Hôm nay,  

‘long Trời Lở Đất’ Là Cái Gì?

07/07/201000:00:00(Xem: 11701)

‘Long Trời Lở Đất’ Là Cái Gì"

Bìa sách “Ngày Long Trời, Đêm Lở Đất”.


Tâm Việt


Lời Toà Soạn.- Trong một cuộc mạn-đàm mới đây với nhà thơ Du Tử Lê trên SBTN về sinh-hoạt sách báo ở hải-ngoại, anh Đào Văn Đồng của Nhà sách Tự Lực (www.tuluc.com) có cho biết là loại sách về lịch-sử và chính-trị vẫn là loại sách bán chạy nhất trong thị-trường hải-ngoại.  Được hỏi anh có thể cho thí-dụ cụ-thể không, anh Đồng nói: “Chẳng hạn, đó là những cuốn sách như ‘Tâm tư của Tổng Thống Thiệu’ của ông Nguyễn Tiến Hưng hay cuốn ‘Long Trời Lở Đất’.”  Làm cho không ít người ngỡ ngàng, có lẽ vì chưa biết đây là sách gì, tiểu-thuyết hay lịch-sử, văn-học hay nghiên cứu"
Để cho làm sáng tỏ vấn-đề, chúng tôi xin nói ngay, đây là một cuốn tiểu-thuyết của một tác-giả ở trong nước ký bút-danh Trần Thế Nhân, nói về cuộc Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc trong giai-đoạn 1953-1956, mà chính CSVN gọi là “cuộc cách mạng long trời lở đất.”  Ông Hồ Chí Minh khi ký luật đó đã nói: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ.” (nguyên-văn)  Sau ba năm thực-hiện, số người nạn-nhân của Cải cách Ruộng đất, nghĩa là bị giết, lên tới con số chính-thức là 172.008 mà trong đó 70 phần trăm là bị tố oan, giết ẩu (theo tác-giả Đặng Phong trong bộ Lịch sử Kinh tế VN, 1945-2000), nghĩa là cao hơn con số người Việt hy-sinh trong 9 năm chiến-tranh chống Pháp giành độc-lập.
Để độc-giả có một khái-niệm rõ ràng hơn về cuốn sách mà cả tên là “Ngày Long Trời, Đêm Lở Đất” của tác-giả Trần Thế Nhân, chúng tôi xin giới-thiệu dưới đây “Lời Nói Đầu của Nhà Xuất Bản” Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ mà sẽ ra mắt vào cuối tuần này ở Quận Cam (2 giờ chiều thứ Bảy, 10/7, ở Viện Việt Học) và ở San Jose (2 giờ chiều Chủ-nhật, 11/7, ở ViVo).
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
NGÔN NGỮ của loài người hình như bất lực trước sự thô bạo của con người một khi nó đã thành thú.  Bởi con thú không ác, chỉ có con người mới ác với người.  Con thú khi đói thì đi tìm mồi, khi no nó để yên cho các đồng loại và cả những sinh vật yếu kém hơn được “chung sống hoà bình.”  Ngay cả khi phải giết để sinh tồn, con vật cũng không tìm cách kéo dài cái đau, đay nghiến con mồi cho nó thêm khổ sở.  Và hiển nhiên, vì không có ngôn ngữ nên cũng không có vấn đề làm cho con mồi phải chịu nhục, chịu cực hình tâm lý hay nghe những điều phi lý được thốt ra về mình, về gia đình, tổ quốc, hay lý tưởng của mình. 
Có lẽ vì thế mà mỗi khi có sự đổi đời, ngôn ngữ của một dân tộc thường phải trải qua như một cuộc lột xác.  Người ta đã nhắc đến văn học Đức sau thời Đức Quốc Xã, cũng như văn học Nga sau thời Stalin, các tác giả đến sau đều đã phải đẻ ra một ngôn ngữ mới vì những từ ngữ cũ đã hoàn toàn bị vét cạn[1] ý nghĩa để trở thành vô dụng.  Song sự lột xác này không dễ dàng, thường phải là cả tập thể của một cộng đồng ngôn ngữ bỏ ra hàng chục năm, đôi khi mất cả thế kỷ rồi mới tạo dựng lại được một ngôn ngữ “khả tín.”
Những chuyện tương tự không phải là đã không xảy ra trong tiếng nước ta.  Trong lịch sử tiếng Việt, để cho một từ như chữ “tôi” mà nghĩa đầu là “tôi tớ, tôi đòi, tôi mọi” chuyển thành một chữ “tôi” ngang ngạnh, xấc xược, ngang hàng của ngày hôm nay (nhất là khi được nói ra trước người có vai vế, chức vị hơn mình) thì nó cũng đã phải trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, thậm chí có thể đến cả hàng ngàn năm.
Người Cộng sản khi vào tiếp quản Hà Nội cuối năm 1954 hay sau này, khi vào thành ở miền Nam năm 1975 làm đảo lộn chữ nghĩa như thế nào thì chúng ta cũng đã kinh qua đủ rõ để biết nó hại tới đâu cho sự trao đổi trong xã hội.  Sự kiện một người gác cổng, với sự khuyến khích của nhà cầm quyền mới, hôm trước hôm sau có thể gọi chủ mình là “anh” thì không những chỉ có nghĩa là đã có một sự đổi ngôi, một sự lên voi xuống chó trong chữ nghĩa mà còn có cả một sự đảo lộn trật tự xã hội mà trong đó người biết việc thì mất vai trò lãnh đạo (ông giám đốc hết làm giám đốc) còn người dốt đặc lên làm “đỉnh cao trí tuệ,” làm “cha” thiên hạ. 
Nhưng không phải đợi đến khi họ vào thành.  Ngay từ những ngày mới phát động phong trào đấu tố trong Cải cách Ruộng đất, họ đã bắt các nông dân, nhiều khi chỉ là lớp tôi tớ, hôm trước còn gọi chủ mình là “ông, bà,” hôm sau đã phải gọi chính những người đó là “thằng nọ, con kia,” rồi còn bắt người chủ tự xưng là “con” để “thưa ông, thưa bà” với các “ông bà” bần cố kia.  Thậm chí một đứa trẻ con cũng có thể bắt một “địa chủ” xưng “con” với mình, để “ông con” hành hạ ngay chính bố mẹ nuôi của mình… chơi.  (Tệ hơn nữa, ở trong lãnh vực bang giao quốc tế, nhiều cán bộ và dân chúng được dạy cho quen miệng để gọi những nhà lãnh đạo ở các nước mà VNCS không thích là “thằng,” là “con” một cách rất láo xược và có thể nói thẳng là “mất dạy.”)
Có lẽ cũng vì thế mà người Cộng sản Việt Nam, khi họ theo chỉ thị của Nga Tàu (nhận mệnh lệnh của Stalin và rập khuôn theo mẫu thức “Thủ ti Cải cửa” của Mao Trạch-đông và Lưu Thiếu-kỳ) họ cũng đã có lý phần nào khi gọi cách mạng ruộng đất của họ là “cuộc cách mạng long trời lở đất.”  Kết quả là như một bộ lịch sử kinh tế trong nước gần đây đã thú nhận, số nạn nhân chính thức của cách mạng ruộng đất ở mới 16 tỉnh,[2] chưa đầy một nửa nước ta hồi bấy giờ (1953-56), đã lên đến 172.008 người, trong đó 70% được xem là vô tội, nghĩa là đã bị bắt lầm, tố điêu, đánh đập, tra tấn, tàn ác dã man rồi giết oan.  Sự thực lịch sử là như thế, có nghĩa là đã có diệt chủng ở nước ta, bởi định nghĩa của diệt chủng (“genocide”) chính là giết người vô tội vạ, “sự sát hủy có hệ thống và có kế hoạch một nhóm người dựa trên chủng tộc, tín ngưỡng, chính trị hay văn hóa của họ.”
Sự thực là thế nhưng làm sao nói lên được sự thực đó trong văn chương lại là cả một vấn đề.  Vì muốn vẽ nên cuộc sống thật trong tất cả những vi mạch của nó không thể là những con số khô khan, trong đó không thấy đâu là máu và nước mắt và sự phản bội và niềm tin đặt nhầm chỗ (như đêm Mai Duy Vỹ tỏ lộ hết niềm tin của mình vào một con người huyền thoại[3] khi nằm bên cạnh vợ, một con người còn hơn cả Chúa lẫn Phật), không thấy đâu là tiếng cười, là đói khát, ăn cả cỏ, đụt khoai, cào cào, châu chấu, giun dế, cóc nhái, chuột… để rồi chết, có khi còn tệ hơn cả một con vật.


Văn học Việt Nam biết nhưng đã bất lực trước những đòi hỏi nghệ thuật ghê gớm quá của một thực tế quê hương như vậy.  Không ít người đã thử vật lộn với đề tài nhưng hình như không thành công, kể cả một tài năng lớn như Tô Hoài (Ba ngươi khác),  nhưng vì không phải là nạn nhân nên ông chỉ nhìn được từ bên ngoài, từ trên xuống, từ góc nhìn của “đội cải cách,” những điều hủ bại ở trong đó, mà không nằm trong da thịt của một Mai Duy Vỹ, một người suốt đời trong sáng, sống chết cho lý tưởng, cho nhân quần.
Người ta nói muốn viết thuyết phục, cần có thời gian để ta nhìn lại với đủ độ xa, cần có khoảng không gian để ta đủ cách mà cân nhắc được mọi sự.  Năm mươi năm hơn đã qua từ những “ngày long trời, đêm lở đất” đó thì may ra cũng có thể có người đủ xa cách để có cái nhìn viễn cận đầy đủ mà viết lại thật sâu sắc về giai đoạn kinh dị và bi thương này của lịch sử--dù là chỉ viết dưới dạng tiểu thuyết.
Chúng tôi đâu ngờ, để có được cái nhìn chính xác, vấn đề không phải là năm tháng hay không gian trên trần thế.  Chúng tôi ở nhà xuất bản đã sửng sốt khi nhận được bản thảo từ quê nhà.  Thì ra tác giả tiểu thuyết chúng ta cầm trong tay đã phải dùng đến thế giới bên này và thế giới bên kia, nghĩa là không còn biên giới không-thời-gian nữa, mới nói nên nổi cái thảm kịch “cải cách ruộng đất” ở quê ta.  Đây là một giải pháp mà thỉnh thoảng văn học thế giới cũng phải dùng đến để nói lên những sự thật không thể nói bằng cách nào khác được: Đó là những “linh hồn chết” của Gogol, đó là những hồ ly tinh của Bồ Tùng-linh trong Liêu trai chí dị.
Trong tay Trần Thế Nhân, những hồn ma kia, vì kiếp trước chính là chúng ta, nên giờ đây tuy họ không còn ở thế giới bên này song họ vẫn không khác ta là mấy.  Một Mai Duy Vỹ, vì là người thật bằng da bằng thịt trước kia nên cũng không khác ông A ông B đi giữa chúng ta.  Nhà báo Nguyễn Minh Cần đã hơn một lần ngỡ ngàng khi nhận ra những nhân vật trong truyện chính là những người ông đã từng biết rõ khi còn ở trong nước, còn một số người khác tuy có thể vì một vài lý do đã bị đổi thay tên một chút song vẫn không che giấu được căn cước thật ngoài đời của họ.  Câu chuyện, tuy là tiểu thuyết, song vẫn thật tới mức đó.  Đó chính là sự thành công của tác giả.
*  
Trong tác phẩm Le degré zéro de l’écriture (“Độ không của chữ viết”), Roland Barthes đã nói: “Sự bùng vỡ của ngôn ngữ văn chương đã là một thể hiện của ý thức”[4] và chính ý thức đau thương của mình đã dẫn người viết đến “cái bi đát của chữ viết.”  Song cái “bi đát của chữ viết” cũng sẽ không thuyết phục được ai nếu nó không dựa được lên trên những sự thật mà không ai có khả năng phủ nhận, những sự thật đôi khi thật tầm thường nhưng vẫn làm nên cái lớn của một tác phẩm, thậm chí, theo Tolstoi, làm nên một đại tác phẩm.
Tiếp tay tác giả Trần Thế Nhân để cho cuốn sách này ra mắt độc giả trước hết là một sự ngẫu nhĩ.  Có lẽ chỉ có chữ “duyên” của nhà Phật mới giải thích nổi tại sao chúng tôi, một nhà xuất bản hải ngoại, lại có được một bản thảo lạ kỳ như tiểu thuyết này ở trong tay.  Song vì sức hút vĩ đại của nó nên gần ngay sau đó, chúng tôi ở Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ đã có được sự cộng tác chi li và cặn kẽ của hai người bạn của Tổ Hợp, ông Nguyễn Quảng Tâm, và nhà biên khảo Nguyễn Minh Cần ở Mạc Tư Khoa—một đàn anh mà chúng tôi đã được may mắn biết trong nhiều năm qua.  Nhờ sự cặm cụi săn sóc của hai ông, chúng ta đã có được một tư liệu thật xác đáng về một đề tài lớn của quê hương, và có thể của cả nhân loại, kể cả sự kiện ông tìm ra cho được những bức hình chụp ngay tại hiện trường trong cải cách ruộng đất ở Việt Nam hồi năm 1955 do nhà nhiếp ảnh Liên Xô Dmitri Baltermants. 
Nguyễn Ngọc Bích
Đại diện
TỔ HỢP XUẤT BẢN MIỀN ĐÔNG HOA KỲ
Đầu Xuân Canh Dần 2010
Chú thích:
[1]  Có người nhắc nhở chúng tôi là chữ “vét cạn” này quá nhẹ.  Thực ra, dưới thời Cộng sản, phải nói là chữ nghĩa nhiều khi bị đảo lộn hoàn toàn để trở thành nghịch nghĩa.  Thí dụ, ông Hồ Chí Minh nói, “Luật CCRĐ chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình…” trong khi xem ra, cuộc cải cách đó đã tỏ ra “CHÍ ÁC, PHI NGHĨA, TRÁI ĐẠO LÝ, TRÁI TÌNH NGƯỜI.”
[2]  Đích xác là ở 3563 xã thuộc 16 tỉnh với dân số trên 10 triệu người (lúc bấy giờ dân số toàn miền Bắc VN khoảng 15 triệu, đến năm 1960 cuộc điều tra dân số cho biết miền Bắc VN có 16 triệu người).  Nếu chỉ nói đơn giản là “16 tỉnh” thì người đọc có thể hiểu lầm là đã có cải cách ruộng đất ở các tỉnh lỵ hay ở các thành phố, trong khi ở những nơi này thì lại có đổi tiền, có “cải tạo tư sản” là những cách giết tiềm năng sản xuất của một thành phần khác của dân tộc.  Quy mô và phạm vi vùng thực hiện CCRĐ là toàn bộ nông thôn miền Bắc VN, chưa kể vùng miền núi—cũng làm CC nhưng nhẹ hơn ở đồng bằng.  Và tỷ lệ là phải tìm cho ra được 5% dân số là địa chủ.  Nói cách khác, người CS dưới sự lãnh đạo tối cao của ông Hồ Chí Minh đã tìm cách giết 5% dân số những người giàu và có khả năng nhất để trên danh nghĩa là phân phát cho người nghèo nhưng đích thức, như ta sẽ thấy mấy năm sau, chính là để cướp hết của dân trên toàn quốc để đưa vào tay đảng CSVN—để nông dân trở thành tá điền cho Đảng, công nhân trở thành giai cấp bị Đảng bóc lột thay vì các chủ tư bản.  (Chúng tôi xin cảm ơn ông Nguyễn Minh Cần đã chỉ cho những chi tiết trên đây.)
[3]  Con người huyền thoại này trong truyện được mô tả là “một con người được tôn vinh là Đấng Chí Linh, Chí Thánh, Chí Thần còn hơn cả Chúa lẫn Phật,” một con người mà trên bốn ngàn năm chưa có ai bằng.  Đây không phải chuyện tiểu thuyết ngoa ngôn, mà chính là cách mà đám lãnh đạo từ Trung ương đến các địa phương đều học nhau mà nói như vậy.
[4]  Nguyên văn trong tiếng Pháp là “l’éclatement du langage littéraire a été un fait de conscience” (Le degré zéro de l’écriture, 1953, trang 57).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.