Hôm nay,  

Thuyền, Như Một Bi Kịch Nhân Sinh

08/08/202500:00:00(Xem: 1334)
 
thuyen-tieu-thuyet-6
 
Trong trang đầu tiên của Thuyền, tiểu thuyết, tác giả Nguyễn Đức Tùng viết:

“Cả Sài Gòn, cả nước, xem bói. Thời trước, người ta xem để hỏi ngày lành tháng tốt, tiền tài, hạnh phúc lứa đôi, nhưng năm ấy, mọi người hỏi: có đi được không?” (tr. 6)[1]

Đi hay ở, đó là vấn đề.[2]

Chả là vào thời đó, “Nếu cái cột đèn biết đi thì cũng phải đi.” Nhận xét đơn giản này, không rõ do ai thốt lên,[3] đã lập tức trở thành phát ngôn thời danh, mô tả khá hình tượng cho một chương bi thảm trong lịch sử dân tộc, nối tiếp ngay sau một chương bi thảm khác là chiến tranh. Chương đó bắt đầu từ trong bối cảnh “Ngày tôi ngoài hai mươi tuổi, đó là những năm tháng u ám nhất của đời người, đó là những ngày yêu đương tràn ngập, mặt trời lên mỗi sáng, chiếu rọi mặt đất. Nhìn đâu cũng thấy tương lai. Đó là những ngày buồn bã, đói, thất vọng. Chúng tôi có tất cả, chúng tôi không có gì. Đó là những ngày kỳ lạ khi chiến tranh chấm dứt mà không chấm dứt, hòa bình lo âu.” (tr. 8)

Không có bối cảnh lạ lùng đó, “thuyền” chỉ là con thuyền, một phương tiện giao thông, không trở thành “Thuyền,” một phương tiện đào thoát khỏi đất nước, và rồi là “thuyền nhân” (boat people), một từ vựng quốc tế.[4] Đó không chỉ là “câu chuyện” thương tâm (của một/những cá nhân nào đó) mà là một chấn thương dân tộc, hơn thế nữa, chấn thương nhân loại. Bắt đầu bằng những trốn chạy đơn lẻ, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, thoát khỏi đất nước bằng mọi giá trở thành một exodus tập thể, hàng loạt, liên tục, bi thương, tủi nhục. Xin tạm liệt kê một vài chi tiết trong số hàng ngàn chi tiết khác tìm thấy trong Thuyền: hải tặc Thái ném trẻ em Việt Nam xuống biển để buộc cha mẹ chúng nhảy theo, tất cả đều chết, hàng trăm xác trôi nổi trên mặt biển; hải tặc nhóm lửa đốt các bụi rậm trên đảo Kohkra để những người phụ nữ trốn trong đó phải tự bò ra để bắt; hải tặc mang các cô gái đến nhiều hoang đảo thay nhau hãm hiếp, sau đó bắt về làm vợ, hay bán cho nhà chứa tại Pattaya, Chieng Mai; băng cướp Cánh Buồm Đen có hình chiếc chổi treo ở đầu mũi thuyền, nghĩa là quét sạch, cướp sạch, giết sạch; có những chiếc thuyền trôi dạt nhiều ngày, đói quá, người phải ăn cả thịt người. Vân vân và vân vân.

Kể hoài không hết.

Một điều nghịch lý: thảm kịch vô tiền khoáng hậu đó, vô hình trung, đưa đến sự hình thành một lát cắt độc đáo của dân tộc sau chiến tranh: cộng đồng người Việt hải ngoại, một Việt Nam khác. Ở một mặt nào đó, đó là chỗ an trú của bên thua cuộc (và của những ai muốn đi tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn); ở một mặt khác, là nan đề nhức nhối của bên thắng cuộc, dù bộ máy tuyên truyền đã thay đổi cách gọi: “khúc ruột ngàn dặm,” thay vì “bọn phản động, tay sai đế quốc.”

Tôi nhẩn nha đọc Thuyền giữa lúc ở nước Mỹ đang diễn ra cảnh chính quyền Donald Trump thi hành một cách quy mô, mạnh bạo và tàn nhẫn chiến dịch trục xuất “di dân bất hợp pháp” trên toàn nước Mỹ. Di dân nào mà chẳng là bất hợp pháp! Từ những Pilgrims trên tàu Mayflower cập bến Cape Cod, Hoa Kỳ, mấy trăm năm trước, hay những di dân đến từ các nước Phi Châu, Nam Mỹ cho đến những thuyền nhân Việt Nam thập niên 1970, 1980 hay vô số thuyền nhân (hay bộ nhân) các nước khác hiện nay trên toàn thế giới. Chính lòng nhân đạo của con người đã làm cho di dân – thuyền nhân trở thành hợp pháp.

Chẳng hạn: Người đàn ông sáu mươi tuổi, một hải tặc Thái gốc Việt, trong một lúc hồi tâm nhớ lại nguồn cội của mình, bèn lén lấy cắp chiếc ca nô của đám hải tặc, một mình quay lại kéo thuyền tị nạn tới được giàn khoan dầu của công ty đa quốc gia cắm cờ Anh, Mỹ, Canada và Đan Mạch. Không có tay hải tặc “hoàn lương” này, một trăm mấy chục người còn lại (trong đó có tác giả của Thuyền) trên thuyền sẽ chết vì đói khát. (tr. 85, 86)

Chẳng hạn: Một thuyền nhân tên Lãm, hạ sĩ truyền tin, được máy bay cứu nạn của Cao ủy Liên Hiệp Quốc cứu sống trên biển trong khi mọi người trên thuyền (kể cả đứa con nhỏ của anh) bị hải tặc ném xuống biển đều chết đuối, xác trôi dạt vào một hoang đảo. (tr. 89)

Chẳng hạn, Ủy Ban “Một con thuyền cho người Việt Nam” (Un bateau pour le Vietnam) do Bernard Kouchner và Claudie Broyelle sáng lập tháng 11/1978, đứng ra quyên góp tiền bạc để cứu trợ thuyền nhân trên biển Đông và đưa đi định cư ở Pháp, với sự hỗ trợ của nhiều nhà trí thức và nghệ sĩ Pháp nổi tiếng như: Jean-Paul Aron, Raymond Aron, Jean-Paul Sartre, Brigitte Bardot, Roland Barthes, Simone de Beauvoir, Michel Foucault, Simone Signoret, vân vân.

Kể hoài không hết.

*

Như hàng trăm ngàn người Việt Nam khác, trước khi trở thành thuyền nhân, nhân vật chính trong Thuyền, một chàng trai ngoài hai mươi tuổi, đã trải qua một/nhiều chuyến đi thất bại. Có người thoát, có người bị bắn chết, có người bị bắt. Chàng đã từng bị bắt, đã chứng kiến sự tra tấn. Được thả ra, lại vẫn tìm cách đi. Tại sao? “Đi tìm sự sống. Hơn thế nữa, đi tìm sự cao quý của sự sống.” (tr. 20)

Có lần, trên đường trốn tránh công an, chàng nhảy đại xuống một cái giếng cạn. Tưởng thoát, không ngờ bị một cô dân quân phát hiện, vì chàng vô ý để quên ly cà phê uống dở trên miệng giếng. Cô gọi chàng trèo lên rồi khôn khéo “áp tải” chàng đến bến xe, để chàng ung dung về nhà an toàn. Sao lại có người tốt bụng thế? “Lần đầu tiên tôi nhìn kỹ khuôn mặt ấy, trái xoan, có mụn trên gò má trái, cái trán hơi cao và dô ra, tóc mai lòa xòa nhiều quá, nhiều hơn bình thường, rủ hai bên thái dương, tóc kẹp sau gáy, cô mặc một cái áo nửa sơ mi nửa bà ba, hơi giống của học sinh hay sinh viên hơn là cán bộ, cái quần tây cũ nhưng may chật, màu xám, ống quần hơi loe.” (28) Thì ra, người thiếu nữ không phải toàn “rin” bộ đội từ trong rừng ra, mà là một “học sinh địa phương thời cũ,” dân quân tân tuyển, được ví von như “một con bướm bay dọc lề đường, chậm rãi, lập lòe, lập lòe…” Rõ là cùng “tạng” người như chàng. Không sớm thì muộn, con bướm này nhất định cũng sẽ là một thuyền nhân, tôi đoán. Vì sao? Một con bướm (thong dong như thế) không phải và không thể là cái cột đèn.

Khao khát ra đi của chàng, rốt cuộc, cũng thành sự thật. Với sự phù trợ của “quý nhân,” đó là hai cán bộ “mặc quần áo màu xanh lá, đội mũ, vẻ bình dân, vui tươi.” Họ được phân công đến tiễn đưa, chào hỏi và trấn an những kẻ đào thoát khỏi đất nước: “Chào bà con (…) bà con không phải lo lắng gì. Chúng tôi có thuyền đi trước bảo vệ.” Họ tốt bụng như cô dân quân ngày nọ? Không đâu. Hãy nghe người cán bộ nhắc đi nhắc lại, “…đây là tự nguyện, bà con người nào còn vàng bạc hay tiền mặt muốn tỏ lòng cám ơn các anh, xin bỏ vào đây.” Cảnh “tự nguyện cám ơn” diễn ra một cách suôn sẻ, trật tự và… không kém xót xa: “Mọi người lẳng lặng lục soát đồ đạc của mình, lấy hết tiền ra, có người dây chuyền, có người vòng vàng, mặt ngọc, những tài sản ít ỏi cuối cùng.” Đến phiên chàng: “Tôi nhìn cái mũ, có vẻ khá nặng, trong ấy đã có nhiều vàng bạc tư trang. Tôi mang sợi dây chuyền nhỏ mảnh có chữ T hoa như nốt nhạc khóa Sol trên cổ. Tôi ngẫm nghĩ, tháo sợi dây chuyền ra.” (tr. 30, 31) Bi kịch hay hài kịch, nghĩ cho cùng, cái hợp đồng bất thành văn đã được thực hiện một cách khá sòng phẳng!

Hợp đồng đó là một chính sách của nhà nước cộng sản thời đó: ra đi “bán chính thức.” Chữ nghĩa nghe đến lạ, nhưng chính xác! Lậu nhưng không lậu; bất hợp pháp, nhưng hợp pháp. Đúng ra, một cuộc mua bán đổi chác. Người vượt biên được ra đi an toàn; cán bộ có tiền. Nhờ thế, “Có một nơi trên trái đất ở đó người ta không chết, họ chỉ biến mất.” Khẳng định đó khi câu chuyện của Thuyền bắt đầu, được nối tiếp bởi những câu hỏi và những câu tự trả lời và vô vàn suy gẫm được lục lọi từ trong ký ức, miên man, sâu lắng, rối rắm và lắm khi, nghịch lý.

*

Văn chương Thuyền là một kết cấu kép, chảy suốt mấy trăm trang thành hai dòng, gần như song song: dòng tâm thức và dòng sự kiện. Sắp xếp kiểu nào (tuyến tính hay phi tuyến tính), sự kiện vẫn là sự kiện, sự kiện bao giờ cũng tuyến tính, cái này móc nối với cái kia, là một câu chuyện của nhiều câu chuyện, là nhiều số phận trong một số phận, là tổng hợp phân tán và manh mún của một tấm tranh cắt dán nhiều màu sắc, cực kỳ lỏng lẻo và cực kỳ gắn bó. Dưới áp lực của sự kiện, dòng tâm thức (bản chất là phi tuyến tính), khi thì rò rỉ khi thì tuôn trào, là day dứt triền miên, xoắn xuýt, đứt lại liền, tách lại chập, xa lại gần, có khi không đầu không đuôi, lắp ghép, chồng chéo. Chẳng hạn, “Đời sống quá ngắn, dòng sông trôi thật nhanh, không ai có thể chờ đợi, những người chờ đợi sẽ đánh mất tâm trạng, không bao giờ dừng lại ở sự tầm thường, sự tầm thường đến rất gần với hủy diệt, tan tác, thua cuộc, sự tầm thường không dẫn tới cái chết, nó dẫn tới sự tồn tại vô nghĩa sau cái chết. Sự việc mới sinh ra mà chưa biết nó ngoảnh mặt về đâu.” (tr. 38) Phải đọc đi đọc lại nhiều lần tôi mới hiểu hết ý nghĩa thực sự của trích đoạn này.

Thuyền, rốt cuộc, diễn ra như một cuộc trò chuyện (mà cũng là một truy vấn) bản thân, một đi tìm (mà cũng là một khám phá) chính mình. Để ray rứt, để dằn vặt và để giãi bày. Trong suốt truyện, ta thường xuyên bắt gặp sự lặp đi lặp lại các từ ngữ như tự do, cái chết, sự sống, tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc, đau khổ, chia lìa, số phận, chọn lựa, lỗi lầm, bạo lực, lịch sử, tồn tại, nhân loại, hy vọng, tuyệt vọng, thân xác, linh hồn, nhục nhã, hèn nhát, vân vân. Tác giả (hóa thân trong nhân vật) nêu lên chúng, cái thì để dùng mô tả, định danh hay luận bàn, cái thì dùng để lý giải, phân tích các cảm giác hay cảm nhận, các tình huống hay các khái niệm… liên hệ đến những gì đang diễn ra, dưới các góc nhìn khác nhau. Chúng xuất hiện, có khi rất rất chín, rất chặt, có khi rời rạc, hoàn toàn ngẫu hứng.

Khi đi coi bói, nhìn những con xúc xắc “tác động lẫn nhau tạo ra đường chạy, đường xoay, chỗ nẩy lên, điểm dừng…”, chàng băn khoăn nghĩ đến “Ánh mắt nghi ngờ của người tổ trưởng dân phố, sự bế tắc của xã hội, giọng nói thuyết phục của người chủ thuyền trong ngõ hẻm.” (tr. 7)

Bị du kích rượt đuổi trong một chuyến đi bị thất bại, chàng vừa chạy vừa suy gẫm lan man về hành vi “chạy”: “Chạy. Vượt qua. Chạy tới danh vọng. Chạy theo sắc đẹp. Chạy theo ảo tưởng. Săn đuổi và bị săn đuổi (…) Chúng ta không để ý đến bàn chân, cho đến một ngày, bạn chạy trên những mô đất chập chùng qua nghĩa địa, qua kênh rạch, bụi rậm đầy gai sắc cào rát da (…) Móng chân của chúng ta bị trầy trụa, tách ra, bị nấm ăn chân. Những móng chân chảy máu (…) Chúng ta chạy để tìm sự sống, tránh cái chết.” (tr. 19)

Ra đến hải phận quốc tế, chàng nghĩ đến ý nghĩa của hai chữ “quốc tế,” theo đó, “thuộc về quốc tế tức là thuộc về những quy luật của loài người, khách quan, dễ hiểu. Thuộc về những đặc tính phổ biến của vũ trụ, lẽ công bằng của tự nhiên, tức là không bị ai đánh đập vô cớ, không bị ai tra hỏi bất ngờ, thích ăn thì ăn, thích mặc thì mặc, thích nói thì nói, không thích nói thì không nói. Ai cũng được tôn trọng, ai cũng được học hành, ai cũng được mưu cầu hạnh phúc và tình yêu.” (tr. 42)

Khi bọn hải tặc xông lên thuyền, mọi người sợ hãi, chàng nhận ra rằng “Những hình ảnh ấy làm nên hình ảnh của tôi, làm nên ký ức của tôi về một số phận. Chúng ta tồn tại vì chúng ta tồn tại trong mắt người khác, hèn nhát hay can đảm. Con người cần một phút để làm người, và nếu có thể sống, thì sống mà kể lại.” (tr. 54) Anh đang đề cập đến một khái niệm triết học: “tha nhân” là một trong những thành phần cấu thành “bản thân” tôi.

Nếu người yêu mình bị bọn hải tặc hiếp dâm trước mặt mình thì sao? Chàng không tìm ra câu trả lời, đầu óc nghĩ đến phát ngôn của nhà tiên tri Zarathustra, “Đời sống là một trò chơi” rồi tự an ủi mình, “Tình yêu không chết vì tuổi già. Nó chỉ chết vì tai nạn.” (tr. 55)

Chứng kiến cảnh người yêu của mình tự tử để bảo toàn danh tiết, chàng bàn về cái chết như một biến mất tình cờ: “Tôi không bao giờ nghĩ rằng điều ấy có thể xảy ra với tôi. Tôi biết rằng nó xảy ra cho một người nào đó. Tôi biết nó xảy ra với những người khác. Ở một nơi nào đó. (…) Giờ đây, sự biến mất của người thiếu nữ. Cái chết của hy vọng, ý nghĩa của cuộc ra đi. Giờ đây, cuộc ra đi không còn một ý nghĩa nào nữa.” (tr. 64)

Nhìn Châu – người đàn ông từng chứng kiến vợ mới cưới của mình bị hải tặc thay nhau hiếp dâm hàng chục lần rồi bắt đi – treo cổ tự tử trên cái xà gỗ một căn nhà trong trại tị nạn, chàng lý đoán là “Châu không còn chịu được sự hành hạ của ký ức. Anh đã chọn con đường ngắn nhất để trở về.” (tr. 116)
Nằm với Kyra, một người yêu khác sau này khi cuộc sống đã ổn định, chàng đưa ra một lý giải (vừa khoa học lại vừa triết lý) về tình dục: “Chính niềm vui được tới gần nhau, nhìn vào mắt nhau, nằm bên nhau, thèm khát và rời bỏ, chia ly và tái hợp, sự vận động của các bắp thịt, máu chảy trong huyết quản, các tín hiệu thần kinh nhấp nháy trên mỗi đầu ngón tay, ngón chân, trong vỏ não và dưới vỏ não, toàn bộ tấm lưới gồm hàng triệu nguyên tử, sự hòa hợp ấy, bài hát và bản giao hưởng ấy, sự lao vào nhau, và buông thả, và hồi ức về, nó làm nên sự vui thú của tình dục. Tựa như thân xác đối với linh hồn, nó làm cho linh hồn đậu xuống trên thế gian, tình dục đối với tình yêu cũng vậy, nó làm cho tình yêu hiện hữu trên thế gian, mang một gương mặt người trọn vẹn.” (tr. 134)

Những trích đoạn – được góp nhặt một cách tình cờ – trên, là hơi thở, khi thì dồn dập hãi hùng, khi thì hoang mang đứt đoạn, khi thì lơi lỏng, dịu nhẹ mang mang… của Thuyền. Hơi thở này, chiếm phần lớn nội dung tác phẩm, là nền tảng tạo nên nét đặc sắc riêng của nó.

Có thể nói, bất kể là sự kiện gì, nhỏ lớn, nhìn thấy trước mắt hay hồi tưởng lại, vui hay buồn, những hoang mang, lo lắng trong giai đoạn tiền vượt biên hay những hiểm nguy, bi kịch nhãn tiền khi đối diện với cái chết cũng như sự thoải mái, hạnh phúc và tự do của những tháng ngày định cư, rồi trở về quê hương vân vân và vân vân, đều kéo theo dòng tâm thức tràn trề, mênh mang như thế. Các trạng thái tâm lý đó trở thành diễn ngôn, được tác giả tận dụng như nguồn suối chủ đạo, bao trùm và chi phối một cách mạnh mẽ và sâu sắc về những gì đã, đang hay sẽ xảy ra trong suốt mạch truyện. Thậm chí có lúc, chúng khỏa lấp luôn sự kiện, kể cả những sự kiện bi thảm nhất. Ta sẽ không ngạc nhiên khi tác giả biến các chương tiểu thuyết thành tùy bút, biến các biến cố thành những vấn nạn nhân sinh, biến những suy gẫm lan man thành thơ hay thành những “triết ngôn,” đôi khi, nghe chắc nịch như chân lý.

Nhìn bọn hải tặc đang sẵn sàng hành động, chàng suy gẫm về lẽ đời: “Không có một phép lạ nào xảy ra cả, đời sống tiếp tục, vẻ đẹp của nó và sự đau khổ của nó tiếp tục. Nhân loại quay mặt đi trước những nghịch cảnh. Tôi không thể trách nhân loại được. Tôi là một phần của nhân loại ấy. Tôi tham gia vào sự ngoảnh mặt ấy. Tôi cô độc và đứng một mình đối diện với số phận của mình…” (tr. 56)

Giữa cơn biển động và cái chết gần kề, “Tôi nhận ra sự hiện hữu của tôi chính là thân xác của tôi.” (tr. 68)

Lần đầu tiên được đọc một cuốn sách vốn đã từng đọc rồi ở trong nước, The Brothers Karamazov, chàng vừa lên án “văn học là sự dối trá” lại vừa ca ngợi nó là “mặc khải.” (tr. 118)

Như thế, Thuyền được hình thành bằng hai mặt của một hiện sinh, khi thì phản ảnh lẫn nhau, khi thì riêng hẳn ra như hai thực thể độc lập.

Trong chiều hướng đó, Nguyễn Đức Tùng đã tìm cách “làm mới lại” một đề tài rất cũ. Bằng cách nào? Thay đổi và sáng tạo cách diễn đạt, chuyển dịch hướng đi của mạch truyện, pha chế hay khai thác tính đa nghĩa mông lung của ngôn ngữ. Về ngôn ngữ, anh sử dụng chữ nghĩa dè dặt, thận trọng, được chọn lọc rất kỹ. Sự đổi khác ngôn ngữ sẽ làm đổi khác cách tiếp cận. “Đôi dép cao su làm bằng vỏ xe hơi cũ” thay vì “dép râu”; “hai người mặc quần áo màu xanh lá, cả hai đều đội mũ” thay vì “hai cán bộ cộng sản”; “cô học sinh địa phương thời cũ” thay vì thời VNCH; mô tả một cán bộ nhà nước cao cấp – có lẽ là chủ tịch nước – đọc diễn văn trên truyền hình, là một “người đàn ông thấp, đậm, mặt sáng sủa, bầu bĩnh,” ông ta “cúi xuống nhiều lần, ngẩng đầu, nhắc đến thành tích, khó khăn, dặn dò, chúc Tết.” Thuyền, do đó, xuất hiện như một sản phẩm mới mẻ. Vì sao? “Vì bên dưới một sự thật, có những sự thật khác. (…) Mỗi sự thật đều được kể lại bởi một người khác, với một trí nhớ khác, với một giọng nói khác”, dẫu biết rằng, “Câu chuyện kể không làm thay đổi số phận.” (tr. 138)

Nhân vật trong Thuyền là một thuyền nhân “hồn nhiên,” ra đi để tìm một hoàn cảnh sống tốt đẹp hơn, so với rất nhiều thuyền nhân khác là những kẻ cùng khổ hay những người phục vụ cho chế độ VNCH, nhất là những cựu tù nhân trở về từ các trại cải tạo (và thân nhân của họ); họ ra đi đầy thương tích chính trị, đầy oan khiên phẫn hận. Trong Thuyền, có một sự nén ép tối đa để tránh xa các thông điệp chính trị. Thay vào đó, là thông điệp nhân sinh, là chuyện đời muôn thuở: thân phận (mong manh) của con người khi đối diện với những tình thế vô cùng cực đoan, lúc mà mỗi một cá nhân phải tự mình giải quyết những mâu thuẫn ở đây và lúc này (hic and nunc = here and now): hèn hạ – anh hùng, bội phản – trung thành, đức hạnh – lỗi lầm, chết – sống, tồn tại – hư vô… Thông điệp được Thuyền gửi ra, trong lúc không thể nào xí xóa được bối cảnh gây ra phong trào vượt biên và thảm kịch thuyền nhân, là một nỗ lực làm nhẹ đi phần nào gánh nặng lịch sử mà thế hệ của Nguyễn Đức Tùng và của tôi đã phải vác trên vai.

*

Bị cuốn hút bởi vô số sự kiện, hầu hết đều gây “sốc” mặt này mặt khác, người đọc rất có thể không để ý đến một câu chuyện nhỏ, bị chìm khuất giữa quá nhiều sự kiện “lớn” khác.

Hai người đều đương độ hai mươi, rất trẻ, rất tương lai. Chàng người Trung, nàng người Bắc, một cô “Bắc kỳ thương khó.” Chán ngán với cảnh “chiến tranh chấm dứt mà không chấm dứt, hòa bình lo âu,” họ quyết định ra đi, vì “ước vọng lớn nhất của con người là tự do.” Băn khoăn, lo lắng, họ rủ nhau đi coi bói. Bà thầy bói quả quyết: “Anh đi được. Chị, không.” Vậy phải làm sao bây giờ? Có thể đi được với điều kiện, nàng phải luôn luôn đi sau lưng chàng. Lời phán này trở thành nỗi ám ảnh khiến có lúc nàng thối chí, ngay cả khi thuyền sắp ra biển, về sau này. Nhưng, đi là đi. Họ cùng nhau chuẩn bị cho chuyến hải hành, cùng nhau đi. Đi là trốn, là núp, là ngụy trang, là sợ, là nhịn, là đói, là chạy, là lội, là hối lộ, là mua đường và là cả ngàn thứ không tên khác. Bị bể. Lại tìm cách đi. Thua keo này bày keo khác. Rốt cuộc, ra được hải phận quốc tế. Thoát kiếp nạn công an, lại rơi vào một kiếp nạn khác: hải tặc. Chẳng có thì giờ để nghĩ đến nhau. Sau ba lần bị tấn công, cướp bóc, thuyền chết máy, trôi dạt lênh đên trên sóng nước “như chiếc lá.”

Đói, đau, tuyệt vọng, cả hai đều sức cùng lực tận, thế nhưng đêm đó, thức dậy sau một cơn ngủ mê, chàng nghe bàn tay của nàng chạm vào. “Nàng đặt tay lên ngực tôi, chỗ xương ức, kéo dần xuống. Tôi nằm im, ngạc nhiên, nghĩ ngợi. Liên Hương rụt tay về, một lát sau lại đặt tay lên trái tim tôi.” Cử chỉ đó chứa đựng một thông điệp ngầm: dâng hiến. Nguyễn Đức Tùng viết: sự thèm muốn chính là sự sống. Chính xác!

“Tôi (…) ôm lấy nàng thật lâu, dán sát da thịt vào nhau, đùi phải của tôi chạm vào háng nàng, tôi dừng lại, giữ thật lâu, Liên Hương cởi thắt lưng quần ra, tuột nó xuống, vướng bàn chân, nằm nghiêng người, úp mặt vào ngực tôi. Chúng tôi làm tình trong bóng tối dày đặc, dữ dội, mê man, đau đớn, cố gắng không gây ra tiếng động, khổ sở và sung sướng, giờ đây những giọt mồ hôi cuối cùng được vắt kiệt bắt đầu lấm tấm trên da bụng của tôi, tôi cầm tay nàng đặt lên chỗ ấy, Liên Hương chạm tay vào, bàn tay của nàng sáng lên trong bóng tối. Nàng cúi xuống hạ thấp người hơn nữa, úp mặt vào giữa hai đùi tôi… Chúng tôi nằm im như thế, tôi ở bên trong nàng, như ở bên trong buổi chiều mưa, tôi dừng xe lại trước căn nhà quét vôi xanh tím trong ngõ hẻm, đứng trước sân, trong mưa, mưa lớn quá tạt ướt hết nửa người, cô gái mở hé cánh cổng ra để cho tôi vào trú trên hành lang có chiếc ghế mây và đống củi thông cao. Liên Hương luôn làm tôi ngạc nhiên. Sự quyến rũ của nàng nằm ở đó. Sự kết hợp của những tính cách đầy đối nghịch, vừa yếu đuối vừa dũng cảm, vừa chậm rãi vừa cương quyết, tiết chế và ham muốn. Chúng tôi vào trong nhau nhiều lần, bất tận, dằng dặc như đêm, như thảm kịch.”[5] (tr. 76)

Đó là đoạn cao trào trong chương 18, “Đêm,” một trong những chương hay nhất của Thuyền. “Đêm” là kết hợp của nhiều thể loại: truyện ngắn, tùy bút, đoản văn, tản văn, thơ; nó đẹp ở cả ngôn ngữ lẫn ý tưởng, cả hình ảnh lẫn tâm lý. Hiện thực mà bay bổng; erotic mà đức hạnh. Một kết hợp toàn bích giữa tình yêu và tình dục, giữa hiến dâng và thủ đắc, giữa cho và nhận. “Chúng tôi trôi nổi bồng bềnh trên mặt kính thời gian để mặc những chiếc kim đồng hồ dài và ngắn quay bên dưới, quay đều, quay đều, quay đều, tôi giữ chặt lấy nàng trong tay, ngủ thiếp đi, thiếp đi, dưới những nụ hôn làm tôi ngạc nhiên, chúng tan ra như giấy, vào lúc ấy tôi không biết đó là lời từ biệt của nàng, lời từ biệt cuối cùng như giấy tiền vàng mã tan ra trong mưa bụi sau lễ cúng.” (tr. 76) Chữ nghĩa lung linh như thơ.

Bọn cướp lại lên tàu. Đàn ông chống lại, chúng bắn hạ. Chàng bị một báng súng giáng trúng mạn sườn, khuỵu xuống. Phụ nữ, kể cả nàng, bị chúng lùa đi. Bất lực, chàng nhìn “nàng bước không run rẩy, từng bước chậm chạp, nhưng chắc chắn” với “tà áo sơ mi bằng lụa mỏng, màu tím nhạt hoa cà, bay phấp phới.” Nàng ngoái nhìn chàng một lần nữa, rồi “cất bước đi giữa những người đàn bà khác. Dáng đi mau lẹ, bình thản. Trong một phần mười giây đồng hồ, sau đó, hay một phần trăm giây, sau ánh mắt ấy, Liên Hương đột ngột biến mất. Nàng lao xuống biển như một con chim én. Không một tiếng động.” (tr. 63)

Kiêu hãnh, đau đớn. Và đẹp!
Cái đẹp vô cùng của tình yêu.
 
TRẦN HỮU THỤC
(7/2025)
  
Chú thích
[1] Tất cả những con số nằm trong ngoặc đơn suốt bài viết là để chỉ số trang của các trích đoạn từ Thuyền, bản điện tử, do tác giả Nguyễn Đức Tùng gửi qua điện thư.
[2] Nhại theo William Shakespeare: To be or not to be, that is the question.
[3] Có người cho là của danh hài Trần Văn Trạch. Về sau có lần ông Nguyễn Xuân Phúc, nguyên thủ tướng Việt Nam, sử dụng lại cách nói này nhưng trong một ngữ cảnh khác. Xem:
Boat people, refugees fleeing by boat. The term originally referred to the thousands of Vietnamese who fled their country by sea following the collapse of the South Vietnamese government in 1975. Crowded into small vessels, they were prey to pirates, and many suffered dehydration, starvation, and death by drowning.
(Thuyền nhân là những người tị nạn trốn chạy bằng thuyền. Thuật ngữ này vốn dùng để chỉ hàng ngàn người Việt Nam đã rời bỏ đất nước bằng đường biển tiếp theo sau sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1975. Chen chúc trong những chiếc thuyền nhỏ, họ trở thành mồi ngon của hải tặc, và nhiều người đã phải chịu đựng tình trạng đói khát và chết đuối).
[5] Cũng là cuộc ái ân trong tình thế vô cùng cực đoan như thế, một tác giả khác (nữ) viết:
“…Trùng khơi. Bé và anh hãy cùng vượt. Khối Thịt U Sầu to hơn cả hai đứa mình. Anh biết bé làm được. Hà cho anh chút hơi, chút can đảm của bé. Ôi em, anh gọi. Bé đây! Anh đang ở đâu? Em sợ lạc. Bàn tay móng cụt cáu đất cũ còn bám, của em. Bàn tay gầy xanh bao năm cầm bút, của anh. Nắm níu lấy nhau giữa Khối Thịt U Sầu. Đừng buông, bé nhé! Hãy úp mặt vào Khối Thịt U Sầu. Giữ được bao lâu? Vị đắng chát măng cụt đầu mùa đã vội đậm màu nâu già. Trong ruột, từng múi trắng đục ngọt ngọt chua chua nõn nà nằm úp mặt cong lưng. Giữ nhé! kẻo tuột, bám lấy mỏm đá trơn trượt. Là tia sáng bé chỉ tay anh dõi mắt mù tìm. Chóa lòa. Hồng hoang. Vô địa hình. Vô phương hướng. Vô địa táng. Đỉnh thóp đầu bé vừa lọt lòng mẹ phập phồng, anh quờ quạng tìm em, nút bầu vú cạn nguồn. Nhay trì. Bé ơi, bầu vú, những ngón tay thừa, vò xát. Mạnh. Mạnh nữa đi bé ơi! Hãy giúp anh vượt, leo qua Khối Thịt U Sầu này. Anh sợ. Khối Thịt U Sầu chan hòa mùi máu anh, mùi tinh trùng cha anh, mùi nhau mẹ anh. “Để bé trèo qua nhé! Bé liều lĩnh can đảm mạnh mẽ hơn anh. Bé không sợ, không biết, hay chẳng còn gì để sợ, và đã quen sợ… cùng lắm là Chết. Chết là hết. Mẹ em đã chết.” “Suỵt… đừng nói thế, đừng nói thế, đừng để anh đánh mất…” Trong mắt anh, mù khơi, không biên cương, không bờ cõi. Nào, em leo qua được một phần rồi, cứng ngắc, nhọn… nhưng nóng hổi, mùi vị tham tàn. Sao chẳng ấm êm, mềm mại? Bầy cá đang rỉa dần bầu vú bé. Nhẹ, nào hãy nhẹ nhàng với em. Bé đau…”
(Âm Vọng, tiểu thuyết của Lê Thị Thấm Vân, nxb Anh Thư 2003, trang 69)
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiếm có một tiểu thuyết như Đường về thủy phủ của Trịnh Y Thư. Không phải là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhưng lại làm người đọc phải bâng khuâng nghĩ về những chặng đường đã trải qua của dân tộc. Không phải là một tiểu thuyết diễm tình, nhưng lòng độc giả sẽ chùng xuống khi khép trang sách lại và ngậm ngùi cho những mối tình tan vỡ. Bạn có thể đọc xong, tuần sau đọc lại, vẫn còn thấy có những gì như cần đọc nữa. Chữ của Trịnh Y Thư như dường không cũ tí nào, vì nó luôn luôn gợi tới những gì sâu thẳm trong tim mỗi người, những ước mơ về một mối tình rất mực kỳ ngộ, rất mực dị thường.
“Ở Phía Đông Âm Phủ” là một trong hai truyện tạo thành tập truyện có cùng tựa đề “Ở Phía Đông Âm Phủ” của nhà văn Nguyễn Viện. Sách dày 184 trang do Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2024. Ở âm phủ, dĩ nhiên, để bị trừng phạt và đền tội, nếu vậy, ngụ ý của tác giả là tội gì, đối với các nhân vật trong truyện, những lãnh tụ có thật đưa vào hư cấu, mang máu lịch sử, tạo ra những khúc quanh lớn cho dân tộc, chôn hàng hà sa số xương thịt của người dân, dù có ý định tốt đẹp? Đối với lãnh đạo, lý tưởng và hành động là hai bạn đồng hành, nếu họ yêu nhau, chuyện tốt đẹp sẽ xảy ra; nếu họ phản bội nhau, chuyện xấu xa sẽ xuất hiện sau mặt nạ son phấn của tuyên truyền.
Sách mới "Ở PHÍA ĐÔNG ÂM PHỦ" của Nguyễn Viện, do NXB Tiếng Quê Hương (Mỹ) ấn hành, 2024. Gồm 2 truyện kịch: VÀ, HẮN ĐÃ ĐẾN & Ở PHÍA ĐÔNG ÂM PHỦ. Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng nhận định: “Ở phía đông âm phủ” độc đáo ở chỗ tác giả không miêu tả trực tiếp nhân vật, mà để cho họ nói năng như trên sân khấu, như trong một vở kịch. Hình thức tiểu thuyết - kịch rất hiếm trong văn học Việt Nam… Những quan sát của anh sắc bén, và trong một ngôn ngữ đẹp, giản dị, tinh tế, dí dỏm, tôi thiết nghĩ anh đã thành công trong việc đánh thức ý thức lịch sử và xúc cảm cá nhân nơi người đọc. Nhà nghiên cứu lý luận Ngu Yên đúc kết: Trên con đường văn chương Việt, Nguyễn Viện trở thành một trong số ít nhà văn phiêu lưu, dọ dẫm vào miền văn học lạ lẫm.
Kề từ khi bệnh tật tận tình thăm hỏi, Khánh Trường đã cho ra đời: Truyện ngắn Khánh Trường (2016), Chuyện Bao Đồng (tạp bút, 2018) và các tiểu thuyết: Tịch Dương (2019), Dấu Khói Tàn Tro (2020), Bãi Sậy Chân Cầu (2020), Có Kẻ Cuồng Điên Khóc (2020), Xuyên Giấc Chiêm Bao (2021), Đừng Theo Dông Bão (2021). Nắng Qua Đèo (2021), Năm Tháng Buồn Thiu (2023), Cùng Nhau Đất Trời (2024) và cuối cùng là tập Thơ Khánh Trường (2024). Số tác phẩm đồ sộ này, ít ai, kể cả những tác giả sung sức nhất, làm nổi. Đúng là…kỳ vĩ! Cuốn “Cùng Nhau Đất Trời” này có chút khác với các cuốn trước vì tác giả ghi ngay ngoài bìa sách là “du ký tiểu thuyết”. Chuyện mới à! Mới nhưng truyện của Khánh Trường chằng bao giờ thoát ra khỏi tình. “Cùng Nhau Đất Trời” cũng vậy, đây là một truyện tình. Nhân vật chính không còn trẻ, đã 38 tuổi, chưa chồng con. Ông bố sốt ruột: “Cô tưởng cô còn trẻ lắm sao? Kén cá chọn canh mãi, mai mốt thành gái già, hối không kịp”.
Nhận được cuốn tiểu thuyết Đường về thủy phủ của nhà văn Trinh Y Thư, nghiền ngẫm đọc mấy hôm và suy nghĩ viết đôi lời cảm nhận cho tác phẩm của ông...
Tôi đã đọc bản thảo “Dòng Đời” khá là chậm. Đôi khi tôi đọc lại môt số đoạn, một số trang. Khi đọc lại toàn văn bản thảo lần thứ nhì, tôi lấy giấy ra ghi chú về các nhân vật, các mốc thời gian, những chuyển biến khi các nhân vật dời đổi từ bên dòng sông này qua thị trấn miền núi kia. Tất cả như một cuốn phim về một quê nhà đang tìm hướng đi trong thời kỳ hậu thực dân Pháp, nơi lối rẽ của tranh chấp để con sông trở thành đôi bờ và rồi người lái đò (trong tiểu thuyết này là người có tên là ông Ba Đò) trở thành người hai mặt, bị buộc cung cấp tin cho cả hai lực lượng thuộc hai ý thức hệ khác nhau.
Ngôn Ngữ đặc biệt về “tác giả tác phẩm”, cuốn này hân hạnh được giới thiệu đến quý bạn đọc, một cây bút tài danh đã viết và thành công trong hầu hết trong nhiều bộ môn văn học nghệ thuật qua bốn thập niên. Tác giả đó là nhà văn Trịnh Y Thư. Ông tên thật Trịnh Ngọc Minh, sinh ngày 11 tháng 2 năm 1952 tại Hà Nội, trưởng thành tại Sài Gòn, du học và hành nghề điện tử viễn thông tại Hoa Kỳ cho đến khi hưu trí vào năm 2018. Như đã thượng dẫn, Trịnh Y Thư là một người đa tài, chúng tôi xin giới thiệu đại khái về từng bộ môn ông đã sinh hoạt. Trong bộ môn văn, ông đã viết và phổ biến rộng qua sách in từ truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện dịch, khảo cứu, nhận định văn học, tùy bút, tạp bút, tạp luận. Với bộ môn thi ca, ông có một số ít bài theo phong cách vần điệu nhưng không cùn mòn. Chúng tôi nghĩ ông rất hứng thú và chuyên về trường ca, hoặc những bài viết có số lượng câu không quá ngắn hoặc quá dài, và ông cũng sử dụng cả lối thơ Hokku với chỉ 3 câu cho từng khổ.
Trong số truyện ngắn của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trong tập truyện Gìn Vàng Giữ Ngọc có lẽ là tác phẩm được độc giả nhắc đến nhiều nhất. Dựa trên câu chuyện cơ cực có thật của chính gia đình mình trong thời toàn quốc kháng chiến chống Pháp, Doãn Quốc Sỹ đã kể lại với một cách nhìn nhân bản, kết thúc với đoạn văn được những người hâm mộ trích lại nhiều nhất: “…Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn; ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành…”
"Dòng Đời", tác phẩm thứ sáu của nhà văn Lê Lạc Giao, lấy cảm hứng từ sự tuôn chảy của một dòng sông để phác họa nhiều dòng chảy khác sâu kín, phức tạp, đa chiều trong nội tâm của Hiểu, nhân vật chính trong tiểu thuyết. Hiểu lạc trôi theo vận nước, bước qua những tàn tích của lịch sử, qua những bóng ma quá khứ, những khoảnh khắc cô đơn tuyệt vọng để tìm lại bản thân, hội nhập, đối diện với những thử thách mới trong hiện tại và tương lai.
Suy nghĩ về thơ, Đặng Toản đã viết: “ ... Thơ chấp nhận mọi sự đẽo gọt và không đẽo gọt, từ vi tế đến thô ráp, từ dân gian đến bác học và các thành phần tham gia vào chiếu thơ có mặt phu xe và tể tướng, gã ăn mày và đại phú hộ...” ( Nghĩ về thơ, trang 258). Do đó sẽ càng thú vị hơn, khi ta bắt gặp những hình ảnh thơ, những câu thơ với những ngôn ngữ “nghề nghiệp” song cũng đầy mới lạ và ấn tượng của “gã thợ tiện’ bên những tia laser cắt... ống sắt!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.