Hôm nay,  

Ra Mắt Ấn Bản Tiếng Việt – ‘VIỆT NAM CỦA CON, VIỆT NAM CỦA CHA’ Một Hành Trình Về Nguồn Của Hai Thế Hệ

28/03/202500:00:00(Xem: 7007)

 

Hình-bài
Bìa sách ấn bản tiếng Việt và tiếng Anh. 
Độc giả có thể tìm mua sách tiếng Việt tại: https://www.amazon.com/Việt-Nam-Của-Vietnam-Your/dp/1953103537 hoặc https://threeroomspress.com/product/viet-nam-cua-con-viet-nam-cua-cha-my-vietnam-your-vietnam/

 

LTS: Một trong những thành tựu quan trọng đáng tự hào của cộng đồng người Việt là sự thành công của những cây bút người Mỹ gốc Việt, kể câu chuyện Việt góp phần vào nền văn học lưu vong Việt Nam cũng như góp mặt vào dòng văn học chính Hoa Kỳ. Bài giới thiệu sách này thuộc loạt bài giới thiệu các tác giả, tác phẩm thuộc dòng văn học thế hệ thứ nhất-thứ hai, trong thời điểm 50 Năm Nhìn Lại, từ biến cố tháng Tư, 1975.
 
***
   
Việt Nam của Con, Việt Nam của Cha là cuốn hồi ký "My Vietnam, Your Vietnam" viết bằng tiếng Anh. Đây là cuốn hồi ký song đôi đầy cảm xúc được viết bởi hai cha con Nghĩa M. Võ  và Christina Võ. Tác phẩm không chỉ là một hồi ký cá nhân mà còn phản ánh những trăn trở của hàng triệu người Việt Nam tại hải ngoại.  Họ là những người đã rời quê hương, mang theo ký ức của quá khứ, và những thế hệ con cháu sinh ra ở nước ngoài, khao khát tìm hiểu về nguồn cội của mình.
 
Theo đúng nghĩa, Christina Võ không phải là một Việt Kiều (người sinh ra tại Việt Nam nhưng hiện đang sống ở nước ngoài) mà cô là một người Mỹ gốc Việt. Christina sinh ra và lớn lên ở Mỹ, trong một gia đình sớm không còn mẹ, cô có sự xa cách với người chị, và cũng không gần gủi với người cha.
 
Là một người Mỹ gốc Việt, cuộc hành trình về nguồn của cô vượt qua khái niệm đơn thuần của việc tìm về "quê cha đất tổ",  nó còn là một cuộc hành trình tìm kiếm sự gần gũi, đùm bọc và cảm giác được là một phần của gia đình.
 
Một trong những chủ đề xuyên suốt của cuốn sách là sự khác biệt sâu sắc giữa cha và con trong cách nhìn về Việt Nam.
 
Cuốn sách này đã được ra mắt với độc giả Anh ngữ trước đây, nhưng lần đầu tiên, trong thời điểm 50 nhìn lại,  được nhà xuất bản Three Room Press giới thiệu bản tiếng Việt đến độc giả người Việt qua ngòi bút chuyển ngữ của Kalynh Ngô, với buổi ra mắt giới thiệu sách sẽ được tổ chức ở Coffee Factory, Westminster, lúc 4 giờ chiều ngày thứ Bảy, 5 tháng Tư.
 
So sánh với bản tiếng Anh, Kalynh Ngô không chỉ đơn thuần chuyển ngữ mà còn thổi hồn vào từng câu chữ, giữ trọn giọng điệu riêng của mỗi tác giả, và giúp người đọc cảm nhận được sự khác biệt giữa hai thế hệ. Cô khéo léo lựa chọn những từ ngữ thuần Việt, vừa chân phương, vừa tinh tế, làm sống dậy tâm tư và cảm xúc của người viết. Nhờ đó, cuốn hồi ký không chỉ giữ được bản sắc nguyên tác mà còn trở nên gần gũi, chạm đến tim người đọc.
 
Bằng tài dịch thuật điêu luyện, Kalynh đã bắc một nhịp cầu vững chắc, nối liền hai thế hệ, hai ngôn ngữ, và hơn hết, hai tâm hồn cùng hướng về một quê hương chung. 
 
Cha: Hoài Niệm Về Một Quê Hương Đã Mất 
 
Bác sĩ Nghĩa M. Võ từng là một quân y.  Ông là một thuyền nhân tị nạn năm 1975. Với ông, Việt Nam không chỉ là quê hương, mà còn là một phần quá khứ không thể nào quên. Ông mang theo trong mình những ký ức tuổi thơ, về chiến tranh, và cả những đau thương của một thế hệ đã mất tất cả.
 
Với ông, Việt Nam là một đất nước của lá cờ vàng ba sọc đỏ, có những giá trị văn hóa, chính trị mà ông đã sống và tin tưởng. Ông là một người cha trầm lặng, ít bày tỏ cảm xúc. Ông không kể với con về những đau thương của chiến tranh, về những năm tháng lưu vong, và về nỗi buồn khi chỉ có thể nhìn về quê hương từ xa.
 
Sự im lặng này tạo ra một khoảng cách vô hình giữa hai cha con và hai thế hệ.  Ông sống trong hoài niệm về một quê hương đã mất từ tháng Tư Đen, trong khi con gái ông đang tìm kiếm một Việt Nam của hiện tại, một Việt Nam mà cô muốn tìm hiểu và kết nối.
 
Kết Nối Cội Nguồn 
 
Chắc vì là người Mỹ, với tinh thần tích cực, tự tin, Christina Võ đã có một cách tìm hiểu Việt Nam khá táo bạo.
 
Tuy không biết tiếng Việt và văn hoá Việt, cô đã không ngần ngại về Việt Nam để tự tìm hiểu. Trong khi cha cô sống với định kiến của quá khứ, Christina với tư duy cởi mở đã chấp nhận rủi ro để dấn thân vào một hành trình khám phá nguồn cội ở một chân trời mới.
 
Theo tôi, lý do chính khiến cô tìm đến Việt Nam không phải là vì văn hoá hay lịch sử, mà là vì một nhu cầu tình cảm sâu xa.  Cô muốn tìm hiểu về cha, muốn cảm nhận quê hương mà ông luôn nhắc đến, muốn tìm lại một phần bản sắc mà cô cảm thấy bị thiếu thốn.
 
Một Vấn Đề Mở Rộng Cho Cộng Đồng 
 
Như đã nói ở phần trên, chủ đề xuyên suốt của cuốn hồi ký là sự khác biệt sâu sắc giữa cha và con trong cách nhìn về Việt Nam.
 
Trên phương diện này, cuốn sách không chỉ thuật lại chuyện giữa hai cha con, mà nó còn phản ánh một vấn đề lớn hơn trong cộng đồng người Việt hải ngoại.  Đó là hố sâu ngăn cách giữa thế hệ cha mẹ tị nạn và thế hệ con cái lớn lên ở nước ngoài.
 
Sau gần 50 năm, thế hệ rời Việt Nam năm xưa giờ đây đã lớn tuổi. Những người của thế hệ thứ nhất, từng rời bỏ quê hương sau 1975, mang theo trong lòng những ký ức đau thương về một Việt Nam đã mất—một quê hương mà họ không bao giờ có thể trở về.
 
Với họ, Việt Nam không chỉ là một nơi chốn nhau cắt rốn, mà nó còn là một biểu tượng của những gì đã bị đánh mất: gia đình, tài sản, tuổi trẻ, thậm chí cả bản sắc dân tộc. Họ giữ chặt lấy hình ảnh Việt Nam trong tim, nhưng đó không phải là Việt Nam của hiện tại, mà là một Việt Nam trong ký ức, không bao giờ thay đổi. Vì vậy, nhiều người trong thế hệ này mang theo một tâm thế hoài niệm, nuối tiếc, và đôi khi cả nghi ngờ, giận dữ khi nghĩ về đất nước, con người Việt Nam.
 
Trong khi đó, thế hệ trẻ Mỹ gốc Việt—con cái của họ—lại có một cách nhìn rất khác về Việt Nam. Họ không mang theo nỗi đau chiến tranh hay gánh nặng của lịch sử, mà thay vào đó, họ nhìn Việt Nam với một tâm thế cởi mở, linh hoạt và ít định kiến hơn.
 
Họ không thấy Việt Nam là một vết thương, mà là một nguồn gốc cần được khám phá. Họ không bị ràng buộc bởi những ký ức chính trị của cha mẹ, mà họ quan tâm nhiều hơn đến con người, văn hóa, và những cơ hội tìm hiểu, kết nối. Họ không sợ trở về Việt Nam, mà nhiều người còn chủ động tìm về để hiểu rõ hơn về cội nguồn của mình.
 
Sự khác biệt này vô tình tạo ra một hố sâu ngăn cách giữa hai thế hệ. Trong khi cha mẹ họ cảm thấy xa lạ và khó chấp nhận một Việt Nam có thay đổi, thế hệ trẻ lại coi Việt Nam là một miền đất mới, một cơ hội để khám phá bản sắc cá nhân. Họ có thể không hiểu hết những gì cha mẹ đã trải qua, nhưng họ cũng không muốn mang theo nỗi đau của thế hệ trước.
 
Sự khác biệt trong cách nhìn về Việt Nam giữa hai thế hệ là điều khó tránh khỏi, nhưng không có nghĩa là nó không thể vượt qua. Để thế hệ trẻ không cảm thấy lạc lõng, nếu muốn cho con cái không quên nguồn gốc, cha mẹ cần phải nói chuyện với con cái nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn, nhưng cũng cần lắng nghe nhiều hơn.
 
Thay vì giữ mãi trong lòng những tổn thương của quá khứ, cha mẹ cần kể cho con cái biết về lịch sử, giúp con hiểu sự hiện thành của Việt Nam ngày nay.
 
Thay vì áp đặt những định kiến cũ, bác bỏ mọi nguyện vọng tìm hiểu về Việt Nam, họ có thể khuyến khích con cái khám phá Việt Nam theo cách của riêng mình.
 
Và cuối cùng, thay vì xem con cái như một thế hệ ngây thơ, "không biết gì về Cộng Sản", "Dễ bị Cộng Sản dụ dỗ",  họ cần nói chuyện, lắng nghe, và xem con cái  như một cầu nối—giữa quá khứ và tương lai.  Cha mẹ cần nói lên niềm tự hào về con, cần khuyến khích, giúp đỡ, để thế hệ trẻ vẫn còn động lực xích gần hơn với cội nguồn. Việc này không mang màu sắc chính trị, mà đơn thuần là để giữ gìn một phần bản sắc Việt, lá rụng về cội, trong tâm hồn của thế hệ sau.
 
Việt Nam của Con, Việt Nam của Cha là một tác phẩm dành cho những ai đã rời quê hương nhưng vẫn đau đáu về một Việt Nam trong tâm trí. Nó cũng dành cho những người con sinh ra nơi đất khách nhưng vẫn khao khát muốn tìm hiểu về nguồn cội của mình. Và nó dành cho tất cả những ai muốn chứng kiến một cuộc đối thoại chân thành giữa hai thế hệ—giữa những người chưa bao giờ rời Việt Nam trong ký ức, và những người đang cố gắng tìm về.
 
Sydney Trần
 
***
Độc giả có thể tìm mua sách tiếng Việt tại:
Hay tại buổi ra mắt sách ở Little Sài Gòn thứ Bảy, ngày 5 tháng 4, 2025, 4 giờ chiều tại Coffee Factory, Westminster.  

Picture5
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.