Hôm nay,  

Dự Trữ Ngoại Tệ

16/12/200900:00:00(Xem: 9313)

Dự Trữ Ngoại Tệ

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...Việt Nam đội sổ và khó tránh được khủng hoảng về ngoại hối...
Trước đà sụt giá của Mỹ kim từ đầu năm nay, nhiều quốc gia đã nêu vấn đề là đô la của Mỹ có đáng là một ngoại tệ dự trữ hay không. Tiết mục chuyên đề Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi đó với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa thì được hỏi ngược lại, rằng dự trữ ngoại tệ là để làm gì" Quả vậy, chức năng của khối dự trữ ngoại tệ dường như đã có thay đổi theo thời gian như chúng ta có thể thấy qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện sau đây với ông Nguyễn Xuân Nghĩa.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Khi đô la Mỹ sụt giá thì nhiều quốc gia đã nêu vấn đề về vai trò ngoại tệ dự trữ của đồng bạc xanh, như người ta hay gọi đồng Mỹ kim. Như ông có hỏi ngược, xin ông cho biết là dự trữ ngoại tệ hiện giữ chức năng gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa nếu hiểu rõ chức năng hiện tại so với quá khứ của khối dự trữ ngoại tệ thì ta có thể suy ngược lên, xem đồng Mỹ kim nay có đáng là một ngoại tệ dự trữ nữa không. Một đồng bạc được coi là ngoại tệ dự trữ khi các nước muốn giữ đồng bạc ấy trong khối dự trữ ngoại tệ của mình. Nếu biết về mục tiêu duy trì khối dự trữ ngoại tệ để làm gì thì ta sẽ suy ra là trong cái rổ gồm có nhiều ngoại tệ ta nên giữ bao nhiêu dưới dạng Mỹ kim.
Việt Long: Chính là vì câu hỏi đó nên chương trình kỳ này sẽ tìm hiểu về chức năng của khối dự trữ ngoại tệ. Như cách ông vừa trình bày thì hình như chức năng ấy có thay đổi với thời gian và chức năng hiện tại lại có khác với ngày trước. Có đúng như vậy hay không"
Những chức năng đổi thay của khối dự trữ ngoại tệ
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta cần trở lại chuyện xưa để hiểu ra sự chuyển hoá chức năng đó.
- Sau Thế chiến II, Hoa Kỳ là cường quốc giàu nhất và góp phần tái thiết các quốc gia từ Âu qua Á nên hệ thống tiền tệ quốc tế mặc nhiên đưa Mỹ kim lên ngôi vị ngoại tệ dự trữ và xứ nào cũng định giá đồng bạc của mình theo đồng đô la. Khi ấy, Hoa Kỳ cũng hứa định giá Mỹ kim là 35 đồng thì ăn một troy ounce vàng, tương đương với chừng 31 gram. Nhưng từ tháng Tám năm 1971, Hoa Kỳ đơn phương bứt đứt neo vàng ấy, mặc nhiên thả nổi và phá giá đồng bạc. Khi ấy, các nước vẫn thực tế theo đuổi chế độ định giá nội tệ của quốc gia theo Mỹ kim, lâu lâu lại điều chỉnh căn cứ trên sự khác biệt về vật giá hay lạm phát của xứ mình và của Mỹ. Đó là về quy chế. 
- Sau Thế chiến II, xứ nào cũng cố xuất khẩu cho nhiều để đủ ngoại tệ tài trợ việc nhập khẩu cần thiết cho tái thiết và phát triển. Vì đô la là phương tiện giao hoán phổ biến nhất nên xứ nào cũng ghim sẵn một số đô la trong túi để kịp thanh toán chênh lệch về ngoại thương. Cụ thể là phải có đủ đô la tài trợ yêu cầu nhập khẩu cho ba tháng. Mà nhập khẩu càng nhiều thì dự trữ ngoại tệ càng cao. Khi đó, khối dự trữ ngoại tệ có chức năng an toàn ngoại thương. Vì Mỹ kim là ngoại tệ dự trữ như vậy, Hoa Kỳ tất nhiên là có lợi khi mua bán, phát hành và nhất là vay mượn vì nơi nào cũng có đô la. Ngược lại các nước cũng ấn định hối suất đô la hay tỷ giá đồng bạc với tiền Mỹ sao cho có lợi về xuất khẩu mà vẫn không có khác biệt thái quá vì hối suất thấp sẽ làm hàng nhập khẩu đắt hơn.
Việt Long: Thế rồi chức năng ấy bắt đầu thay đổi từ lúc nào, vì lý do gì và nay đang đi tới đâu"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chế độ neo giá đồng nội tệ vào Mỹ kim theo một tỷ giá nhất định ấy quá cứng ngắc nên dần dần được bỏ, để cho thị trường quyết định về hối suất theo quy luật cung cầu. Việc ấy càng trở thành phổ biến khi Chiến tranh lạnh kết thúc, là từ đầu thập niên 90, và khi tư bản được tự do giao dịch giữa các nước. Trên lý thuyết thì các nước khỏi cần dự trữ ngoại tệ nữa vì về dài thì sai biệt hối suất trên thị trường sẽ tự đồng điều chỉnh sai biệt về xuất nhập khẩu. Nhập siêu sẽ giảm dần nhờ hốt suất thấp chẳng hạn. Thực tế thì các nước vẫn cần dự trữ ngoại tệ để ứng phó với những sai lệch quá lớn về hối suất trên thị trường hối đoái hay ngoại hối quốc tế. Cụ thể là có ngoại tệ để kịp bán ra hầu giữ cho đồng nội tệ khỏi mất giá.
Dự trữ ngoại tệ để ứng phó với biến động tài chính
Việt Long: Như vậy, theo chế độ hối suất tự do ấy thì chức năng an toàn của dự trữ ngoại tệ vẫn còn nguyên vẹn"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chẳng những nguyên vẹn mà còn tăng, nhưng không vì ngoại thương mà vì lý do ngoại hối. Đã thế, vì quy chế tự do chuyển dịch tư bản, cụ thể là tiền có thể chảy từ xứ này qua xứ khác, ta có một rủi ro mới. Đó là thị trường có quyền vay mượn và đầu tư bằng ngoại tệ của xứ khác. Vì vậy, dự trữ ngoại tệ phải có mức tối thiểu nào đó, không tính theo ba tháng nhập khẩu mà tính qua số nợ ngoại quốc sẽ đáo hạn trước mắt, trong đó có công trái của nhà nước và nợ của tư doanh. Ngược lại, khi đi vay thì cũng phải tính xem có khả năng trả nợ bằng xuất khẩu hay không. Sở dĩ như vậy vì, thí dụ như khi thấy lãi suất tại Mỹ quá rẻ, người ta vay tiền trên thị trường Mỹ đem về cho vay lại ở nhà với phân lời cao hơn, hoặc đầu tư để kiếm lợi nhiều hơn, và có khi lại thổi lên bong bóng. Khi đó, các nước phải có sẵn dự trữ đủ cao để phòng xa bóng bể, chủ nợ rút vốn đem về hoặc đem qua thị trường khác có lời hơn.
- Thế rồi vì muốn giữ giá đồng Bath cho cao - cao hơn tỷ giá tự nhiên của thị trường - lại không đủ dự trữ cho lượng giao dịch quá lớn, tháng Bảy năm 1997, Thái Lan phải thả nổi, tức là bứt neo và phá giá đồng Bath, và bị biến động hối đoái khiến Đông Á bị khủng hoảng năm 1997-1998 rồi bị suy trầm nặng. Đấy là biến cố lịch sử làm thay đổi chức năng của dự trữ ngoại tệ.


Việt Long: Nghe đến đây thì tôi giật mình nghĩ tới trường hợp Việt Nam ngày nay với tỷ lệ vay nợ ngoại quốc quá cao và dự trữ ngoại tệ quá thấp.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ trở lại chuyện đáng ngại ở Việt Nam trong phần cuối.
- Chỉ xin nhắc lại chuyện xưa là khủng hoảng ngoại hối tại Thái đã lan khắp nơi, gây chấn động mạnh tại các nước mắc nợ ngoại quốc nhiều nhất, rồi dội qua xứ Brazil và Liên bang Nga rồi từ Nga chạy ngược về Hoa Kỳ làm một tổ hợp đầu tư đối xung, hay hedge fund, của Mỹ bị vỡ nợ năm 1998. Trước cơn chấn động ấy, các quốc gia lâm nạn, kể cả Nhật, đều rút tỉa bài học là phải coi chừng sức bùng phá của thị trường hay các nghiệp vụ đầu cơ và nhất là đừng dại dột ấn định trị giá nội tệ quá cao nếu không có một lượng dự trữ ngoại tệ đủ dày.
- Từ kinh nghiệm Đông Á đó, đa số các nước thay đổi chiến lược vĩ mô. Đó là ấn định hối suất thấp để xuất khẩu bằng mọi giá và gom tiền về lập một khối dự trữ ngoại tệ rất lớn. Ngày nay, tổng số dự trữ ngoại tệ trên thế giới, nếu tính bằng Mỹ kim, đã lên hơn gấp đôi so với ba bốn năm trước. Đứng đầu là Trung Quốc với 2.300 tỷ đô la, sau là Nhật với 1.050 tỷ, khối Euro có 760 tỷ, Liên bang Nga 400 tỷ, xứ Saudi Arabia có 395 tỷ, Đài Loan 350 tỷ, Ấn Độ gần 300 tỷ, Nam Hàn 270 tỷ và Brazil chừng 230 tỷ, đây là các con số tính đến tháng Chín vừa qua.
Dự trữ ngoại tệ trở thành kho đầu tư
Việt Long: Khi các nước ghim nhiều tiền như vậy thì đâu có phải là để trang trải yêu cầu về nhập khẩu hoặc những biến động ngoại hối do đầu tư hay vay mượn về tài chính nữa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng và nếu kể thêm quỹ đầu tư quốc doanh của các chính quyền đem đầu tư kiếm lời trên các thị trường tài chính quốc tế thì khả năng dự trữ ngoại tệ còn lớn hơn gấp bội. Khi ấy, và đây là chức năng mới, khối dự trữ ngoại tệ là một kho đầu tư có khả năng đối phó được với các làn sóng đầu cơ trong ngắn hạn để nhắm vào mối lợi dài hạn.
- Khi tích lũy khối dự trữ ngoại tệ lớn lao như vậy trong mục đích đầu tư thì các quốc gia đều tự hỏi là đầu tư vào đâu là có lời nhất và an toàn nhất" Từ câu hỏi ấy, người ta mới nghĩ tiếp về cơ cấu và tỷ phần của khối dự trữ này. Chẳng hạn như giữ bao nhiêu phần trăm dưới dạng vàng, quý kim, bao nhiêu dưới dạng ngoại tệ, mà là ngoại tệ nào... Và dưới dạng tài sản của nước khác như vậy thì bao nhiêu là cổ phiếu, bao nhiêu là trái phiếu hay công khố phiếu"
- Câu hỏi ấy mới quyết định về tương lai của đồng Mỹ kim, tương lai ấy cũng tùy vào mức lưu hoạt và độ an toàn của việc đầu tư tài chính trên thị trường Hoa Kỳ. Và có lẽ là câu trả lời của các nước trong năm qua có góp phần làm Mỹ kim sụt giá vì các nước đã bán Mỹ kim để đa dạng hoá các diện đầu tư thay vì chỉ giữ tài sản bằng đô la Mỹ. Ngược lại, vì chiều dày và chiều rộng, từ phẩm đến lượng, thị trường tài chính Mỹ vẫn là thị trường an toàn nhất với triển vọng có lợi sẽ khả quan hơn, cho nên các nước vẫn còn phải giữ rất nhiều đô la để đầu tư vào đây. Cho nên, bảo rằng phải thay thế Mỹ kim bằng một ngoại tệ khác là người ta đã lầm nhân với quả.
Việt Long: Bây giờ ta trở lại chuyện Việt Nam với mối nguy hối đoái hiện nay. Theo như ông trình bày thì các nước đã thay đổi nhanh và mạnh trong 10 năm qua, mà Việt Nam thì mới chỉ đi tới trình độ dự trữ ngoại tệ làm kho an toàn về ngoại thương mà có lẽ chưa an toàn lắm.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việt Nam bị bội chi ngân sách, tức là chi nhiều hơn thu, bằng với tám tỷ đô la; bị nhập siêu, tức là nhập nhiều hơn xuất khẩu, chừng 12 tỷ đô la trong khi đầu tư nước ngoài và tiền bạc của người Việt ở ngoài gửi về đều sút giảm mạnh. Trong khi ấy, ngoại trái tức là tiền vay ngoại quốc của Việt Nam cũng lại tăng và đã lên tới 40% tổng sản lượng GDP, chưa nguy ngập mà cũng là đáng ngại. Vì vậy, dự trữ ngoại tệ bị hao hụt mất 30% và nay chỉ còn chừng 16 tỷ Mỹ kim, chưa đủ cho ba tháng nhập khẩu. Nếu kể về khả năng dự trữ ngoại tệ so với các nước khác như vừa nói thì Việt Nam đội sổ và khó tránh được khủng hoảng về ngoại hối, là điều mà giới đầu tư nước ngoài đã báo động, gần nhất là lượng định của tập đoàn đầu tư Nomura hôm mùng tám tuần trước. Điều đáng chú ý là trong khi ấy, không thiếu gì người Việt có chức có tiền vẫn đem tiền ra ngoài và tình hình ở nhà càng nguy ngập thì lượng đầu tư ra ngoài như vậy lại càng nhiều. Nhìn về kinh tế thì đấy là một hình thái tẩu tán tư bản khiến tôi ngậm ngùi nghĩ tới trường hợp của Việt Nam Cộng Hoà thời trước.
Việt Long: Chúng tôi được biết là trước 1975, ông đã là Phụ tá Tổng trưởng Tài chính, khi ấy ông thấy việc quản lý ngoại tệ của miền Nam ra sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thời ấy dân số miền Nam có khoảng 24 triệu, và chẳng có cộng đồng hải ngoại gửi tiền về tiếp tế. Thời ấy, Việt Nam vẫn đang có chiến tranh nên sản xuất bị thu hẹp, chưa thể xuất cảng gạo lại chưa có dầu hỏa. Và mấy năm 1973-1974 còn bị cơn chấn động dầu khí và bị Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ. Nhưng miền Nam vẫn giữ đủ 16 tấn vàng, tương đương với chừng 120 triệu Mỹ kim và còn dự trữ ngoại tệ đầu tư ở ngoài trị giá hơn 170 triệu, tổng cộng là gần 300 triệu. So với yêu cầu nhập khẩu thì vẫn là cao. Và dù có đầy biến động ta không thấy có nạn lãnh đạo tẩu tán tài sản như một số báo chí đã xuyên tạc, cho nên chế độ mới đã lấy đủ số vàng này đem đi đâu mất, rồi còn gây ra khủng hoảng kinh tế. Sau này còn đòi lại dự trữ ngoại tệ của chính quyền cũ đầu tư ở bên Mỹ, tính cả vốn lẫn lãi kép thì cũng là mấy trăm triệu. Tôi thấy ngậm ngùi là vì cái cảnh phú quý giật lùi như vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.
Trong những thời khắc nguy kịch nhất, thảm họa nhất, tổng thống Hoa Kỳ là người duy nhất có tiếng nói quyền lực với toàn dân để đưa họ vượt qua nghịch cảnh. Tổng thống sẽ trấn an dân bằng luật pháp, bằng ý chí kiên cường, bằng bản lĩnh lãnh đạo, bao dung nhưng dứt khoát. Thậm chí, có khi phải bằng mệnh lệnh sắc bén để khống chế những tư tưởng bốc đồng sẽ gây hỗn loạn. Mấy trăm năm lập quốc của Mỹ đã chứng minh rất nhiều lần như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.