Hôm nay,  

Đuổi Bắt Một Mùi Hương: Chữ Nghĩa Như Một Nơi Trú Ẩn

13/02/202600:00:00(Xem: 372)

HB-PTH

 

Ảnh: Phan Tấn Hải và Nina Hòa Bình Lê cầm trên tay những cuốn sách đầu tiên
 
Có những cuốn sách đọc xong khép lại. Có những cuốn, khép rồi mà vẫn còn mở, còn thở. Không phải vì câu chuyện chưa kể hết, cũng không vì ý tưởng còn dang dở, mà vì hương sách còn lan tỏa.

“Tôi chỉ viết lên những dòng chữ như thả lên những cánh chim trong tâm mình cho bay qua bầu trời văn học… Mỗi truyện là một kiếp sống tôi đã đi qua…” 1

Lời tự bạch ấy của tác giả cũng chính là luồng sinh khí thổi vào toàn bộ tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của Phan Tấn Hải: những chuyến bay ngang qua nhân gian, những giờ khắc tan rồi hiện, những tình cảm mất rồi còn. Cả tập truyện như một hành trình đuổi bắt không cùng — không để truy tìm thứ hữu hình, mà để nhận ra cái không thể nắm giữ cũng chính là cái không thể mất đi: mùi hương cuộc sống.

Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.

Ở truyện “Bệnh Nước”, khung cảnh Sài Gòn hậu 1975 hiện lên qua một căn bệnh không triệu chứng, không sốt, không đau, nhưng ngấm sâu vào da vào thịt, thấm dần vào tâm tính. Nhân vật trong truyện là người đọc rất lâu, rất kỹ — không để tin vào một điều gì, mà để giữ cho mình khỏi trôi theo dòng nước đục.

“Hắn đọc kỹ từng câu một, như một vị thầy trách nhiệm với luận án của học trò... ²

Câu văn như chính sự việc, không đẩy, không nhấn, mà để phân ranh giữa cá nhân và xã hội, để thấy một thái độ sống: giữa bụi đời hỗn độn, giữa cái đói bồn chồn, giữa sự im lặng của những tâm bão, ở lằn ranh sống chết — vẫn còn những mẩu đối thoại với chữ, với ý tưởng, với người.

Văn chương của Phan Tấn Hải không tìm sự kiện. Nó tìm khoảng nghỉ. Chỉ có người viết, trang giấy trắng và một khoảng đợi.

“Anh ngồi với trang giấy trắng
chờ em như chữ hiện về.”³

Viết — ở đây — không là hành động chiếm hữu chữ nghĩa, mà là sự nhẫn nại chờ chữ đến: một trạng thái gần với thiền, mà cũng gần với nhớ mong. Không ai cưỡng ép được sự thương nhớ da diết, như người viết không cưỡng ép được định mệnh của khoảng trống. Nhưng chính lúc ấy, văn chương đạt đến chỗ thuần khiết, để cái đẹp nảy sinh.

Và bởi vì Mỗi Trang Sách Là Một Cánh Cửa, tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” chính là trú xứ. Người đọc bước vào trang sách không để tìm kiếm điều gì, mà để tạm nghỉ chân giữa cõi đời chật hẹp.

“Sáng dậy, mùi hương vẫn thoang thoảng. Không phải hương hoa ngọc lan. Cũng không phải hương nước hoa hay gì hết, vì đây là hương từ sân chùa bay ra, tôi nghĩ, hẳn là hương trời. Nhưng, tại sao lại hương trời?” Không hiểu nổi.”

Câu văn tưởng chừng giản dị, nhưng đó là cái giản dị tự tại của kẻ đã “ăn nằm” lâu năm cùng chữ nghĩa, một sự trưởng thành đã thôi không cần chứng minh hay làm dáng.

Truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” cũng là một truyện ngắn dẫn nhan đề cho cả tập — là nhành ngọc lan ép vào mỗi trang giấy.  Ở đó, chữ nghĩa đi theo những điều mong manh nhất: một làn hương thoảng qua, một bàn tay trên cao, một ánh mắt nhìn, một buổi chiều muộn chỉ kịp nhận ra khi nắng đã tắt.

“Từ hôm đó trở đi, cô bé không ra đứng ở hiên chùa nữa…”⁵

Câu văn khẽ buông một ghi nhận, rồi thôi. Nhưng chính cái “rồi thôi” ấy tạo dư vị — vì có những cảm xúc chỉ tồn tại trong sát-na, không thuộc ký ức đông cứng, cũng chẳng đọng lại với thời gian – chỉ có mặt ở đó, nở đó, tàn đó.

Mùi hương thoảng sang những mẩu chuyện khác, nhập vào những mối liên hệ mong manh giữa người với người. Với “Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh”, đời sống trôi đi lặng lẽ quanh căn nhà như một “pharmacy ở Anaheim, nơi con người sống chung với thuốc men, bệnh tật mà không buồn để ý đến nó.

“Phải nhiều tháng sau, tôi mới biết cô nàng bị bệnh ung thư.”⁶

Câu văn nhập đề thẳng, không vòng vo, không giãi bày. Nó chỉ đến chậm, như cái biết thường đến muộn trong đời.
Với “Mối Tình Đầu Của Tôi”, “Khi Em Đứng Dậy và Bước Đi”, “Vết Son Ơi, Quên Nhau Là Chuyện Khó”… — tác giả bước vào chủ đề quen thuộc của tình yêu và xa cách thật tự nhiên, nhẹ nhàng, chỉ một âm vang tiếng guốc, bóng dáng một mái tóc, dấu vết một màu son, đôi khi chỉ là một thoáng bâng khuâng rất “lành” khiến người đọc không thể không phì cười:

“Tự nhiên tôi sợ… tôi sợ rằng nàng sẽ tỏ tình, rằng nàng đã thích tôi…”7

Dẫu nói thế, người kể chuyện hiền lành của chúng ta – hay nhân vật trong truyện, đã ngả bệnh “nằm mấy ngày như con cuốn chiếu”“cái gì đó đáng tiếc lắm đã bay mất”:

em đi bóng còn ở lại
một thời em đứng kiễng chân
thở vào hồn tôi nắng quái
nụ hôn lạc mấy đường trần.
 
Tình trong văn Phan Tấn Hải có khi nhẹ như màu nắng, có khi dữ dội đến vỡ tim mà chết. Nhưng có lẽ thứ tình trong sáng, dịu dàng nhất vẫn là tình người trong “Cậu Bé Và Hoa Mai”, “Đôi Giày Vạn Dặm”, và “Chị Tư” — những câu chuyện không mang theo ám ảnh, không chịu sức nặng của nuối tiếc; chỉ như một sáng sớm sương chưa tan, như những chuyến chân trần lang thang trên con phố với đôi giày cũ kỹ bạc màu.

““Khi tôi viết những dòng chữ này thì cậu bé vẫn còn ở trong trại. Nghĩa là bạn có thể gặp cậu bé ở một nơi nào đó, vào một lúc nào đó.”8

Câu văn để ngỏ như vạt nắng. Chính nhờ sự để ngỏ ấy mà tình còn mãi, như đôi giày vạn dặm in dấu tuổi thơ, như hoa mai báo hiệu mùa xuân trong lòng, hồn Sài Gòn xưa vẫn đâu đây với những kỷ niệm tan rồi còn lưu hương.

Vẫn còn nhiều truyện khác — “Bên Kia Dòng Hudson”, “Người Bạn Bên Kia Bờ Đại Dương”; “Những Dòng Sông Cuộc Đời”; “Chàng, Nàng Và Buổi Chiều”, v.v. — nối tiếp một cuộc kiếm tìm không dứt: đời sống chảy qua, thay hình đổi dạng; mỗi con người là một làn hương khác tan đi, mất rồi mà còn đó:
“Ông thấy nàng nửa như quen thuộc, nửa như xa lạ…”9

Văn Phan Tấn Hải mang khí hậu của một ngày xưa. Câu văn tựa như dòng nhạc nhịp đơn (2/4) có khi… có khi…, như nhịp sống tươi sáng của những buổi chiều tan trường. Hình ảnh đời thường — căn gác trọ ẩm mốc, tủ sách của Thầy Ký, con phố chiều tà, hồi chuông buổi sớm, bàn tay chai sần của người bệnh — tất cả được nâng niu bằng một thứ dịu dàng kín đáo, để rồi tự nhiên hóa thành thơ, thành những nét vẽ còn thơm mùi mực mới từ những hình ảnh xưa cũ tưởng đã ở yên trong ký ức.

Chính cái hồn xưa ấy làm văn ông, như mùi quê hương — thành nơi trú ẩn ấm áp, ở đó, hơi thở Phật giáo thổi vào rất nhẹ. Không thuyết giảng, không gọi tên. Chỉ là một cách nhìn về hợp – tan, về tình yêu như một không gian rộng hơn bản thân mình, nơi con người không giữ lại, mà học cách tan ra. Lối kể ngôi thứ nhất vì thế trở nên chân thành, không phô diễn cái tôi, mà như để hóa thân sống hộ nhiều kiếp người.

“Tụi mình như những con hải cẩu…”
… chỉ có một mùa để đến với cuộc đời.10

Sau cùng, khi khép sách lại, người đọc sẽ không mang theo một cốt truyện nào. Thứ giữ lại trong lòng là cái cảm giác lâng lâng — tựa buổi chiều cuối năm, nắng đã tắt mà hương nắng còn lẩn trong tay áo. Không biết bắt đầu từ đâu, cũng không biết sẽ tan vào đâu.

Chỉ biết rằng — nó còn ở đó. Và có lẽ, sẽ ở lại rất lâu.
 
Nina Hòa Bình Lê
 
Chú thích
1. Đuổi Bắt Một Mùi Hương, Lời Thưa, Văn Học Press, 2026, tr. 12.
2. Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Bệnh Nước”, tr 198.
3. Phan Tấn Hải, trích thơ, trong Đuổi Bắt Một Mùi Hương, mục “Nhận Định về Nguyên Giác Phan Tấn Hải”, Văn Học Press, 2026, tr. 403.
4. & 5. Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện cùng nhan đề, tr 153.
6. Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh”, tr 17.
7. Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Khi Em Đứng Dậy và Bước Đi”, tr 68.
8. Phan Tấn Hải, Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Cậu Bé Và Hoa Mai”, tr. 205.
9. Phan Tấn Hải, Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Bên Kia Dòng Hudson”, tr. 121.
10. Phan Tấn Hải, Đuổi Bắt Một Mùi Hương, truyện “Ngồi Bên Bóng Đêm, Nghe Lời Hải Cẩu Trên Cầu Đá”, tr. 130.
* Toàn bộ chữ nghiêng trong bài là chữ của Phan Tấn Hải, từ sách “Đuổi Mắt Một Mùi Hương”.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Những suy nghĩ dưới đây như một cách tự đối thoại với câu hỏi của chính mình: tại sao “kịch văn học” gần như biến mất trong văn chương hải ngoại? Trước hết cần phân biệt kịch văn học và kịch giải trí. Kịch giải trí hướng đến tiếng cười và cảm xúc tức thời của khán giả. Nó có thể linh hoạt, ứng biến, thậm chí chấp nhận đơn giản hóa xung đột để phục vụ nhu cầu thưởng thức (ví dụ: kịch trình diễn trên Paris By Night). Kịch văn học thì khác. Nó không tìm cách làm vừa lòng người xem, mà đặt con người vào những tình huống va chạm gay gắt, buộc nhân vật phải lựa chọn, đối diện và trả giá. Ở đó, đối thoại không chỉ để kể chuyện, mà để phơi bày mâu thuẫn tinh thần, xã hội và đạo lý.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.