Hôm nay,  

Đức Phật dạy cách nhìn thấy những gì Ma đã tạo ra, và cách để thoát lưới Ma

15/11/202408:00:00(Xem: 5758)
Đức Phật dạy cách nhìn thấy
những gì Ma đã tạo ra,
và cách để thoát lưới Ma

 
Tâm Kinh viết rằng sắc tức là không, và không tức là sắc; sắc không khác không, và không chẳng khác sắc. Lời dạy đó đã được diễn tả trong nhiều cách xưa cổ hơn trong nhiều kinh Nikaya và A Hàm.

Bài sau đây sẽ viết theo Kinh SA 120 (qua bản dịch tiếng Việt của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Thích Đức Thắng, bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Anālayo), Kinh SN 23.1, và Kinh SN 5.2 (qua bản dịch tiếng Việt của Thầy Thích Minh Châu, bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Sujato).

Đức Phật nói với ngài  Rādha như sau.
Hãy quán sát rằng chính Ma đã tạo ra những gì được gọi là sắc -- nghĩa là sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp -- cho dù là trong quá khứ, vị lai hay hiện tại; cho dù là trong, hoặc ngoài; cho dù là  thô, hoặc tế; cho dù là  tốt, hoặc xấu; cho dù là  xa, hoặc gần.

Tương tự, hãy quán sát rằng chính Ma đã tạo ra những gì được gọi là thọ, tưởng, hành, thức -- cho dù là trong quá khứ, vị lai hay hiện tại; cho dù là trong, hoặc ngoài; cho dù là  thô, hoặc tế; cho dù là  tốt, hoặc xấu; cho dù là  xa, hoặc gần.

Hãy quán sát rằng sắc là sự chết, là sát giả, là bị chết, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là sự bất hạnh, là chịu đựng bất hạnh. Những ai thấy như vậy là thấy chơn chánh. Tương tự, hãy quán sát như thế với thọ, tưởng, hành, thức.

Hãy quán sát rằng sắc -- nghĩa là những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, và được tư lường --đều là vô thường, do vậy là khổ. Tương tự, hãy quán sát như thế với thọ, tưởng, hành, thức.
 
Bậc đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy sắc là vô thường, nên không thấy sắc là ngã, hay khác ngã, hay hiện hữu ở trong nhau. Tương tự, hãy quán sát như thế với thọ, tưởng, hành, thức.
 
Ngươi sẽ rơi vào lưới ma, khi ngươi tự nghĩ rằng ngươi là một người nam, hay một người nữ, hay là bất cứ thứ gì.
 
Bởi vì bậc đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy thân và tâm này không có gì  là ngã, là ngã sở nên đối với các pháp thế gian không chấp giữ. Vì không có gì chấp giữ nên không có gì để bị dính mắc. Vì không có gì để bị dính mắc nên tự giác ngộ Niết-bàn rằng sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.
 
Video dài 3 phút:

https://youtu.be/QJnE-prPh6w
.
.... o ....

The Buddha taught how to
recognize what Māra has created
and how to escape from Māra's grasp.

 
The Heart Sutra states that form is emptiness, and emptiness is form; form is not separate from emptiness, and emptiness is not separate from form. This teaching has been articulated in various ways in many of the Nikayas and Agamas.


The following article will be based on SA 120 Sutra (translated into Vietnamese by Venerable Tuệ Sỹ and Venerable Thích Đức Thắng, and into English by Bhikkhu Anālayo), SN 23.1 Sutta, and SN 5.2 Sutta (translated into Vietnamese by Venerable Thich Minh Chau and into English by Bhikkhu Sujato).

The Buddha spoke to Rādha as follows:

Observe that it is Māra who creates what is referred to as bodily form—specifically, form, sound, smell, taste, touch, and mental objects—regardless of whether they are past, future, or present; internal or external; gross or subtle; good or bad; or far or near.
 
Similarly, observe that it is Māra who creates what is referred to as feeling, perception, mental formations, and consciousness—regardless of whether these experiences are past, future, or present; internal or external; gross or subtle; good or bad; or far or near.

Contemplate that form is death, a killer, subject to death, a disease, a boil, an arrow, misfortune, and suffering. Whoever perceives this truth sees clearly. Similarly, contemplate feeling, perception, mental formations, and consciousness.
 
Observe that form—specifically, what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and contemplated—is impermanent and, therefore, a source of suffering. Similarly, apply this observation to feelings, perceptions, mental formations, and consciousness.
 
The learned noble disciple perceives form as impermanent; therefore, he does not regard form as self, as separate from self, or as existing within one another. Similarly, apply this observation to feelings, perceptions, mental formations, and consciousness.
 
You fall into the trap of Māra when you identify yourself as a man, a woman, or anything else.
 
Because the learned Noble Disciple recognizes that this body and mind possess no inherent self or ownership, he does not cling to worldly phenomena. Since there is nothing to cling to, there is nothing to which he can become attached. As a result, he realizes Nirvana: that birth has ceased, the holy life has been established, what needed to be accomplished has been achieved, and he understands that there will be no further rebirth in the future.
.
Video, 3:16 minutes long:

https://youtu.be/Ra11_4OJO9U
 .
SOURCES:
SA 120:
https://suttacentral.net/sa120/vi/tue_sy-thang
https://suttacentral.net/sa120/en/analayo
SN 23.1:
https://suttacentral.net/sn23.1/vi/minh_chau
https://suttacentral.net/sn23.1/en/sujato
SN 5.2:
https://suttacentral.net/sn5.2/vi/minh_chau
https://suttacentral.net/sn5.2/en/sujato
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
17/07/202512:34:00
Lời dịch giả: Bài viết "Bi Và Ái" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 3, ấn hành cuối tháng 8/1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Thích Diệu Không. Ni trưởng là dịch giả nhiều kinh và luận, cũng là một nhà thơ xuất sắc.
29/05/202509:12:00
Bài này có nhan đề Vô Sanh, trong tạp chí Viên Âm Nguyệt San, số 22, ấn bản tháng 7 và 8 năm 1936, dài sáu trang, in trên các trang 30-35. Tác giả ghi là Viên Âm, có lẽ là Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Bài viết dựa vào lý luận Trung Quán của ngài Long Thọ (150-250) để thấy tất cả các pháp, thí dụ như cái bàn gỗ, qua ánh sáng của Không, Giả, Trung. Tất cả lý luận trong bài là một chuỗi công cụ giải thoát tuyệt vời, và không hề xa lời dạy của Đức Phật. Toàn văn được scan lại từ bản PDF, và dịch ra Anh văn để Phật tử thế hệ trẻ tiện dụng
23/05/202510:06:00
Bài này trích từ Viên Âm Nguyệt San, số 21, tháng 5 và 6, năm 1936. Tác giả là Viên Âm, được suy đoán có lẽ là Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Bài này kể chuyện một viên quan đời Vua Tự Đức, chỉ ra tánh vô thường và tánh vô ngã trong kiếp người. Đối với nhà Phật, hễ nhận ra tánh vô thường thường trực nơi thân tâm là đủ để giải thoát, không cần tu pháp gì khác nữa. Ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ cùng từng có bài thơ, nói rằng muốn vượt qua dòng sông sinh tử để tới bờ giải thoát, thì hãy xem thân tâm như con trâu bùn qua sông, tan vào dòng sông.
17/05/202510:14:00
Trên báo Viên Âm, số 15, ấn bản tháng 5 và tháng 6 năm 1935, có câu hỏi của ông T.T. rằng trong pháp tu Tịnh Độ, ông nên niệm A Di Đà hay nên niệm A Mi Ta Ba. Bài trả lời ký tên Viên Âm, được suy đoán là cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Bản văn nơi đây được scan lại từ bản PDF và dịch ra Anh văn để tiện cho thế hệ sau nghiên cứu.
04/05/202511:50:00
Người học Phật, chẳng những phải tham cứu chơn lý, mà lại cần phải y như chơn-lý mà thiệt thành cho đến khi chứng đặng chơn-lý; vì nếu chỉ hiểu lý mà không tu thì có khác chi người nói ăn mà không ăn, biết bao giờ cho hết đói. Trong các phép tu hành, phép niệm Phật (Tịnh Độ-Tôn) là một phép tuyệt-diệu, đã dễ học dễ tu, lại mau có hiệu-quả. Nghĩa lý của phép niệm Phật tuy nhiều, nhưng không ngoài sáu chữ: Nam mô A- Di-Đà Phật.
04/05/202511:32:00
Lời dịch giả: Bài này của ngài Trúc Lâm Mật Nguyện, được suy đoán là của cố Hòa thượng Thích Mật Nguyện (1911-1972). Bài này in trên Viên Âm Nguyệt San số 11, ấn bản tháng 10/1934. Bài này được scan lại và dịch ra tiếng Anh để làm tài liệu cho những người nghiên cứu về Phật học đầu thế kỷ 20.
07/04/202521:19:00
Khi nhìn lại nửa thế kỷ Phật giáo Việt Nam hiện diện trên miền đất hứa, Hoa Kỳ, ta thấy con đường chánh niệm tỉnh thức không khởi nguồn từ một dự tính định sẵn, mà từ sự kết tinh của hoàn cảnh, của tâm nguyện và của những bước chân tìm về cõi an trú giữa bao biến động. Bởi nó như một dòng suối len lỏi qua những biến động của thời cuộc, chảy về một phương trời xa lạ, rồi hòa vào biển lớn. Từ những hạt giống gieo xuống trong lặng lẽ, rồi một ngày trổ hoa giữa lòng những đô thị phương Tây, nơi mà có lúc tưởng chừng như chỉ dành cho lý trí và khoa học, cho tốc độ và tiêu thụ, cho những bộ óc không còn kiên nhẫn với những điều mơ hồ. Nhưng rồi, giữa cái đa đoan của thế giới ấy, những lời dạy về chánh niệm, về thở và cười, về sự trở về với chính mình đã nảy mầm và lan rộng như một cơn mưa đầu hạ, làm dịu đi những khô cằn của tâm hồn.
03/04/202513:34:00
Hiện tại, các chư Tăng Ni đều là thành viên của các Giáo Hội Hải Ngoại, nhất tâm đảnh lễ quý ngài, thương tưởng và gìn vàng giữ ngọc của truyền thống, kỷ cương của mỗi Giáo Hội mình, để không lạc hướng và mất đi những giá trị cốt lõi sau 50 năm nhìn lại chặng đường đầy cam go thử thách này.
31/03/202509:07:00
Bài viết này sẽ phân tích một đoạn văn nói về lời dạy về minh tâm và kiến tính, ghi trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
22/03/202522:19:00
Bài viết này sẽ khảo sát rằng ngài Hải Lượng Thiền Sư, tức là Ngô Thì Nhậm (1746-1803), đã dạy cách nào để xa lìa tham, sân, si / This article will explore how Zen Master Hải Lượng, also known as Ngô Thì Nhậm (1746-1803), instructed followers on overcoming greed, anger, and delusion
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.