Hôm nay,  

Năm Nay 30 – 04

17/04/201000:00:00(Xem: 7020)

Năm Nay 30 – 04

Nguyễn Văn Trần
Nhìn lại vài nét mới của biến cố
Biến cố  30 – 04 của Việt nam, sau 35 năm, vẫn còn được nhiều người nhắc tới dưới những cái nhìn khác nhau, nhưng tuyệt đối không có cái nhìn đó là « sự giải phóng », ngoài trừ nhóm cộng sản cầm quyền ở Hà nội .
Gần đây, trong dịp kỷ niệm 35 năm mất Miền nam, một tác giả người Mỹ, Ts Roger Canfield, cho xuất bản quyển “Comrades in arms : How the Ameri-cong won the Vietnam war against the common enemy-America ” (Mỹ-Cộng đã chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam như thế nào). Sau 22 năm dài, từ 1988, nghiên cứu qua nhiều tài liệu của CIA, FBI và sách báo ngoại quốc và Việt Nam, cả Việt Nam cộng sản, ông đưa ra nhận định “ kết quả cuộc chiến là do người Mỹ thua mặt trận chánh trị ngay tại Quốc hội Huê kỳ năm 1975 vì ảnh hưởng của truyền thông và các phong trào hòa bình-phản chiến, chớ quân Mỹ không thua trận do bị cộng quân đánh bại ”. Thông điệp chánh mà ông muốn gởi qua quyển sách của ông là “ hầu hết những gì người Mỹ hiểu về cuộc chiến Việt Nam là sai lầm, bởi vì phần lớn những gì được ghi lại trong sách vở là sự tuyên truyền của cộng sản Việt Nam. Khác biệt giữa quyển sách này với hàng ngàn cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam là ở chỗ chưa có một cuốn sách nào nghiên cứu chi tiết các cuộc tiếp xúc và thăm viếng qua lại giữa chính quyền Hà nội với phe phản chiến tại Mỹ lúc bấy giờ.
   Chiến tranh là điều không nên vì chiến tranh thật khủng khiếp, đặc biệt là cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên, nó là một cuộc chiến nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Đây là một chiến trường quan trọng trong chiến tranh lạnh. Các chiến sĩ Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam không đánh bại được lính cộng sản miền Bắc vì quân đội Mỹ đã phản bội họ. Theo tôi, phản bội đồng minh của mình là điều đáng xấu hổ ” (Trà Mi, VOA,23-03-2010).
Phê bình những nhận  định của tác giả Roger Canfield, Giáo sư Thayer, chuyên nghiên cứu về Việt nam ở Học viện Quốc phòng Úc, phát biểu :
“ Cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến cách mạng kéo dài. Và hiểu theo cách cộng sản, đó là cuộc chiến kết hợp giữa quân sự và chính trị. Đó là cuộc đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao. Tôi không đồng ý với ý kiến cho rằng, Hoa Kỳ thua tại mặt trận ở nhà. Có rất nhiều cuộc nghiên cứu sâu rộng về vai trò của truyền thông trong cuộc chiến này nhưng không có kết quả nào ủng hộ ý kiến cho rằng phong trào phản chiến tại Mỹ đã thành công trong việc dẫn tới việc Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam.
Tôi cũng không đồng ý với quan điểm cho rằng Hoa Kỳ thua trận. Cuộc chiến mà Hoa Kỳ đương đầu là một cuộc chiến cách mạng kéo dài và vì thế nói thắng hay thua là không hợp lý, vì theo thời gian, mục tiêu của nước Mỹ thay đổi. Mỹ đã không thành công duy trì độc lập cho phe Cộng Hòa ở Việt Nam. Đây không phải là cuộc chiến tranh hiểu theo nghĩa thông thường là một quốc gia xâm lược một nước khác, mà đây là một cuộc chiến cách mạng, một cuộc chiến cách tân Việt Nam khỏi chủ nghĩa cộng sản”. (Trà Mi, VOA, 23-03-2010).
Ts Roger Canfield cho rằng, Miền nam thất thủ vì bị đồng minh Huê kỳ phản bội . Lập luận này được tác giả Việt Nam, Ts Nguyễn Tiến Hưng, trong quyển sách của ông viết về “ Tâm tư Tổng thống Thiệu ” sắp phát hành (Giới thiệu trên Internet), xác nhận ngoại trưởng Kissinger thuyết phục để trấn an T.T Nixon là “ Huê kỳ phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó thì …chẳng ai cần đếch gì nữa . Vì lúc ấy, Việt nam sẽ chỉ còn là bãi hoang vắng ”. Và quả thật cái “công thức nào đó ”, ông Kissinger đã tìm được và đã áp dụng đưa đến kết quả như ông mong muốn khi ông trả lời ông Đổng lý Văn Phòng John Erlichmann của T.T Nixon “ Tôi nghĩ rằng, nếu họ (Chánh phủ Sài gòn) may mắn thì được một năm rưỡi [mới mất]”.
Ts Nguyễn Tiến Hưng nêu lên 3 điểm chủ yếu của chủ trương lúc bấy giờ của chánh quyền Nixon nhằm giải quyết gấp vấn đề Việt nam “ trong danh dự ” sau khi đã mật đàm nhiều lần với Trung cộng và Nga-sô, tức đạt được sự thỏa thuận của hai nước cộng sản này để kết thúc chiến tranh Việt Nam theo đường lối của Huê kỳ :
• Ký kết một hiệp định để Huê kỳ triệt thoái trong danh dự,
• Tôn trọng một khoảng thời gian giữa triệt thoái và sự sụp đổ sẽ xảy ra ( một vài năm sau để dư luận không lến án Huê kỳ phản bội bạn, mà cho rằng chánh quyền Sài gòn bất lực),
• Mỹ có thể chấp nhận một chánh quyền cộng sản ở Sài gòn .
Ts Roger Canfield dùng tựa sách rất độc đáo “ Mỹ-Cộng ”. Trước giờ, người ta nói “Việt cộng” để chỉ cộng sản Bắc Việt xâm nhập và cộng sản ở Miền nam do Hà nội tổ chức . Cách nay hai năm, trong một bài viết về cộng sản Hà nội (Ai thống trị Việt nam ngày nay : Đảng cộng sản hay một ĐẢNG HÁN NGỤY "), Giáo sư Stephen Young, người Mỹ, gọi đảng cộng sản Hà nội là đảng Hán Ngụy vì đã hoàn toàn lệ thuộc Tàu Bắc kinh, dâng đất đai, biển cả cho Bắc kinh để mua chuộc sự an toàn cho phe nhóm cầm quyền ở Việt nam . Ông muốn phản bác lại tiếng Mỹ-ngụy của Hà nội trước đây gọi Chánh quyền và nhân dân Miền nam. Tưởng từ nay người Việt hải ngoại nên gọi cộng sản Hà nội là Hán ngụy để phơi bày bản chất nô lệ Tàu và đánh mất chủ quyền của chúng nó.
Tác giả  Roger Canfield giải thích tại sao ông viết “Mỹ-Cộng” :  “Ameri-Cong là vì một số những người hoạt động phản chiến và kêu gọi hòa bình, họ tự xưng như thế. Mỹ-Cộng có nghĩa là những người Mỹ đồng quan điểm với Việt cộng, với công cuộc đấu tranh của cộng sản . Mỹ-Cộng và Việt cộng đều xem chủ nghĩa đế quốc Mỹ là kẻ thù chung.”
Trong sách, ông Roger Canfield có đề cặp tới việc Huê kỳ can thiệp ở Việt Nam là để ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản trong thời kỳ chiến tranh lạnh . Nhưng chúng tôi nghĩ nếu chiến lược “ be bờ ngăn cộng ” của Huê kỳ được đẩy mạnh thêm nữa thì chắc chắn ngày nay đã không còn tới bốn nước cộng sản tồn tại . Và Huê kỳ đã không bị thế giới lên án suốt 35 năm vì đã hoàn thành sứ mạng cao cả của mình .
Giải phóng hay lệ thuộc "


Trả lời phỏng vấn nhân ngày 30-04 năm 2008, ông Bùi Tín, sĩ quan cao cấp nhứt vào Dinh Độc lập ngày 30/04/75 nay là nhà báo tự do ở Paris, nói to cho mọi người ở Hà nội nghe rõ : “đất nước Việt nam ta sau ngày 30-4-1975 chưa được giải phóng và cũng chưa được thống nhất. Ngày 30-4 chỉ có đảng CS thắng, toàn dân vẫn thua, vẫn bị thống trị bới độc quyền đảng trị ”.
Vì theo ông, đảng Cộng sản ở Việt nam, sau 30-04-75, đã thực sự trở thành một đảng xâm lược thực hiện chính sách chiếm đóng và thống trị miền Nam, bỏ tù và quản thúc hàng triệu người dân, cướp đoạt tài sản của toàn dân, thanh toán ngay Mặt trận dân tộc giải phóng Miền nam, gây thảm cảnh hàng triệu thuyền nhân. Sau 30-4-1975, chỉ riêng duy nhất đảng CS cầm quyền, không cho ai lập hội, không cho một tư nhân nào ra báo, không có tự do ứng cử và bầu cử, đàn áp dã man những người tranh đấu đòi dân chủ, nhân quyền, đòi bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ, lãnh hải,… trước hiểm họa Bắc kinh xâm lược .
Trong Hội nghị Trung ương 12 ở Hà nội vừa qua, đảng cộng sản vẫn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa thật thảm hại, trong lúc Hội đồng châu Âu đã tuyên bố Chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội hiện thực do các đảng cộng sản ở Đông Âu và Liên-sô chủ trương từ 1945 đến 1991 là phi nhân tính, là thảm hoạ cho các dân tộc và tội ác chống nhân loại. Quốc hội Balan đã thông qua luật đặt chủ nghĩa cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, và coi việc tuyên truyền cộng sản là phạm pháp.
Tại các nước Đông Âu, nơi chủ nghĩa cộng sản từng ngự trị, ngày nay không có gì xấu, nhục bằng khi bị mắng nhiếc : " nói dối như cộng sản, lừa gạt như cộng sản! " . Cũng giống như ở Hoa kỳ, Canađa, Úc ...  ai bị vu cáo, chụp mũ là "tay sai Việt Cộng","Việt Cộng nằm vùng", có thể phát đơn kiện kẻ chụp mũ, và đã có phiên toà xét xử tuyên án phạt kẻ chụp mũ gần 100 ngàn đô-la, vì quan toà tôn trọng giá trị xã hội “coi Cộng sản như là một điều gì xấu xa, bẩn thỉu, tồi tệ, ghê tởm ” . Thế mà ngày nay, ở Việt nam lại còn một nhóm người “can đảm” ôm chặt con đường cộng sản ! Chỉ vì quyền lợi phe nhóm mà vô cảm trước quyền lợi tối thượng của đất nước !
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh hoàn toàn không có tư tưởng, chỉ “có công ” đem chủ nghĩa Mác-Lê về áp dụng ở Việt Nam nhằm đưa Việt Nam biến thành một bộ phận của quốc tế cộng sản . Hồ Chí Minh luôn luôn cúc cung tận tụy phục vụ Đệ III quốc tế . Lúc ký thỏa hiệp 6/3 đón tiếp thực dân Pháp trở lại, Hồ Chí Minh giải thích với cán bộ thân tín “ Thà bị lệ thuộc 5, 10 năm nữa còn hơn là độc lập trong tay các đảng phái quốc gia ”. Mục tiêu của Hồ Chí Minh trước sau không phải là dành lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền chọn lựa người lãnh đạo, quyền có luật pháp của mình và nếp sống của mình. Mục tiêu của ông ta là cưỡng bức nhân dân phải chấp nhận chế độ toàn trị kiểu Staline và Mao Trạch Đông do ông ta chọn lựa, với tất cả đặc điểm của nó : Những cuộc hành quyết không qua xét xử, trại tập trung, sự chà đạp nhân phẩm và áp dụng mọi cách trả thù bẩn thỉu trong “cải tạo”, bỏ dân chúng chết đói và đảng viên cầm quyền các cấp tự do tham nhũng vô tội vạ .
Khi phát động chiến tranh giải phóng, Hồ Chí Minh khơi dậy những khát vọng tự nhiên của con người : Khát vọng tự do, thịnh vượng, tiến bộ, độc lập dân tộc để rồi hướng tất cả ý nguyện ấy của toàn dân vào những mục tiêu hoàn toàn trái ngược để chỉ nhằm phục vụ cho đường lối cộng sản Đệ III quốc tế mà thôi . Dân tộc Việt Nam đã bị ông ta lợi dụng thâm độc. Khi quần chúng nhận  ra được sự lừa đảo thì đã quá muộn. Họ đã bị cầm tù . Chính quyền độc tài toàn trị  đã được thiết lập và nhà tù đã khóa chặt cửa . Thế là Hồ Chí Minh đã thành công biển thủ những tình cảm cao quý, những sự dấn thân và hi sinh của toàn dân trong kháng chiến cho mục tiêu riêng của ông ta .
Trước những tội ác chống nhân loại trong các cuộc Cải cách Ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, thảm sát Mậu thân, và bao nhiêu vụ thanh toán các đồng chí để bảo vệ địa vị lãnh đạo của mình, Hồ Chí Minh vẫn giữ vẻ lương tâm thanh thản, cả trong khi nêu lên những mặt tiêu cực của chế độ, như trong vụ Cải cách Ruộng đất ở Miền bắc, hay khi thừa nhận hành động sát hại nhà ái quốc Tạ Thu Thâu với ký giả Guérin .
Lịch sử là hệ quả không phải của những ý định con người mà là của hành đông của họ. (Hồ Chí Minh, con người và di sản, của Jean–François Revel,Việt nam Infos, số 36, ngày 25-05-2006, Paris). Mà hành động tội ác chống nhân loại sẽ phải được đem ra xét xử trước một Tòa án dân chủ vì đó là những tội bất khả thời tiêu .
Mất nước
Ngày nay, người dân trong và ngoài nước đều khẳng định đất nước đã thật sự lệ thuộc Tàu Bắc kinh . Nhưng thật ra Việt Nam đã bắt đầu mất về mặt chánh trị từ khi cộng sản Hà nội cai trị cả nước. Chế độ độc tài toàn trị đã cướp đoạt mọi quyền của dân thì người dân không còn làm chủ đất nước của họ. Hơn nữa, họ không làm chủ được mạng sống của họ nữa. Nay chỉ mất thêm lãnh thổ, biển vào tay ngoại bang. Nhưng trên quan điểm « cùng phe xã hội chủ nghĩa» thì Việt nam vẫn tồn tại trong không gian xã hội chủ nghĩa, vì Việt nam xã hội chủ nghĩa thì không có biên cương quốc gia. Cùng «Tổ quốc xã hội chủ nghĩa» với nhau . Vấn đề cầm quyền ở nơi này hay nơi nọ chỉ là sự ủy nhiệm mà thôi.
Trong lịch sử xưa nay, mất nước thường không do quân giặc mạnh, mà do lòng dân không biết hay không muốn giữ nước. Ngày nay, Việt nam bị mất vào tay giặc Tàu không vì lòng dân không biết giữ nước, mà vì người dân không có quyền giữ nước .
Ngày 30-04 nay không mang ý nghĩa gì khác hơn là ngày mất nước cho giặc Tàu trong tinh thần thỏa hiệp cùng phe xã hội chủ nghĩa anh em với nhau !                                            
Nguyễn văn Trần
(Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:  www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.