhìn thấy màu nắng, chị nhìn lên vầng mây và nhận ra vô thường tịch lặng, trích:

...hương nắng vàng run rẩy
dáng ốm gầy mây ngoan
là bản giao hưởng dấu yêu
treo khúc vô thường đầu tịch lặng
là thâm ân lạc bước buổi xa người...
(Dấu Chân Ngược Gió, trang 118)

Thơ của Lê Phương Châu là một hành trình tỉnh thức. Đôi khi, thơ chị không mời gọi người đọc hiểu, mà mời gọi người đọc thấy. Thấy cái đẹp trong vô thường, thấy cái không trong cái có, thấy chính mình trong từng giọt mưa, từng hơi thở, và thấy Tâm Kinh hiện ra trên những sợi tóc vô thường.

Như trong bài thơ Quay Đầu Nhìn Tôi, nhà thơ Lê Phương Châu viết vào tháng 2.2014, sau khi đời đã tự thấy trong tầm tay là tròn giấc mộng ba sinh, chị tự thấy mình là người lãng tử trở về nơi đầu sân:

Một bước đi - một bước gần
Trên tầm tay đọng giấc nồng ba sinh
Nụ cười lãng tử đầu sân
Là tôi tóc phủ mấy vần tâm kinh.
(Dấu Chân Ngược Gió, trang 85)

Thơ của Lê Phương Châu cũng là một hành trình trở về tự thấy mình như trẻ thơ, bất kể rằng những rừng kinh tạng uyên nguyên đã “chia đôi sợi tóc đổi màu,” khi chị tự nhìn lại đời mình và viết bài Dòng Trôi Ký Ức vào tháng 12-2013. Trong đó, chị tự kể về niềm hạnh phúc khi nghe được trang kinh thanh khiết thì thầm, trích:

Trang kinh thanh khiết thì thầm
tôi như trẻ sơ sinh đói bầu sữa mẹ
lặng lẽ rung chuông hiền triết
Rừng uyên nguyên chia đôi sợi tóc đổi màu
(Dấu Chân Ngược Gió, trang 28)

Những trang thơ của Lê Phương Châu cho thấy chị là một người đang lắng nghe đời sống bằng trái tim tỉnh thức, và chị đã đưa tay chạm vào bản chất của hiện hữu, nơi Kinh Phật đã nói rằng đời sống là mong manh, là rạn vỡ, là bất như ý, là cô tịch, là hạnh phúc và là cái đẹp của những khoảnh khắc. Từ đó, thơ hiện lên: đơn sơ, và sâu lắng.

Tiểu sử nhà thơ Lê Phương Châu được ghi nơi mép sau bìa trước của thi tập Dấu Chân Ngược Gió  cho biết, chị tên thật là: Lê Thị Tuyết Phượng; Nguyên quán: Nha Trang.

Tác phẩm đã xuất bản: Tình Khúc Mưa Tháng Năm, 1969; Thơ Lê Phương Châu, 1972; Nắng Hát Chiều Đông, 2006; Mây Trắng Đầu Non, 2008; Cùng Tử Ca, 2012; Một Khắc Trăm Năm, 2013.

LE PHUONG CHAU thi si

Chân dung nhà thơ Lê Phương Châu.

Lê Phương Châu làm thơ từ nhiều năm trước năm 1975, do vậy chị có thơ đăng trên nhiều báo trong thời kỳ còn đi học (hãy nhớ rằng, chị in tập thơ đầu là năm 1969). Và do vậy, nhiều văn nghệ sĩ thời kỳ đó đã bất ngờ khi thấy một cô học trò Nha Trang gửi thơ vào đăng ở các báo Sài Gòn, và họ đã theo dõi sự trưởng thành của nhà thơ Lê Phương Châu.

Bìa sau của thi tập Một Khắc Trăm Năm ghi lời giới thiệu của nhà thơ Du Tử Lê: “Khởi từ thuở còn cắp sách tới trường, bậc trung học, những năm, tháng ở thành phố biển xanh, cát trắng, sau bao nhiêu thác ghềnh thế sự, đời riêng, tôi thấy dường như những con chữ, hình ảnh trong lộ trình sinh mệnh đời-thơ Lê Phương Châu càng lúc càng lấp lánh hơn. Phải chăng đó là những lấp lánh kết tinh tự những vực sâu bất hạnh? Hay những khổ dau như máu thấm sâu lòng đất, để từ đấy, thơ như tiếng kêu thương-của con chim lẻ bạn, bơ vơ giữa đất trời lồng lộng bi ai, bật lên tiếng hót khác? Những tiếng hót trầm thống / bao dung bay dọc dặm trường lịch sử đất nước lênh đênh?

Trong khi đó, nhà thơ Mang Viên Long trong bài Thay Lời Tựa: Đường Đi Vào Thơ Lê Phương Châu (Dấu Chân Ngược Gió, trang 5-11) nhìn thấy những chuyển biến trong thơ Lê Phương Châu từ những năm 1969-1972 là “những bước ngập ngừng vào đời với thơ” để rồi hơn ba mươi năm sau nữ sĩ họ Lê thoát ra khỏi những “khúc quanh dâu biển của thế sự” và “những năm tháng lao khổ và lận đận” để tới một nơi chói lòa ánh sáng của Kinh Phật. Mang Viên Long viết:

Cho đến thi tập Cùng Tử Ca (2012) - bốn năm sau, Lê Phương Châu như đĩnh đạt bước vào con đường sáng lòa ánh nắng của Pháp Hoa... Có thể nói, từ "dấu mốc" (hay dấu chân) nầy, Lê Phương Châu đã vững bước tiến theo đường hân hoan cùng tiếng ca tỉnh thức của gã cùng tử!” (Dấu Chân Ngược Gió, trang 6)

Trong khi đó, nơi thi tập Một Khắc Trăm Năm, nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ viết Lời Bạt (MKTN, trang 113-116) trong đó họ Nguyễn nhận định rằng, trích:

Thơ Lê Phương Châu không ồn ào dậy sóng mà hiền hòa như những ngọn gió điền dã, giọng thơ như lời độc thoại với chính mình, "mình tôi khêu bấc đèn dầu/phút giây ẩn hiện sắc màu cao nguyên..." Thơ, với Lê Phương Châu như một ân sủng của trời đất, "một câu thơ nghiền ngẫm mãi chưa rời/đêm sắp thẳng hàng - thuyền vọng viễn khơi/đất nứt nẻ chôn vùi chữ nghĩa/vẫn chút nắng vàng - vẫn có tôi!" Thơ, với Lê Phương Châu như một niềm tín mộ, "lắng nghe trong chữ nghĩa/vô vàn ý thơ rơi/nhặt ba hồn chín vía/ kết sợi thơm dâng đời!" Sợi Thơm ấy, khởi đi từ cội nguồn tinh mật của kiếp người là tiếng nói? Tiếng nói trong trẻo, trong veo nhất của kiếp người là Thơ? "đội mưa mùa thu tím tái/ lung linh tiền kiếp trổ hoa/man mác suối mơ xanh lục/ngập đôi bàn chân đi qua!"

Thơ Lê Phương Châu hiền hòa nhưng chất ngất hoài niệm, chiêu niệm,"đã qua rồi bão lửa chiến chinh/mất còn ai như bóng tượng hình/mắt rủ vọng âm - hồn chiêu niệm/hồng chung thức tỉnh lưới vô minh... Thơ Lê Phương Châu hiền hòa nhưng không bi lụy... Thơ Lê Phương Châu hiền hòa nhưng vẫn ẩn dấu nét đẹp cổ diển, vững vàng, tài hoa về thi pháp...”(Lời Bạt của Nguyễn Lương Vỵ trong Một Khắc Trăm Năm)

Tôi ước mơ rằng nhà thơ Lê Phương Châu sẽ viết hoài, viết mãi, viết về những sợi tóc của chị đã nhuốm hai màu Sắc & Không của Tâm Kinh, về những rừng uyên nguyên bay tới trên các vầng mây khi chị gõ lên tiếng mõ tụng kinh, và về những chiếc lá vàng bay theo trận gió vô thường để lật qua từng trang thơ. Hãy để ánh sáng của tỉnh thức chiếu rực rỡ trên các trang giấy vô thường của thi ca. Nơi những dòng thơ sẽ trở thành những trận mưa Pháp cú thì thầm. Gate Gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mở đầu tuyển tập Đuổi Bắt Một Mùi Hương*, là bốn câu thơ: Bên trời ngồi viết, tóc rối như mây, quê nhà mờ mịt, chữ lạnh đôi tay. Tôi rất thích hình ảnh, bên trời ngồi viết, có lẽ bởi cái vô định của không gian, và vô cùng điểm xô đẩy nhau trên dòng thời gian, cái ẩn chủ thể của viết, của tóc rối, của lạnh đôi tay trong không khí bài thơ này...
Ở tuổi mười bảy, trong sân chùa Xá Lợi một buổi chiều Sài Gòn, nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Đuổi Bắt Một Mùi Hương bất chợt nắm tay một cô bé áo trắng. Đúng khoảnh khắc ấy, một mùi hương lạ thoảng qua trong gió. Cái nắm tay run rẩy và mùi hương mong manh đó đã bám theo nhân vật chính suốt nhiều thập niên
Tuyển Tập PHAN TẤN HẢI VĂN HỌC PRESS & VIỆT BÁO FOUNDATION đồng xuất bản, 2026 .... o .... Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…? – BS Đỗ Hồng Ngọc
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.