Hôm nay,  

Lời chúc đi như một dòng sông

20/02/202600:00:00(Xem: 275)

BUddha-monks-walking-on-river-qua-song
Hình do AI.
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.

Dòng sông, dòng nước là những gì bạn không thể nắm giữ được. Tự thân, nước đã là sự bình an. Nơi đó, khi tâm bạn như nước, nơi đó là sự bình an để sẽ rửa sạch và không hề phân biệt. Trong Kinh MN 62, Đức Phật dạy ngài Rahula, dịch theo bản Anh văn của Suddhāso Bhikkhu, rằng: “Rāhula, hãy thực hành thiền định 'sự bình an của nước'. Rāhula, khi ngươi thực hành thiền định 'sự bình an của nước', thì những cảm thọ nảy sinh - dù dễ chịu hay khó chịu - sẽ không chi phối tâm ngươi. Rāhula, cũng giống như khi người ta nhúng những vật sạch, vật bẩn, phân, nước tiểu, nước bọt, mủ hoặc máu vào nước, nước vẫn không bị xáo trộn, bị sỉ nhục hay ghê tởm, thì cũng vậy, Rāhula, hãy thực hành thiền định 'sự bình an của nước'. Rāhula, khi ngươi thực hành thiền định 'sự bình an của nước', thì những cảm thọ nảy sinh - dù dễ chịu hay khó chịu - sẽ không chi phối tâm của ngươi.”

Hiểu thêm một bậc nữa: Đi như một dòng sông có nghĩa là bạn trở thành một dòng sông. Như thế, bạn không còn phân biệt bờ này hay bờ kia, vì bạn là tất cả, và cũng có nghĩa là, bạn không hề phân biệt   bờ này với bờ kia. Kinh Pháp Cú trong bài Kệ 385 viết như thế, theo bản dịch của Thầy Minh Châu.
385. Không bờ này, bờ kia. Cả hai bờ không có. Lìa khổ, không trói buộc. Ta gọi Bà La Môn.

Tích truyện ghi rằng, một lần nọ, Mara cải trang thành người đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài: "Thưa Tôn giả, Ngài thường nói từ 'param'. Từ đó có nghĩa là gì?" Đức Phật biết rằng đó là Mara đang hỏi, liền quở trách Ma vương: “Hỡi Mara độc ác! Từ 'param' và 'aparam' không liên quan gì đến ngươi. 'Param', có nghĩa là 'bờ bên kia', chỉ có thể đạt tới bởi các vị A la hán đã thoát khỏi ô nhiễm đạo đức.”

Rồi Đức Phật nói bằng thơ bài Kệ 385 trên, dịch nghĩa là: Ta gọi người nào thấy không có bờ này (tức là sáu căn) mà cũng thấy không có bờ bên kia (tức là đối tượng sáu căn), là đã lìa phiền não, thoát khỏi ô nhiễm đạo đức, là một Bà la môn. Nghĩa là, thấy bờ này là Không, là thấy mắt tai mũi lưỡi thân ý đều là Không; thấy bờ kia là Không, tức là thấy cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc và được tư lường đều là Không. Khi thấy cả 2 bờ đều là Không, thì lìa khổ, sẽ giải thoát. Đây cũng là những câu đầu của bài Bát Nhã Tâm Kinh.

Trong Thiền sử Việt Nam, ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ viết đơn giản rằng việc tu thiền chỉ có nghĩa là trâu bùn lội qua sông. Vì là trâu bùn, nên trâu sẽ tan trong nước, và đó là lời dạy của Đức Phật, rằng vô tâm chính là đạo. Nơi đó, thân tâm đều trở thành dòng sông.

Trong một giải thích khác, trong Kinh SN 55.5, Đức Phật gọi đi như một dòng sông có nghĩa là hãy bước vào dòng sông Bát Thánh Đạo. Kinh này, qua bản dịch của Thầy Minh Châu, ghi rằng: “Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Này Sāriputta, đây là dòng sông Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến … chánh định.”

Nhìn cho kỹ, toàn thân tâm của chúng ta không khác gì dòng sông. Thân tâm chúng ta y hệt như đống bọt nước trôi nổi lơ lửng trên sông, và thực tế chính là một phần của dòng sông. Trong Kinh SN 22.95 Đức Phật chỉ vào dòng sông và nói: “Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?”

Tiếp theo, Ngài giải thích rằng sắc (form) --- tức là những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường (tức là nhận biết bởi mắt tai mũi lưỡi thân ý) --- cho dù là "thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần" nhìn kỹ thì "sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng..."

Đó là nước trong dòng sông. Tiếp theo, Đức Phật nói tương tự về nước mưa, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?”

Có nghĩa là, chúng ta toàn bộ thân và tâm là rỗng không, là trống không, là bong bóng nước hiện ra rồi tan biến, là bọt nước trôi nổi rồi vỡ tan và hòa vào dòng sông. Chính chúng ta là một phần của dòng sông. Chính chúng ta là dòng sông. Chớ có nên kèn cựa gì giữa bọt sóng này với bọt sóng kia. Tất cả đều bình đẳng trong dòng sông, và đều là rỗng không, trống không, chung một tánh nước.


Do vậy, chúng ta phải ý thức rõ ràng, minh bạch rằng thân tâm mình là dòng sông. Nếu không nhìn được như thế, chúng ta sẽ luôn luôn là các bọt sóng đau khổ và cứ tái sinh làm bọt sóng mãi thôi. Chỉ tới khi nhận ra mình là dòng sông, mình là tánh nước bình đẳng, là rỗng không, chúng ta mới xa lìa được muôn kiếp bọt sóng.

Kinh MN 73 giải thích rằng tứ chúng (tăng, ni, nam và nữ cư sĩ) phải là một dòng sông chảy ra biển, nơi dòng sông hòa nhập vào Niết Bàn. Kinh MN 73 qua bản dịch của Thầy Minh Châu viết, ghi lời Vaccha nói với Thế Tôn:

Thưa Tôn giả Gotama, ví như con sông Hằng (Ganga) hướng về biển cả, chảy về biển cả, xuôi dòng về biển cả, liền đứng lại khi xúc chạm với biển cả; cũng vậy hội chúng này của Tôn giả Gotama, gồm có cư sĩ và xuất gia, hướng về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn, xuôi dòng về Niết-bàn, đứng lại khi xúc chạm với Niết-bàn...”

Câu hỏi là, cách nào để thấy mình là dòng sông Chánh pháp. Trong Kinh MN 73, Đức Phật dạy hãy dùng pháp Chỉ và Quán. Chỉ là ngưng lại, tĩnh lặng, trong khi Quán là quán sát, tỉnh thức. Trong Thiền Tông thường nhắc nhau là “lặng lặng, tỉnh tỉnh” là ý nghĩa này, vì lặng là chỉ, và tỉnh thức là quán. Nhưng Chỉ Quán thế nào? Nơi đây Đức Phật dạy là hãy thường trực nhìn vào tâm mình, khi tâm tham (hay tâm sân, hay tâm si) thì biết lúc đó có tâm tham (hay tâm sân, hay tâm si). Ngay khi nhìn tâm, đó là Quán, và ngay khi biết có tâm tham hay không, thì tức khắc dó là tự động dừng tâm tham (hay sân, hay si), tức là Chỉ.  

Đức Phật nói trong Kinh MN 73 về cách xuôi dòng vào Niết Bàn, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

Vậy này Vaccha, hãy tu tập hai pháp cao hơn này, chỉ và quán. Này Vaccha, hai pháp này được tu tập cao hơn, chỉ và quán, sẽ đưa đến sự thể nhập vào một số giới sai biệt... [...]... Này Vaccha, nếu ông muốn như sau: “Mong rằng ta có thể biết được tâm của các chúng sanh khác, của các người khác với tâm của ta; tâm có tham, ta có thể biết được là tâm có tham, hay tâm vô tham, ta có thể biết được là tâm vô tham; hay tâm có sân, ta có thể biết được là tâm có sân; hay tâm vô sân, ta có thể biết được là tâm vô sân; hay tâm có si, ta có thể biết được là tâm có si; hay tâm vô si, ta có thể biết được là tâm vô si; hay tâm chuyên chú, ta có thể biết được là tâm chuyên chú; hay tâm tán loạn, ta có thể biết được là tâm tán loạn; hay tâm đại hành, ta có thể biết được là tâm đại hành; hay tâm không phải đại hành; ta có thể biết được là tâm không phải đại hành; hay tâm chưa vô thượng, ta có thể biết là tâm chưa vô thượng; hay tâm vô thượng, ta có thể biết là tâm vô thượng; hay định tâm, ta có thể biết là định tâm; hay không phải định tâm, ta có thể biết là không phải định tâm; hay giải thoát tâm, ta có thể biết là giải thoát tâm; hay không phải giải thoát tâm, ta có thể biết là không phải giải thoát tâm”, thì Ông sẽ đạt được những gì có thể chứng ngộ tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.”

Buddha-crossing-river-qua-song-coi-ngua
Hình do AI.

Tuy nhiên, đừng nghĩ rằng chúng ta cần vào một góc rừng, một hang núi để ngồi tu tập. Như thế là tự tách mình ra khỏi dòng sông của cuộc đời. Chúng ta là dòng sông, do vậy cần phải tương tác. Đức Phật dạy rằng chúng ta phải bố thí, phải cúng dường, phải trao tặng cho cuộc đời, phải hỗ trợ cho dòng sông chảy được xuôi dòng ra biển. Nghĩa là phải giữ hạnh bố thí, hạnh cúng dường vô lượng, nhiều tới như một dòng sông. Kinh AN 9.20 nói rằng chúng ta hãy bố thí nhiều như một dòng sông, nghĩa là nhiều không kể siết và bố thí nhiều liên tục như dong sông không ngừng nghỉ, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

Vị ấy bố thí 84.000 giường nằm trải nệm bằng len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, có đầu gối chân màu đỏ hai phía. Vị ấy bố thí 84.000 thước vải, bằng vài gai mịn màng nhất, bằng vải lụa mịn màng nhất, bằng vải len mịn màng nhất, bằng vải bông mịn màng nhất. Và ai có thể nói về các đồ ăn, đồ uống, loại cứng, loại mềm, các loại đồ ăn nếm và các loại nước đường. “Chúng tôi nghĩ chúng chảy như dòng sông”....

... Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, có ai bố thí một vị đầy đủ chánh kiến.. và có ai bố thí cho 100 vị đầy đủ chánh kiến.. và có ai bố thí một vị Bất lai… và có ai bố thí trăm vị Bất lai, và có ai bố thí một vị A-la-hán… và có ai bố thí trăm vị A-la-hán… và có ai bố thí một vị Độc giác Phật, và có ai bố thí trăm vị Độc giác Phật, và có ai bố thí Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác… và có ai bố thí chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, và có ai cho xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và chúng Tăng… và có ai tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm, và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”

Nơi đây, Đức Phật nói rằng tu tập từ tâm cũng là bố thí, tu tập tưởng vô thường cũng là bố thí. Hiển nhiên, đó là bố thí pháp, bố thí cho tâm không sợ.

Nói ngắn gọn, bạn hãy sống như một dòng sông, vì bạn thực sự là trống không, là rỗng không, là bọt nước, là giọt mưa liên tục tan vào dòng nước để chảy xuôi vào bình an, vào Niết Bàn. Hãy lặng lẽ (chỉ) và tỉnh thức (quán) nhìn tâm thường trực để dòng sông không bị ngưng trệ. Và đời bạn hãy là một chuỗi dài bố thí, một sự nghiệp cúng dường liên tục như một dòng sông bất tận.

Phan Tấn Hải

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Những suy nghĩ dưới đây như một cách tự đối thoại với câu hỏi của chính mình: tại sao “kịch văn học” gần như biến mất trong văn chương hải ngoại? Trước hết cần phân biệt kịch văn học và kịch giải trí. Kịch giải trí hướng đến tiếng cười và cảm xúc tức thời của khán giả. Nó có thể linh hoạt, ứng biến, thậm chí chấp nhận đơn giản hóa xung đột để phục vụ nhu cầu thưởng thức (ví dụ: kịch trình diễn trên Paris By Night). Kịch văn học thì khác. Nó không tìm cách làm vừa lòng người xem, mà đặt con người vào những tình huống va chạm gay gắt, buộc nhân vật phải lựa chọn, đối diện và trả giá. Ở đó, đối thoại không chỉ để kể chuyện, mà để phơi bày mâu thuẫn tinh thần, xã hội và đạo lý.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.