Hôm nay,  

Đức Phật dạy cách nhìn thấy những gì Ma đã tạo ra, và cách để thoát lưới Ma

15/11/202408:00:00(Xem: 5403)
Đức Phật dạy cách nhìn thấy
những gì Ma đã tạo ra,
và cách để thoát lưới Ma

 
Tâm Kinh viết rằng sắc tức là không, và không tức là sắc; sắc không khác không, và không chẳng khác sắc. Lời dạy đó đã được diễn tả trong nhiều cách xưa cổ hơn trong nhiều kinh Nikaya và A Hàm.

Bài sau đây sẽ viết theo Kinh SA 120 (qua bản dịch tiếng Việt của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Thích Đức Thắng, bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Anālayo), Kinh SN 23.1, và Kinh SN 5.2 (qua bản dịch tiếng Việt của Thầy Thích Minh Châu, bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Sujato).

Đức Phật nói với ngài  Rādha như sau.
Hãy quán sát rằng chính Ma đã tạo ra những gì được gọi là sắc -- nghĩa là sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp -- cho dù là trong quá khứ, vị lai hay hiện tại; cho dù là trong, hoặc ngoài; cho dù là  thô, hoặc tế; cho dù là  tốt, hoặc xấu; cho dù là  xa, hoặc gần.

Tương tự, hãy quán sát rằng chính Ma đã tạo ra những gì được gọi là thọ, tưởng, hành, thức -- cho dù là trong quá khứ, vị lai hay hiện tại; cho dù là trong, hoặc ngoài; cho dù là  thô, hoặc tế; cho dù là  tốt, hoặc xấu; cho dù là  xa, hoặc gần.

Hãy quán sát rằng sắc là sự chết, là sát giả, là bị chết, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là sự bất hạnh, là chịu đựng bất hạnh. Những ai thấy như vậy là thấy chơn chánh. Tương tự, hãy quán sát như thế với thọ, tưởng, hành, thức.

Hãy quán sát rằng sắc -- nghĩa là những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, và được tư lường --đều là vô thường, do vậy là khổ. Tương tự, hãy quán sát như thế với thọ, tưởng, hành, thức.
 
Bậc đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy sắc là vô thường, nên không thấy sắc là ngã, hay khác ngã, hay hiện hữu ở trong nhau. Tương tự, hãy quán sát như thế với thọ, tưởng, hành, thức.
 
Ngươi sẽ rơi vào lưới ma, khi ngươi tự nghĩ rằng ngươi là một người nam, hay một người nữ, hay là bất cứ thứ gì.
 
Bởi vì bậc đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy thân và tâm này không có gì  là ngã, là ngã sở nên đối với các pháp thế gian không chấp giữ. Vì không có gì chấp giữ nên không có gì để bị dính mắc. Vì không có gì để bị dính mắc nên tự giác ngộ Niết-bàn rằng sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.
 
Video dài 3 phút:

https://youtu.be/QJnE-prPh6w
.
.... o ....

The Buddha taught how to
recognize what Māra has created
and how to escape from Māra's grasp.

 
The Heart Sutra states that form is emptiness, and emptiness is form; form is not separate from emptiness, and emptiness is not separate from form. This teaching has been articulated in various ways in many of the Nikayas and Agamas.


The following article will be based on SA 120 Sutra (translated into Vietnamese by Venerable Tuệ Sỹ and Venerable Thích Đức Thắng, and into English by Bhikkhu Anālayo), SN 23.1 Sutta, and SN 5.2 Sutta (translated into Vietnamese by Venerable Thich Minh Chau and into English by Bhikkhu Sujato).

The Buddha spoke to Rādha as follows:

Observe that it is Māra who creates what is referred to as bodily form—specifically, form, sound, smell, taste, touch, and mental objects—regardless of whether they are past, future, or present; internal or external; gross or subtle; good or bad; or far or near.
 
Similarly, observe that it is Māra who creates what is referred to as feeling, perception, mental formations, and consciousness—regardless of whether these experiences are past, future, or present; internal or external; gross or subtle; good or bad; or far or near.

Contemplate that form is death, a killer, subject to death, a disease, a boil, an arrow, misfortune, and suffering. Whoever perceives this truth sees clearly. Similarly, contemplate feeling, perception, mental formations, and consciousness.
 
Observe that form—specifically, what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and contemplated—is impermanent and, therefore, a source of suffering. Similarly, apply this observation to feelings, perceptions, mental formations, and consciousness.
 
The learned noble disciple perceives form as impermanent; therefore, he does not regard form as self, as separate from self, or as existing within one another. Similarly, apply this observation to feelings, perceptions, mental formations, and consciousness.
 
You fall into the trap of Māra when you identify yourself as a man, a woman, or anything else.
 
Because the learned Noble Disciple recognizes that this body and mind possess no inherent self or ownership, he does not cling to worldly phenomena. Since there is nothing to cling to, there is nothing to which he can become attached. As a result, he realizes Nirvana: that birth has ceased, the holy life has been established, what needed to be accomplished has been achieved, and he understands that there will be no further rebirth in the future.
.
Video, 3:16 minutes long:

https://youtu.be/Ra11_4OJO9U
 .
SOURCES:
SA 120:
https://suttacentral.net/sa120/vi/tue_sy-thang
https://suttacentral.net/sa120/en/analayo
SN 23.1:
https://suttacentral.net/sn23.1/vi/minh_chau
https://suttacentral.net/sn23.1/en/sujato
SN 5.2:
https://suttacentral.net/sn5.2/vi/minh_chau
https://suttacentral.net/sn5.2/en/sujato
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
22/02/202407:46:00
Bài viết này của Bhikkhu Bodhi, vị Thầy đã dịch Tam Tạng Pali sang tiếng Anh, đăng trên trang Buddhists Respond (Người Phật tử đáp ứng) có địa chỉ ở https://www.buddhistsrespond.org/ một trang web tự ghi nhận là có mục đích hỗ trợ các phản ứng khôn ngoan và từ bi của người Phật tử đối với các sự kiện hiện tại. Tác giả Bhikkhu Bodhi cũng là một nhà hoạt động, người sáng lập và chủ tịch của Hội Buddhist Global Relief (Hội Phật giáo Cứu trợ Toàn cầu), một tổ chức từ thiện chuyên giúp đỡ các cộng đồng trên khắp thế giới đang bị nạn đói và suy dinh dưỡng kinh niên. Bản thân của Bhikkhu Bodhi còn có một vị trí đặc biệt khi nhìn về cuộc chiến giữa Israel và quân Hamas: ngài Bodhi là nhà sư Mỹ gốc Do Thái cao cấp nhất.
31/12/202306:32:00
Theo một kết quả nghiên cứu của Viện Đại học University of Wisconsin, Madison ở Hoa Kỳ, người lớn ngồi thiền hoặc tập các bài tập thể dục thông thường như đi bộ nhanh, trong hai tháng sẽ ít bị bệnh cảm lạnh hơn so với những người không làm gì. Nghiên cứu phát hiện ra rằng những người ngồi thiền có số ngày nghỉ việc do bệnh ít hơn 76% trong khoảng thời gian 9 tháng từ tháng 9 đến tháng 5 so với những người không ngồi thiền. Những người chỉ tập thể dục nghỉ ít hơn 48% trong giai đoạn này. Ngoài ra, các nghiên cứu trước đó đã cho thấy thiền chánh niệm có thể làm giảm căng thẳng thần kinh trong cuộc sống, làm cho tâm được an lạc và tăng cường khả năng của hệ miễn dịch.
22/12/202317:31:00
Trong các thuật ngữ của đạo Phật, có lẽ không có từ ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế". Thật vậy, Đức Phật, vì muốn độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi nên mới nương vào thế giới Tục đế mà nói pháp, nhằm chỉ bày cho chúng sinh thấy được cái bản chất chân thật tự nhiên của Tâm vốn sẵn có, để chúng sinh, tự nỗ lực tu hành giải thoát khỏi khổ đau sinh tử, lìa khỏi thế giới Tục đế, đến thế giới Chân đế.
20/12/202317:02:00
Có một số Phật tử cho rằng khi con người đạt tới giải thoát là lúc họ trở vể với bản thể chân tâm tuyệt đối, hoà đồng vào bản thể của vũ trụ vô biên trong một trạng thái hằng hữu vĩnh cửu. Nhận định trên đã được dẫn xuất từ nguồn tư tưởng Bà La Môn và từ những nhận xét sai lầm về Phật giáo. Cho nên, để có một cái nhìn rõ ràng hơn về đạo giải thoát của đức Phật, chúng tôi viết bài tiểu luận này nhằm nêu lên sự khác biệt giữa quan niệm giải thoát của Phật giáo và của Bà La Môn giáo. Bài viết được dựa phần lớn vào những tư liệu hiện có, vào kinh điển của Phật giáo và Bà La Môn giáo đang lưu truyền.
15/12/202319:39:00
Thuở còn nhỏ ở làng quê đất Bắc, chúng tôi không biết rõ là thầy ăn chay hay ăn mặn, có vợ, có con hay sống một mình. Chỉ biết thầy trông nom ngôi chùa và thỉnh thoảng chúng tôi thấy thầy đến nhà người dân cúng kiếng, tụng kinh gõ mõ. Lũ trẻ trong làng thường gọi thầy là Thầy Chùa vì thấy thầy ở trong chùa và trông coi ngôi chùa của làng, thấy thầy thỉnh thoảng đi cúng đám, nên có đứa gọi thầy là Thầy Cúng. Cho đến nay nhiều người vẫn lẫn lộn ba vị, Thầy Tu, Thầy Chùa và Thầy Cúng như chúng tôi hồi còn nhỏ không biết phân biệt, cứ nghĩ ba người cũng như một. Nay được biết thêm các từ Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng, Đạo Sư và Thiền Sư nữa. Vậy những chức danh này có gì khác nhau? Nếu muốn nói đến các vị sư ở chùa thì nên dùng từ nào cho chính xác?
13/12/202314:57:00
Nếu toàn thể nhân loại kể từ đời thượng cổ cho đến ngày nay đều có cùng một thói quen sống "ai sao tôi vậy" hoặc "xưa sao nay vậy" thì giờ này chúng ta vẫn còn phải vác rìu bằng đá để đi săn thú đem về ăn sống nuốt tươi, chứ không thể có được nền văn minh điện toán như ngày nay.
07/12/202309:33:00
Đạo Phật trên ý nghĩa thiết yếu là “biện chứng giải thoát” hay là con đường giải thoát. Giải thoát khỏi khổ đau, sinh tử luân hồi. Tuy cùng đi trên một con đường, nhưng vì con người có nhiều tâm tính, trình độ, khả năng và căn cơ khác nhau, lại vì tùy hoàn cảnh, tùy phong tục, tập quán, luật lệ thay đổi theo từng địa phương và tùy thời điểm, cho nên Đức Phật đã đưa ra vô số phương tiện khác nhau
03/12/202310:46:00
Tôi rời chùa mà lòng như không vui, tự hỏi ai đã đem tập tục cúng sao giải hạn vào nơi già lam, biến chốn thiền môn nghiêm tịnh thành nơi thờ cúng Thần Tiên, cầu hên xui may rủi cho con người và cũng thương thay cho những ai đặt lòng tin không đúng chỗ, trao phận mình cho người khác sử lý qua việc khấn sao xin giải trừ hạn xấu.
25/11/202318:39:00
Có lẽ ai cũng biết rằng tử vi bói toán là một khoa giải đoán tương lai đời người về vận mạng, tình duyên, gia đạo, học hành thi cử, thời vận thịnh suy, tốt xấu và chọn hướng nhà đất thích hợp, bao gồm cả việc so đôi tuổi và hóa giải sự xung khắc vợ chồng, chọn ngày giờ tốt để khai trương, cưới hỏi, cùng là giải hạn xấu, dựa theo một vài yếu tố như ngày, giờ, tháng, năm sinh của người xin coi bói toán.
23/11/202316:10:00
Trong các ngày lễ ông Công, ông Táo (23 tháng Chạp), lễ Nguyên Tiêu (rằm tháng Giêng) và lễ Vu Lan (rằm tháng Bảy) hàng năm mọi người đua nhau mua sắm vàng mã to để đốt hầu lấy được nhiều tài lộc. Thậm chí, họ còn mua cả đồ mã kỹ thuật cao (hi-tech) như: điện thoại loại iPhone 5, máy tính bảng iPad Air gửi cho ông Công, ông Táo, và còn mua nhiều hơn nữa vào dịp Tết đến để gửi cho cha mẹ, ông bà. Theo GS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, hiện nay, nhiều người dân đốt vàng mã một cách vô cùng “lãng phí và sai lầm”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.