Hôm nay,  

Biếm Họa Mít Đặc: Một Bộ Sử Việt Nam, Cười Mà Nghĩ!

12/09/202500:00:00(Xem: 3713)
 
LTS: Ngày Chủ nhật 12 tháng 10 sắp đến, vào lúc 2 giờ chiều, một nhóm thân hữu của họa sĩ Mít Đặc, tức kiến trúc sư Võ Phượng Đằng, sẽ tổ chức buổi ra mắt tuyển tập biếm họa Một Thời Không Quên gần 350 trang, khổ giấy 8.5x11 inches, của ông tại Palette Art Gallery, 10925 Beechnut St, Houston, Texas. Nhằm giới thiệu tuyển tập này với độc giả, Việt Báo xin gửi đến quý vị bài Tựa của kỹ sư Nguyễn Ngọc Bảo đăng trong tuyển tập.

Được biết giá mỗi quyển Một Thời Không Quên là 30 Mỹ kim kể cả cước phí. Độc giả muốn mua sách, xin liên lạc qua email address [email protected].

diem sach
Chiều hôm nay, khi ngồi xem lại những bức tranh biếm họa của Mít Đặc trong tập “Ngày Tháng Không Quên” sắp được ấn hành và xuất bản, tôi bỗng nhớ đến câu nói của Ronald Searle:

“Cartooning should be done with a surgeon’s precision and a butcher’s focus.” (Tranh biếm họa cần được thực hiện với sự chính xác của bác sĩ phẫu thuật và sự tập trung của người hàng thịt).

Ronald Searle là một họa sĩ biếm họa người Anh nổi tiếng trên thế giới. Ông đã qua đời năm 2011 và có lẽ chưa từng xem tranh Mít Đặc. Tuy nhiên, hai yêu tố ông đề cập đến, sự chính xác của bác sĩ phẫu thuật và sự tập trung vào những nhát dao của anh hàng thịt, nhát nào ra nhát nấy, là đặc điểm chúng ta có thể rõ ràng nhận thấy trong tranh biếm họa của Mít Đặc.

Mít Đặc là bút danh của anh Võ Phượng Đằng, xuất thân từ Đại Học Kiến Trúc Sài Gòn trước biến cố tháng Tư năm 1975, trên các tác phẩm biếm họa. Tôi có hân hạnh quen biết anh từ hơn 20 năm trước khi anh gia nhập Ban Biên Tập báo Ngày Nay cùng với chúng tôi. Thuở ấy, báo Ngày Nay, xuất bản vào ngày 1 và 15 mỗi tháng, là một trong những tờ báo tiếng Việt có nhiều độc giả ở Hoa Kỳ do anh Trương Trọng Trác, tức cố ký giả Trọng Kim, là chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tòa soạn báo đặt trên đường Montrose trong khu downtown của thành phố Houston, tiểu bang Texas. Mỗi số báo có phụ trang Ngày Nay Cười rất được độc giả tán thưởng. Trong phụ trang này, bao giờ cũng có một biếm họa của Mít Đặc và là mục luôn được tôi xem trước tiên mỗi khi nhận được báo. Có thể nói biếm họa của Mít Đặc là mục được độc giả yêu thích nhất trong tờ báo. Vì vậy, khi sắp xếp, trình bầy một số báo mới, anh Trọng Kim luôn dành sẵn một ô trống cho biếm họa Mít Đặc và chấp nhận đợi chờ anh Võ Phượng Đằng mang tranh đến, dù muộn thế nào cũng phải đợi. Có tranh rồi, bản sắp xếp (layout) tờ báo mới được gửi đến nhà in. Chỉ tranh Mít Đặc được ông chủ chủ nhiệm kiêm chủ bút báo dành cho sự biệt đãi này.

Biếm họa là loại tranh hài hước, dí dỏm, được sáng tác dựa trên thực tế để phê phán những tiêu cực của con người và xã hội. Biếm họa có thể được chia ra nhiều thể loại như biếm họa chính trị, biếm họa xã hội, biếm họa người, biếm họa hài hước cốt để mua vui, v.v. Trong số này, biếm họa chính trị là lãnh vực nhậy cảm nhất và được nhiều người quan tâm nhất. Biếm họa chính trị sử dụng phương thức cường điệu với quan điểm riêng của tác giả, dựa trên sự thật nhưng pha trộn với sự trào lộng để đả kích một sự kiện mang mầu sắc chính trị, phê phán thói hư tật xấu, mưu đồ bất chính, hoặc giễu cợt sự dốt nát của những chính trị gia. Các biếm họa của Mít Đặc thuộc lãnh vực chính trị và đặt trọng tâm vào cuộc chiến Việt Nam cùng những hệ lụy; các vấn nạn của xã hội chủ nghĩa; sự nhố nhăng, trơ trẽn, gian xảo, và ngu dốt của giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Tôi yêu những tác phẩm biếm họa của anh ở những nét cẩn trọng, bố cục vững chãi, điểm chính được trình bầy đậm nét, thông điệp rõ ràng, ý tưởng chuyển tải khéo léo, nét mặt nhân vật biểu cảm rất phù hợp với con người cũng như tính cách, và đặc biệt là nụ cười hóm hỉnh bàng bạc trong tranh. Có thể nói, anh đã đem nghệ thuật hội họa và kiến trúc cùng sự hiểu biết cặn kẽ về đề tài và chất hài hước vốn có của anh vào biếm họa. Các biếm họa của Mít Đặc, theo tôi, đáp ứng đủ ba điều kiện để trở thành những tác phẩm giá trị. Thứ nhất là phản ảnh thực trạng xã hội; thứ hai là mang đến cho độc giả cái nhìn trung thực hơn về đề tài để thúc đẩy họ suy nghĩ sâu xa hơn; và, thứ ba là nét hóm hỉnh trong tranh đem lại cho người xem những phút giây giải trí quý báu. Thêm nữa, có thể nói những tác phẩm biếm họa ấy là những “chứng nhân” cho lịch sử Việt Nam trong sáu, bẩy thập niên qua, giúp độc giả, đặc biệt là giới trẻ, có tầm nhìn thấu đáo hơn về chiến tranh Việt Nam, về những xảo quyệt của cộng sản, và về chính sách khi này lúc nọ của Hoa Kỳ đối với cuộc chiến. Tôi tin rằng quyển Ngày Tháng Không Quên quý vị đang cầm trên tay, những bức biếm họa trong tập sách rồi sẽ có cơ hội đến với những người trẻ trên quê hương ta như một quyển sử không những mang lại cho họ sự hiểu biết hơn về cuộc chiến, về xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mà còn cả những nụ cười.

Đối với tôi, họa sĩ vẽ tranh biếm họa chính trị là những người dũng cảm, chấp nhận đương đầu với sự trả thù của những cá nhân, những tập thể có quyền lực bị họ đem ra châm biếm và giễu cợt. Hơn ba thế kỷ trước, biếm họa chính trị là một lãnh vực các họa sĩ không dám chen chân vào vì những hệ lụy nguy hiểm, đặc biệt là ở những quốc gia mà nền dân chủ chưa phát triển. Tại nước Anh, có thể nói biếm họa chính trị chỉ thực sự phát triển từ cuối thế kỷ thứ 17 với sự ban hành Luật Tự Do Báo Chí năm 1695. Nhờ vậy, các họa sĩ biếm họa yên tâm hơn vì được luật pháp bảo vệ khi phê phán hoàng gia Anh hay chỉ trích, chê bai, giễu cợt các chính trị gia nước họ. Sang đến thế kỷ 20, trong xã hội Âu Mỹ, biếm họa trở thành một vũ khí hữu hiệu để các họa sĩ đấu tranh với cái xấu, cái ác hoặc ít ra là với cái xấu, cái ác trong sự suy nghĩ của họ mà người đọc là trọng tài. Tuy nhiên, dù được luật pháp bảo vệ, nhiều họa sĩ biếm họa đã trở thành nạn nhân của những vụ trả thù. Kể từ khi họa sĩ Honore Daumier người Pháp bị cầm tù năm 1832 vì một bức tranh chế giễu vua Louis Philippe cho đến hôm nay, đă có hàng trăm họa sĩ biếm họa bị bắt bớ, giam cầm, đánh đập. Có những người bị tàn sát như năm họa sĩ biếm họa Pháp của tuần báo Charlie Hebdo bị một nhóm Hồi giáo quá khích sát hại trong vụ tấn công vào tòa soạn báo ở Paris vào tháng giêng năm 2015.

Tại Việt Nam, trước biến cố tháng 4 năm 1975, trong lúc ở miền Bắc không họa sĩ nào dám bén mảng đến lãnh vực châm biếm chính trị sau khi các văn nghệ sĩ nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm bị nhà cầm quyền tước đoạt hộ khẩu và đầy đi lao động tại những chốn rừng thiêng nước độc vào cuối năm 1957 thì trong Nam, nhờ được hưởng tự do báo chí, một số họa sĩ đã dấn thân vào lãnh vực này mà nổi tiếng nhất là Ngọc Dũng với bút danh Tuýt của báo Chính Luận và Nguyễn Hải Chí với bút danh Chóe của báo Sóng Thần. Sau khi miền Nam Việt Nam bị thôn tính, ngay trong năm 1975, họa sĩ Chóe đã bị nhà cầm quyền bỏ tù vì một bức biếm họa ông vẽ Lê Đức Thọ từ vài năm trước, khi cuộc chiến còn đang tiếp diễn. Những người lãnh đạo cộng sản vốn có thói thù dai. Cũng vì vậy, kể từ khi miền Nam bị thất thủ, biếm họa chính trị không còn tồn tại ở Việt Nam. Nếu tại các quốc gia khác, đối tượng của biếm họa là giới cầm quyền thì tại Việt Nam sau này, đối tượng bị các họa sĩ biếm họa chế giễu và công kích chính là… người dân thấp cổ bé miệng.

Khi bước vào con đường  biếm họa chính trị với những bức vẽ liên quan đến vận nước Việt Nam, anh Võ Phượng Đằng đã chấp nhận những hệ lụy xấu có thể xẩy đến cho anh. Anh dư hiểu rằng người cộng sản sẽ không làm ngơ cho anh trước những bức biếm họa châm biếm, giễu cợt giới lãnh đạo cũng như bản chất đảng cộng sản Việt Nam. Chẳng hạn như bức vẽ bà mẹ Việt Nam gầy gò ốm yếu đang gồng mình gánh hai quang thúng, một bên là Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang, bên kia là Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Sinh Hùng với lời chú thích “Đến bao giờ mẹ Việt Nam mới được an hưởng tuổi già khi mà mẹ vẫn phải tiếp tục cưu mang những đứa con bất hiếu, bất tài, khôn nhà dại chợ!” Chẳng hạn như bức vẽ Nguyễn Phú Trọng được Hồ Cẩm Đào, cựu tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, đội lên đầu chiếc mũ truyền thống của Trung Quốc trên có ghi hàng chữ Tổng Bí Thư. Chẳng hạn như tranh mừng Tết Mậu Tý 2008 với hình vẽ phỏng từ tranh dân gian Đám Cưới Chuột trong đó các chuột mang tên Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết khiêng kiệu cho mèo Hồ Cẩm Đào đang ngồi chễm chệ. Phía trước là chuột Đỗ Mưởi đội mâm cá tượng trưng đảo Trường Sa và chuột Lê Đức Anh cầm bộ xương cá Hoàng Sa mà mèo vừa thưởng thức. Chẳng hạn như nhiều bức tranh khác in trong tập sách này... Với tôi, qua những bức biếm họa, anh Võ Phượng Đằng đã hoàn thành bổn phận của một bậc sĩ phu đối với quê hương, đất nước trong thời của anh, của chúng ta.

Tháng Ba năm 2019, tôi và nhà tôi tham dự buổi tiệc do một nhóm đồng hương ở Houston tổ chức để gây quỹ cho việc thực hiện một cuốn phim mang tên “The Vietnam War Through Our Eyes” (Chiến tranh Việt Nam Dưới Cái Nhìn Của Chúng Tôi) với đạo diễn Fred Koster nhằm phản bác sự thiếu trung thưc của bộ phim The Vietnam War do hai đạo diễn có lập trường thiên Cộng là Ken Burn và Lynn Novick thực hiện và được trình chiếu rộng rãi trên TV cũng như trên internet. Hôm ấy, ngay cửa vào hội trường, Ban Tổ Chức trưng bầy một tranh biếm họa phóng lớn của Mít Đặc vẽ hai đạo diễn Burn và Novick mang máy quay phim và microphone đến phỏng vấn bức tượng Thương Tiếc vang bóng một thời ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa trước khi họ thực hiện cuốn phim The Vietnam War. Hai người bảo nhau: “The dead cannot defend for themselves. So let’s do the movie the way we like!” (Người chết không thể tự bảo vệ mình. Vậy hãy làm bộ phim theo cách chúng ta thích). Trên bức tượng có hàng chữ “Defamed by Fonda and Kerry” mang ý nghĩa người lính Việt Nam Cộng Hòa đã bị cô đào điện ảnh Jane Fonda và thượng nghị sĩ Hoa Kỳ John Kerry bôi nhọ. Nhà tôi và tôi rất thích bức biếm họa này nên đã chụp chung một tấm ảnh với anh chị Võ Phượng Đằng bên cạnh bức tranh (hình bên dưới). Tiếc thay, cho đến hôm nay, cuốn phim The Vietnam War Through Our Eyes vẫn chưa được thực hiện dù rằng các cuộc gây quỹ ở Hoa Kỳ và Úc đã quyên được đủ tài chánh cần thiết cho cuốn phim.

 Bút danh “Mít Đặc” của anh Võ Phượng Đằng, theo tôi hiểu, mang ý nghĩa một người Việt Nam thuần túy. Vào thời nhà Đường, khi triều đình Trung Hoa xem Việt Nam như một quận trực thuộc nước họ, vua Đường Cao Tông, trị vì từ năm 649 đến 683, đặt tên nước ta là An Nam đô hộ phủ. Khi Pháp sang đô hộ nước ta vào cuối thế kỷ 19, họ thêm tiếp vĩ ngữ “ite” vào danh từ An Nam để gọi dân ta là Annamite. Từ đó, trong ngôn ngữ bình dân, danh từ Mít được dùng để chỉ người Việt. Nhiều người Việt Nam tự nhận mình là “Mít” với ý nghĩa trào phúng. Còn “đặc” là đông lại, đọng lại, cứng lại. Trong tiếng Việt, “đặc” là một tĩnh từ nhằm tăng cường độ cho từ đi trước. Như vậy, Mít Đặc có nghĩa người Việt chính gốc, người Việt trăm phần trăm từ trong ra ngoài, như những người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ từ gần 5,000 năm trước.

ngoc bao

Ông bà Nguyễn Ngọc Bảo (trái) và ông bà Võ Phượng Đằng (phải) bên cạnh bức tranh biếm họa Mít Đặc trong buổi gây quỹ để thực hiện phim The Vietnam War Through Our Eyes

Một điểm bí ẩn của bút danh “Mít Đặc” là tiếng nói lái. Khi tôi hỏi anh Võ Phượng Đằng phải chăng tiếng nói lái của “Mít Đặc” là một trong những lý do để anh chọn bút danh độc đáo này, anh chỉ cười và nói loanh quanh chứ không trả lời đich xác. Cỏ lẽ chỉ Trời và bà vợ khả kính cũng mít đặc (tức cũng người Việt chính gốc) của anh mới biết rõ sự thật.

Hôm nay, sau nhiều thập niên bị bằng hữu và độc giả mến yêu tranh Mít Đặc thúc giục, anh Võ Phượng Đằng đã quyết định thu gom một số tranh biếm họa của anh để in trong tập “Ngày Tháng Không Quên” này. Tôi tin rằng tác phẩm rồi sẽ trở thành một trong những quyển sách quý nhất trong tủ sách gia đình của tập thể ngưởi Việt sống trên đất khách, những người yêu tự do và là người Việt chính gốc từ trong ra ngoài như Mít Đặc. Với tôi, Ngày Tháng Không Quên là một bộ sử Việt hiện đại được trình bầy qua những tranh biếm họa khiến người xem phải cười mà nghĩ. Nghĩ để thấy lại những gì họ đã thấy, hoặc hiểu rõ hơn những điều họ hiểu chưa đến nơi, đến chốn. Qua tác phẩm này, mai sau, thế hệ con cháu của chúng ta rồi sẽ biết rõ về cuộc chiến Việt Nam, về tính nhân bản của miền Nam tự do và sự tàn bạo của miền Bắc độc tài cộng sản, về những tráo trở của cả đồng minh Hoa Kỳ lẫn cộng sản Việt Nam trong suốt chiều dài cuộc chiến, về lý do khiến thế hệ cha ông phải rời bỏ quê hương để sống nhờ đất khách, thác chôn xứ người.

Vâng, đó là chuyện mai sau. Còn thì trước mắt, xin quý vị hãy mang Ngày Tháng Không Quên về nhà để có dịp cười cùng vợ, con, bằng hữu, và cười với chính mình. Các cụ đã dậy “một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ.” Quý vị chỉ cần nhân số tranh trong tác phẩm với số 10 là biết mình sẽ có được bao nhiêu thang thuốc bổ từ tác phẩm độc đáo này. Cười trong kiếp sống tha phương, cười trong cuộc đời tỵ nạn là bổn phận của chúng ta đối với cơ thể mình đấy quý vị ơi!

Ngồi buồn nhớ chuyện gần xa
Nhớ tên Mít Đặc là ta mắc… cười
Dù ai đương lúc chán đời
Xem tranh Mít Đặc tức thời vui ngay
 
Nguyễn Ngọc Bảo 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mở đầu tuyển tập Đuổi Bắt Một Mùi Hương*, là bốn câu thơ: Bên trời ngồi viết, tóc rối như mây, quê nhà mờ mịt, chữ lạnh đôi tay. Tôi rất thích hình ảnh, bên trời ngồi viết, có lẽ bởi cái vô định của không gian, và vô cùng điểm xô đẩy nhau trên dòng thời gian, cái ẩn chủ thể của viết, của tóc rối, của lạnh đôi tay trong không khí bài thơ này...
Ở tuổi mười bảy, trong sân chùa Xá Lợi một buổi chiều Sài Gòn, nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Đuổi Bắt Một Mùi Hương bất chợt nắm tay một cô bé áo trắng. Đúng khoảnh khắc ấy, một mùi hương lạ thoảng qua trong gió. Cái nắm tay run rẩy và mùi hương mong manh đó đã bám theo nhân vật chính suốt nhiều thập niên
Tuyển Tập PHAN TẤN HẢI VĂN HỌC PRESS & VIỆT BÁO FOUNDATION đồng xuất bản, 2026 .... o .... Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…? – BS Đỗ Hồng Ngọc
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.