Hôm nay,  

Pháp Thuật Ái Tình Hay Sự Sụp Đổ Cần Thiết?

27/02/202600:00:00(Xem: 908)

iStock-2150389695
Tình yêu thật là ngọn lửa nhỏ cần được chăm sóc đều đặn, cần củi mới, cần gió thổi, cần hai người cùng canh giữ.  Ảnh: istockphoto.
 
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót.

Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.

Tại sao người thông minh cũng như người đần độn đều sụp gãy trước tình yêu? Bởi vì tình yêu không phải lãnh địa của lý trí. Nó thuộc về nơi sâu thẳm hơn, nơi bản năng và khao khát nguyên thủy cư trú. Từ triết gia đến thợ mộc, từ nhà khoa học đến nghệ sĩ, tất cả đều phải cúi đầu trước sức mạnh này. Và có lẽ sự sụp gãy đó chính là điều cần thiết. Khi ta sụp đổ, bức tường tự ngã tan vỡ, cái tôi cứng nhắc nhường chỗ cho sự mềm mại, cho khả năng cho đi, cho sự dễ tổn thương mà không có nó thì tình yêu chỉ là giao dịch khô khan.

Những tháng năm đầu, pháp thuật ái tình tỏa sáng rực rỡ. Mỗi tin nhắn là niềm vui, mỗi cuộc gặp là lễ hội. Nhưng pháp thuật có thời hạn sử dụng. Dopamine không thể duy trì mãi ở mức cao, não bộ cần trở về trạng thái cân bằng. Và đó là lúc nhiều mối quan hệ bắt đầu lung lay. Hai người nhìn nhau và tự hỏi: người kia đâu rồi? Người mà ta yêu, người rực rỡ và hoàn hảo kia, sao giờ lại thường thấy thế này?

Câu trả lời đơn giản và tàn nhẫn: người hoàn hảo kia chưa bao giờ tồn tại. Đó là hình ảnh ta chiếu lên họ, là những gì ta muốn thấy, là sự kết hợp giữa con người thật và ảo ảnh do não bộ đang say tình tạo ra. Khi màn sương tan, ta thấy con người thật với những khuyết điểm, thói quen khó chịu, những nỗi sợ hãi và vết thương chưa lành. Đôi tình nhân lúc này đứng trước ngã rẽ: có thể bỏ đi tìm kiếm pháp thuật mới với người mới, hoặc có thể bắt đầu xây dựng thứ gì đó sâu sắc hơn, thực hơn, bền vững hơn.

Đôi vợ chồng lê lết bên nhau không phải vì họ chọn sai người từ đầu, mà có khi vì họ không biết cách chuyển từ giai đoạn si mê sang giai đoạn yêu thật. Tình yêu thật khác với si mê. Si mê là lửa rừng bùng cháy dữ dội rồi tàn lụi. Tình yêu thật là ngọn lửa nhỏ cần được chăm sóc đều đặn, cần củi mới, cần gió thổi, cần hai người cùng canh giữ. Nó không tự nhiên bùng lên mà phải được nuôi dưỡng bằng sự chú tâm, bằng cử chỉ nhỏ hàng ngày, bằng khả năng tha thứ và chấp nhận.

Nhưng liệu có phải từ đầu người ta đã chọn sai? Có lẽ có. Có những người ta yêu vì họ đáp ứng nhu cầu nào đó ở thời điểm đó: cảm giác an toàn, sự công nhận, áp lực xã hội, hay đơn giản là nỗi sợ cô đơn. Ta lầm lẫn giữa người để yêu, người cần yêu, và người mà ta có thể cộng hưởng thật sự. Người để yêu thường là hình ảnh lý tưởng, người mà xã hội hay gia đình kỳ vọng. Người cần yêu thường xuất phát từ vết thương chưa lành, từ mẫu hình cha mẹ, từ nhu cầu chữa lành hay được cứu rỗi. Còn người có thể cộng hưởng tình cảm là người mà sâu thẳm bên trong, ta có thể kết nối một cách chân thật, không cần giả vờ, không cần đóng vai.

Giữa Bản Năng Và Lựa Chọn

Tất nhiên, không thể phủ nhận vai trò của tình dục trong tất cả những gì ta gọi là tình yêu. Năng lượng tình dục là dòng chảy mạnh mẽ thúc đẩy sự hấp dẫn, khát khao, và kết nối. Bản năng sinh sản đã được tiến hóa mài giũa qua hàng triệu năm, làm cho ta khao khát sự gần gũi thể xác, muốn hòa quyện với người khác. Khoái lạc không chỉ là phần thưởng mà còn là chất keo gắn kết hai người lại với nhau. Nhưng rút gọn tình yêu thành tình dục là một sai lầm lớn. Có những người yêu nhau mà không có quan hệ tình dục, có những người có tình dục mà không có tình yêu. Hai thứ này có thể giao thoa nhưng không đồng nhất.

Một câu hỏi đáng suy ngẫm hơn: phải chăng ta yêu vì mọi người đều yêu, vì đó là kịch bản đã được viết sẵn cho cuộc đời? Lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái, sống hạnh phúc mãi mãi sau đó. Có phải ta đang đi theo một khuôn mẫu mà xã hội áp đặt, rồi khi thực tế không đúng như cổ tích, ta cảm thấy thất vọng và bị phản bội? Tình yêu có thể là cái bẫy nếu ta bước vào với những kỳ vọng sai lệch, với niềm tin rằng người khác sẽ làm ta hoàn chỉnh, sẽ xóa đi mọi nỗi đau, sẽ mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.

Nhưng tình yêu cũng có thể là cánh cửa dẫn đến sự trưởng thành sâu sắc nhất. Khi ta yêu ai đó thật lòng, ta học cách buông bỏ, học cách thấy thế giới qua con mắt người khác, học cách cho đi không mong đợi. Nỗi đau trong tình yêu không đến từ tình yêu mà từ sự bám víu, từ nỗi sợ mất mát, từ những kỳ vọng không thực tế. Phiền muộn nảy sinh khi ta cố gắng biến người khác thành cái gì đó họ không phải, hoặc khi ta từ chối nhìn thẳng vào thực tại.

Sáng Tạo Hay Để Tình Yêu Tự Chết

Động lực qua lại giữa hai người trong tình ái là một điệu nhảy phức tạp. Có sự cho và nhận, có sự thách thức và ủng hộ, có sự gần gũi và khoảng cách. Khi một người chỉ cho và người kia chỉ nhận, sự mất cân bằng xảy ra. Khi hai người quá gần gũi đến nỗi không còn không gian cho bản thân riêng, tình yêu có thể nghẹt thở. Khi quá xa, sợi dây kết nối có thể đứt. Động lực lành mạnh là khi cả hai cảm thấy được nuôi dưỡng, được thách thức để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình, và đồng thời có đủ tự do để tồn tại như con người độc lập.


Có cần sáng tạo tình yêu không? Câu trả lời là có, nhưng không theo cách mà nhiều người nghĩ. Sáng tạo tình yêu không phải là liên tục đi ăn nhà hàng sang trọng hay đi du lịch xa hoa. Đó là khả năng tạo ra những khoảnh khắc mới trong cuộc sống hàng ngày, là sự tò mò không ngừng về thế giới nội tâm của người kia, là cách tìm ra những cách thức mới để kết nối khi những cách cũ đã trở nên nhàm chán. Sáng tạo tình yêu là nghệ thuật giữ cho mối quan hệ sống động, là sự sẵn sàng thử nghiệm, mạo hiểm, và đôi khi làm những điều kỳ quặc chỉ để làm người kia cười.

Giới hạn của việc sáng tạo tình yêu nằm ở chỗ nó không thể thay thế nền tảng. Không có bao nhiêu sự kiện lãng mạn hay quà tặng bất ngờ có thể che đậy sự thiếu tôn trọng, thiếu tin tưởng, hay thiếu tương thích căn bản. Sáng tạo tình yêu chỉ có hiệu quả khi nó được xây dựng trên nền móng vững chắc của sự trung thực, lòng tốt, và cam kết thật sự.

Nhận Ra Tình Yêu Đã Hết Hạn

Làm sao nhận ra tình yêu giả? Tình yêu giả thường đến từ nhu cầu hơn là từ sự kết nối thật. Nó xuất hiện khi ta yêu ý tưởng về một người hơn là con người thật của họ. Nó hiện hữu khi ta ở bên ai đó vì sợ cô đơn, vì áp lực tuổi tác, vì mong muốn được chăm sóc hay được ngưỡng mộ. Dấu hiệu rõ nhất là cảm giác rỗng không sau những lời ngọt ngào, là sự thiếu vắng của niềm vui chân thật khi ở bên nhau, là việc phải giả vờ và diễn xuất nhiều hơn là được là chính mình.

Tình yêu lỗi thời khác với tình yêu giả. Đó là tình yêu đã từng thật nhưng không còn phù hợp nữa. Hai người đã thay đổi theo những hướng khác nhau. Những gì từng kết nối họ không còn tồn tại. Những giá trị, ước mơ, cách nhìn cuộc sống đã đi lệch nhau quá xa. Cảm giác là như đang sống với một người lạ quen thuộc, người mà ta biết từng góc cạnh nhưng không còn hiểu được.

Tình yêu đuối hơi là tình yêu bị bỏ bê. Cả hai đã quá mải mê với công việc, với con cái, với những trách nhiệm khác mà quên mất việc nuôi dưỡng mối quan hệ. Họ trở thành bạn cùng nhà, đồng nghiệp trong việc duy trì gia đình, nhưng không còn là người yêu. Đây có thể là tình huống khả quan nhất vì tình yêu đuối hơi có thể được hồi sinh nếu cả hai sẵn sàng đầu tư thời gian và năng lượng trở lại.

Tình yêu cần tái chế là tình yêu đang bị kẹt trong những mẫu hình cũ không còn hiệu quả. Cách giao tiếp đã trở nên độc hại, những xung đột cứ lặp đi lặp lại, những tổn thương không được chữa lành cứ bùng phát. Nhưng bên dưới lớp vỏ này vẫn còn tình cảm, vẫn còn mong muốn kết nối. Tái chế ở đây nghĩa là sẵn sàng phá vỡ những khuôn mẫu cũ, học những cách ứng xử mới, có thể với sự giúp đỡ của chuyên gia.

Người Yêu Thật Sự

Vậy người yêu thật sự là ai? Không phải người hoàn hảo, vì người hoàn hảo không tồn tại. Không phải người làm ta hạnh phúc mọi lúc, vì không ai có thể gánh trách nhiệm cho hạnh phúc của người khác. Người yêu thật sự là người mà bên cạnh họ, ta có thể là chính mình một cách trọn vẹn nhất. Là người mà ta không cần phải che giấu những phần tối tăm, những nỗi sợ hãi, những khuyết điểm. Là người mà ngay cả khi xung đột, ta vẫn cảm thấy được tôn trọng và lắng nghe.

Người yêu thật sự không cần ta phải là ai đó khác. Họ không cố gắng sửa chữa hay thay đổi ta, nhưng họ thách thức ta trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Họ có không gian riêng, cuộc sống riêng, ước mơ riêng, và không cần ta để cảm thấy hoàn chỉnh. Họ chọn ở bên ta không phải vì cần mà vì muốn. Và chính sự tự do trong lựa chọn đó làm cho tình yêu trở nên quý giá.

Người yêu thật sự là người cùng ta đối mặt với cuộc sống, không phải người che chở ta khỏi cuộc sống. Họ là đồng minh, không phải là người cứu rỗi hay kẻ phụ thuộc. Họ ăn mừng thành công của ta mà không ghen tị, chia sẻ nỗi đau của ta mà không cố gắng xóa đi ngay lập tức. Họ ở đó, hiện diện, với tất cả sự không hoàn hảo của một con người thật.

Thực Tập Tình Yêu

Câu hỏi cuối cùng: có cần thực tập trong tình yêu? Câu trả lời là có, và cần thiết hơn nhiều người nghĩ. Tình yêu không phải là trạng thái tĩnh mà là hành động liên tục. Thực tập tình yêu nghĩa là có ý thức trong cách ta giao tiếp, trong cách ta phản ứng khi bị tổn thương, trong cách ta biểu đạ lòng biết ơn và tình cảm.

Thực tập tình yêu là học cách lắng nghe thật sự, không chỉ để đáp lại mà để hiểu. Là rèn luyện khả năng đặt mình vào vị trí người khác, thấy thế giới qua con mắt họ. Là biết khi nào cần nói và khi nào cần im lặng. Là học cách xin lỗi một cách chân thành khi sai và tha thứ một cách rộng lượng khi bị làm tổn thương.

Thực tập tình yêu cũng nghĩa là làm việc với chính mình. Nhìn vào những vết thương từ thời thơ ấu, những mẫu hình quan hệ không lành mạnh mà ta học được từ gia đình, những niềm tin sai lệch về tình yêu. Càng hiểu rõ bản thân, càng chữa lành những tổn thương riêng, ta càng có khả năng tham gia vào một mối quan hệ một cách lành mạnh.

Thực tập tình yêu là nghệ thuật cân bằng giữa cho và nhận, giữa gần gũi và khoảng cách, giữa cam kết và tự do. Là biết rằng tình yêu không phải là điểm đến mà là hành trình, không phải là trạng thái viên mãn mà là quá trình không ngừng chăm sóc, điều chỉnh, và phát triển. Và trong thực tập này, cả hai người cùng trưởng thành, cùng sâu sắc hơn, cùng trở thành những phiên bản rộng lượng và trọn vẹn hơn của chính mình.

Cuối cùng, tình yêu đúng có lẽ không phải là tìm được người hoàn hảo mà là có khả năng yêu một con người không hoàn hảo một cách hoàn hảo. Không phải là sống mãi trong pháp thuật ái tình mà là xây dựng thứ gì đó thật và bền vững khi pháp thuật tan biến. Không phải là không bao giờ sụp gãy mà là biết đứng lên cùng nhau sau mỗi lần ngã. Và không phải là tránh nỗi đau mà là đủ dũng cảm để yêu mặc dù biết rằng yêu luôn đi kèm với khả năng bị tổn thương.
 
Ngu Yên 
 

Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Theo một ý nghĩa nào đó, Farrington đóng vai trò là một kiểu người có thể thay thế hoặc tồn tại ở bất cứ đâu, có thể là một nhân vật đặc trưng nào đó nhưng cũng có thể là một người bình thường. Bằng cách chọn chủ thể như thế, Joyce đưa Farrington vào bối cảnh đường phố Dublin và gợi ý rằng sự tàn bạo của gã không có gì là bất thường. (Lời người dịch).
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
“Cơn mưa di tản trở về giữa quá khứ và hiện tại, giữa người chết và người sống. Đó là lăng kính mà mọi thứ đã được chắt lọc qua. Những năm tháng trở nên trong suốt như nước. Những gì chúng ta thấy là những hình dạng mờ nhạt đang trôi về nguồn. Tất cả những viễn cảnh và cách diễn giải của chúng ta khi chúng ta quay trở về là đường nét chuyển động của người khác. Để tồn tại, chúng ta đã di tản qua thời gian, và để nói, chúng ta học ngôn ngữ của mưa.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.