Hôm nay,  

Han Kang: The White Book – Hành Trình Trắng

24/10/202500:00:00(Xem: 2779)
The White Book Cover 

“Những vòng hoa sương trôi ngang thành phố
Những bông tuyết xoay giữa tầng không
Tôi nghĩ làm sao tôi có thể dâng cho chị
những giấc trắng…”
 
(Han Kang -- từ bản Anh ngữ của Deborah Smith, 2017.)
 
***

Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng.

Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách.

Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng  The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.

Như tên gọi, The White Book không ồn ào, không gây tranh luận, chậm rãi và kiên nhẫn như hạt sương mai, như làn khói loãng tan trong không khí. Chính cái lặng ấy đưa người đọc đến nơi sâu thẳm: nỗi mất mát không kịp có hình thù, không kịp thành ký ức, nhưng vẫn ở đó, dai dẳng như khoảng trắng trên trang giấy.

Cuốn sách không kể cốt truyện nào, mà như một tập ghi chú, trong đó khoảng trắng giữa chữ cũng quan trọng không kém những hàng chữ. Poetry School gọi đó là “nhật ký-phác thảo”, những mảnh ý tưởng  tạo ra một bản thảo, nơi từng con chữ là những giải khăn sô trắng phủ lên vết thương -  không để chữa lành, mà để nỗi đau có không gian thở. Translating Women gọi cuốn sách này là một “bài cầu nguyện” – chẳng phải để cầu xin điều gì, mà để mở ra một khoảng lặng, nơi hai chị em có thể gặp nhau.

“Em nhìn mọi thứ khác đi khi em nhìn bằng đôi mắt chị.
Em bước khác đi khi bước trong cơ thể chị.
Em muốn chị nhìn thấy những gì tinh khiết, trong lành –
trước khi bạo tàn, buồn bã, tuyệt vọng, nhơ nhớp, khổ đau thành hình –
những điều tinh khiết dành riêng cho chị...”

Ở đó, The White Book mở ra không chỉ như một nỗi tưởng niệm, mà như cuộc đối thoại kéo dài giữa người sống và người chị đã khuất. Mỗi trang viết là một cách “sống thay” – sống để nhớ, sống để trao lại cho người chị chưa kịp thấy ánh sáng mặt trời một phần đời dịu dàng tinh khiết mà chị đúng ra phải được sống.

Mất mát trong The White Book không đơn lẻ. Bên cạnh người chị sơ sinh chưa qua hai giờ sống thấp thoáng bóng bạn bè, người thân, những mất mát lặng lẽ khác trong cuộc đời. Tang chế ở đây không phải một nốt đơn, mà là hợp âm nhiều tầng, lặng mà dày, trống mà đầy. Thành phố nơi Han sống – Warsaw – với vết thương chiến tranh và mùa đông phủ tuyết – trở thành phông nền cho cuốn sách. Những con đường mù sương, ánh sáng lạnh, bầu trời xám, tất cả đan cài vào bản đồ tâm tưởng của bà. Han chọn sống tách biệt trong thành phố xa lạ ấy như một hành giả, để nghe màu trắng trong cô đơn, để thiền với những mất mát của chính mình; biến Warsaw thành một “vùng phủ trắng” cho ký ức hiện diện. Tờ The Guardian gọi đó là một “psychogeography of grief”: nỗi đau bàng bạc giữa không gian, lịch sử và ký ức.


Trong tiếng Hàn, có chữ trắng của trong sáng và thanh khiết하얀 và chữ trắng của u buồn, chết chóc희다. Han Kang chọn chữ thứ hai, sắc màu vừa sáng vừa u ám, và để nó bao trùm toàn bộ cuốn sách. Nhưng văn phong của bà tuy vậy không bi lụy, mà vừa đủ tiết chế, như một lớp gạc phủ lên vết thương: không che giấu nỗi đau, cũng không định hóa giải, mà để người đọc nhìn xuyên qua, đủ gần để chạm vào mà không bật khóc. Có người bảo văn bà “kiệm lời”, rút gọn đến mức chỉ còn những nhịp thở, có lẽ cũng chính vì sự tiết chế ấy mà người đọc nghe được chính nhịp tim, mạch máu dưới da, và nghe cả tiếng cười – nụ cười trắng, đẹp, mong manh, ám ảnh.

Nếu màu trắng có âm thanh, thì trong The White Book, đó là thứ âm thanh lặng. Dashiel Dashiel Carrera – trong bài viết về The White Book – từng sánh nó với white noise, thứ âm nền dành cho những người mất ngủ, chứa mọi tần số nên rốt cuộc nuốt chửng mọi tiếng động khác trong đêm. Mất mát cũng vậy: nó hiện diện khắp nơi, bao gồm mọi cung bậc. Khi quá đầy, quá đau, nó trở thành phông nền, như lớp tuyết phủ dấu chân mình vừa in lên. Khi quay lại, ta thấy dấu vết đã biến mất – nhưng chính sự biến mất ấy là bằng chứng hiện hữu. Sự ồn ào quá độ, cũng như nỗi đau lặp lại, cuối cùng tan vào nền trắng – từ đó mọi sắc màu khác được pha chế.

Trắng trong Han Kang không còn là ánh trăng trải trên sông – làn mây tan loãng trên triền núi –  hơi nước bốc lên từ một tách trà – nơi mọi đường viền mờ đi trước khi tan biến. Nó là màu của tâm linh: “After white clothes dissolve into the air this way, a spirit will wear them.” Tạm dịch: “Khi y phục trắng tan vào không trung, linh hồn sẽ khoác nó vào.”  Màu trắng vì vậy, vừa là khoảng trống, vừa là ánh sáng - nhịp cầu nối giữa thân xác và linh hồn, giữa đời sống và mất mát.

Khi những mảnh trắng gặp nhau trên trang giấy, chúng chỉ về cùng một nơi: sự quá nhiều đến mức tan rã, sự trống rỗng đến mức đầy tràn. Han không trao câu trả lời. Bà chỉ đặt người đọc vào vùng tuyết rơi, để nhìn dấu chân mình biến mất. Và trong giây phút ấy, ta biết mình đã đi qua – biết rằng có một sự vắng mặt vẫn đang ở lại, mong manh như ánh trăng, mờ ảo nhưng không bao giờ tan biến – trong cuộc hành trình trở về màu trắng.

“I hope you will be able to live in this world”
(Em mong chị có thể sống trong thế gian này).
 
Nina Hòa Bình
 
Nguồn Tham khảo:
The Guardian; TLS; Poetry School; Translating Women (University of Exeter); World Literature Today; 3:AM Magazine; Jed Leah Henry, Los Angeles Review of Books, Dashiel Carrera.

Có những tác phẩm sinh ra trong bóng tối mà không vì thế trở thành bóng tối. Trái lại, chúng như một đốm lửa nhỏ cháy mãi qua nhiều năm tháng lưu lạc của lịch sử. Der Kaiser von Atlantis của Viktor Ullmann và Peter Kien là một tác phẩm như thế, thai nghén trong trại Theresienstadt, giữa cái đói, cái lạnh, cái chết và một thế giới đã bị bạo lực xô đến tận cùng. Bị cấm. Bị vùi lấp. Nhưng nó không chết. Nhiều thập niên sau, nó lại bước ra ánh sáng, hóa thân sang một hình thức khác, tái sinh qua cuốn truyện tranh Death Strikes: The Emperor of Atlantis của Dave Maass và Patrick Lay.
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông. / Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.
Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.