Hôm nay,  

Năm Nay 30 – 04

17/04/201000:00:00(Xem: 7072)

Năm Nay 30 – 04

Nguyễn Văn Trần
Nhìn lại vài nét mới của biến cố
Biến cố  30 – 04 của Việt nam, sau 35 năm, vẫn còn được nhiều người nhắc tới dưới những cái nhìn khác nhau, nhưng tuyệt đối không có cái nhìn đó là « sự giải phóng », ngoài trừ nhóm cộng sản cầm quyền ở Hà nội .
Gần đây, trong dịp kỷ niệm 35 năm mất Miền nam, một tác giả người Mỹ, Ts Roger Canfield, cho xuất bản quyển “Comrades in arms : How the Ameri-cong won the Vietnam war against the common enemy-America ” (Mỹ-Cộng đã chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam như thế nào). Sau 22 năm dài, từ 1988, nghiên cứu qua nhiều tài liệu của CIA, FBI và sách báo ngoại quốc và Việt Nam, cả Việt Nam cộng sản, ông đưa ra nhận định “ kết quả cuộc chiến là do người Mỹ thua mặt trận chánh trị ngay tại Quốc hội Huê kỳ năm 1975 vì ảnh hưởng của truyền thông và các phong trào hòa bình-phản chiến, chớ quân Mỹ không thua trận do bị cộng quân đánh bại ”. Thông điệp chánh mà ông muốn gởi qua quyển sách của ông là “ hầu hết những gì người Mỹ hiểu về cuộc chiến Việt Nam là sai lầm, bởi vì phần lớn những gì được ghi lại trong sách vở là sự tuyên truyền của cộng sản Việt Nam. Khác biệt giữa quyển sách này với hàng ngàn cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam là ở chỗ chưa có một cuốn sách nào nghiên cứu chi tiết các cuộc tiếp xúc và thăm viếng qua lại giữa chính quyền Hà nội với phe phản chiến tại Mỹ lúc bấy giờ.
   Chiến tranh là điều không nên vì chiến tranh thật khủng khiếp, đặc biệt là cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên, nó là một cuộc chiến nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Đây là một chiến trường quan trọng trong chiến tranh lạnh. Các chiến sĩ Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam không đánh bại được lính cộng sản miền Bắc vì quân đội Mỹ đã phản bội họ. Theo tôi, phản bội đồng minh của mình là điều đáng xấu hổ ” (Trà Mi, VOA,23-03-2010).
Phê bình những nhận  định của tác giả Roger Canfield, Giáo sư Thayer, chuyên nghiên cứu về Việt nam ở Học viện Quốc phòng Úc, phát biểu :
“ Cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến cách mạng kéo dài. Và hiểu theo cách cộng sản, đó là cuộc chiến kết hợp giữa quân sự và chính trị. Đó là cuộc đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao. Tôi không đồng ý với ý kiến cho rằng, Hoa Kỳ thua tại mặt trận ở nhà. Có rất nhiều cuộc nghiên cứu sâu rộng về vai trò của truyền thông trong cuộc chiến này nhưng không có kết quả nào ủng hộ ý kiến cho rằng phong trào phản chiến tại Mỹ đã thành công trong việc dẫn tới việc Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam.
Tôi cũng không đồng ý với quan điểm cho rằng Hoa Kỳ thua trận. Cuộc chiến mà Hoa Kỳ đương đầu là một cuộc chiến cách mạng kéo dài và vì thế nói thắng hay thua là không hợp lý, vì theo thời gian, mục tiêu của nước Mỹ thay đổi. Mỹ đã không thành công duy trì độc lập cho phe Cộng Hòa ở Việt Nam. Đây không phải là cuộc chiến tranh hiểu theo nghĩa thông thường là một quốc gia xâm lược một nước khác, mà đây là một cuộc chiến cách mạng, một cuộc chiến cách tân Việt Nam khỏi chủ nghĩa cộng sản”. (Trà Mi, VOA, 23-03-2010).
Ts Roger Canfield cho rằng, Miền nam thất thủ vì bị đồng minh Huê kỳ phản bội . Lập luận này được tác giả Việt Nam, Ts Nguyễn Tiến Hưng, trong quyển sách của ông viết về “ Tâm tư Tổng thống Thiệu ” sắp phát hành (Giới thiệu trên Internet), xác nhận ngoại trưởng Kissinger thuyết phục để trấn an T.T Nixon là “ Huê kỳ phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó thì …chẳng ai cần đếch gì nữa . Vì lúc ấy, Việt nam sẽ chỉ còn là bãi hoang vắng ”. Và quả thật cái “công thức nào đó ”, ông Kissinger đã tìm được và đã áp dụng đưa đến kết quả như ông mong muốn khi ông trả lời ông Đổng lý Văn Phòng John Erlichmann của T.T Nixon “ Tôi nghĩ rằng, nếu họ (Chánh phủ Sài gòn) may mắn thì được một năm rưỡi [mới mất]”.
Ts Nguyễn Tiến Hưng nêu lên 3 điểm chủ yếu của chủ trương lúc bấy giờ của chánh quyền Nixon nhằm giải quyết gấp vấn đề Việt nam “ trong danh dự ” sau khi đã mật đàm nhiều lần với Trung cộng và Nga-sô, tức đạt được sự thỏa thuận của hai nước cộng sản này để kết thúc chiến tranh Việt Nam theo đường lối của Huê kỳ :
• Ký kết một hiệp định để Huê kỳ triệt thoái trong danh dự,
• Tôn trọng một khoảng thời gian giữa triệt thoái và sự sụp đổ sẽ xảy ra ( một vài năm sau để dư luận không lến án Huê kỳ phản bội bạn, mà cho rằng chánh quyền Sài gòn bất lực),
• Mỹ có thể chấp nhận một chánh quyền cộng sản ở Sài gòn .
Ts Roger Canfield dùng tựa sách rất độc đáo “ Mỹ-Cộng ”. Trước giờ, người ta nói “Việt cộng” để chỉ cộng sản Bắc Việt xâm nhập và cộng sản ở Miền nam do Hà nội tổ chức . Cách nay hai năm, trong một bài viết về cộng sản Hà nội (Ai thống trị Việt nam ngày nay : Đảng cộng sản hay một ĐẢNG HÁN NGỤY "), Giáo sư Stephen Young, người Mỹ, gọi đảng cộng sản Hà nội là đảng Hán Ngụy vì đã hoàn toàn lệ thuộc Tàu Bắc kinh, dâng đất đai, biển cả cho Bắc kinh để mua chuộc sự an toàn cho phe nhóm cầm quyền ở Việt nam . Ông muốn phản bác lại tiếng Mỹ-ngụy của Hà nội trước đây gọi Chánh quyền và nhân dân Miền nam. Tưởng từ nay người Việt hải ngoại nên gọi cộng sản Hà nội là Hán ngụy để phơi bày bản chất nô lệ Tàu và đánh mất chủ quyền của chúng nó.
Tác giả  Roger Canfield giải thích tại sao ông viết “Mỹ-Cộng” :  “Ameri-Cong là vì một số những người hoạt động phản chiến và kêu gọi hòa bình, họ tự xưng như thế. Mỹ-Cộng có nghĩa là những người Mỹ đồng quan điểm với Việt cộng, với công cuộc đấu tranh của cộng sản . Mỹ-Cộng và Việt cộng đều xem chủ nghĩa đế quốc Mỹ là kẻ thù chung.”
Trong sách, ông Roger Canfield có đề cặp tới việc Huê kỳ can thiệp ở Việt Nam là để ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản trong thời kỳ chiến tranh lạnh . Nhưng chúng tôi nghĩ nếu chiến lược “ be bờ ngăn cộng ” của Huê kỳ được đẩy mạnh thêm nữa thì chắc chắn ngày nay đã không còn tới bốn nước cộng sản tồn tại . Và Huê kỳ đã không bị thế giới lên án suốt 35 năm vì đã hoàn thành sứ mạng cao cả của mình .
Giải phóng hay lệ thuộc "


Trả lời phỏng vấn nhân ngày 30-04 năm 2008, ông Bùi Tín, sĩ quan cao cấp nhứt vào Dinh Độc lập ngày 30/04/75 nay là nhà báo tự do ở Paris, nói to cho mọi người ở Hà nội nghe rõ : “đất nước Việt nam ta sau ngày 30-4-1975 chưa được giải phóng và cũng chưa được thống nhất. Ngày 30-4 chỉ có đảng CS thắng, toàn dân vẫn thua, vẫn bị thống trị bới độc quyền đảng trị ”.
Vì theo ông, đảng Cộng sản ở Việt nam, sau 30-04-75, đã thực sự trở thành một đảng xâm lược thực hiện chính sách chiếm đóng và thống trị miền Nam, bỏ tù và quản thúc hàng triệu người dân, cướp đoạt tài sản của toàn dân, thanh toán ngay Mặt trận dân tộc giải phóng Miền nam, gây thảm cảnh hàng triệu thuyền nhân. Sau 30-4-1975, chỉ riêng duy nhất đảng CS cầm quyền, không cho ai lập hội, không cho một tư nhân nào ra báo, không có tự do ứng cử và bầu cử, đàn áp dã man những người tranh đấu đòi dân chủ, nhân quyền, đòi bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ, lãnh hải,… trước hiểm họa Bắc kinh xâm lược .
Trong Hội nghị Trung ương 12 ở Hà nội vừa qua, đảng cộng sản vẫn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa thật thảm hại, trong lúc Hội đồng châu Âu đã tuyên bố Chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội hiện thực do các đảng cộng sản ở Đông Âu và Liên-sô chủ trương từ 1945 đến 1991 là phi nhân tính, là thảm hoạ cho các dân tộc và tội ác chống nhân loại. Quốc hội Balan đã thông qua luật đặt chủ nghĩa cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, và coi việc tuyên truyền cộng sản là phạm pháp.
Tại các nước Đông Âu, nơi chủ nghĩa cộng sản từng ngự trị, ngày nay không có gì xấu, nhục bằng khi bị mắng nhiếc : " nói dối như cộng sản, lừa gạt như cộng sản! " . Cũng giống như ở Hoa kỳ, Canađa, Úc ...  ai bị vu cáo, chụp mũ là "tay sai Việt Cộng","Việt Cộng nằm vùng", có thể phát đơn kiện kẻ chụp mũ, và đã có phiên toà xét xử tuyên án phạt kẻ chụp mũ gần 100 ngàn đô-la, vì quan toà tôn trọng giá trị xã hội “coi Cộng sản như là một điều gì xấu xa, bẩn thỉu, tồi tệ, ghê tởm ” . Thế mà ngày nay, ở Việt nam lại còn một nhóm người “can đảm” ôm chặt con đường cộng sản ! Chỉ vì quyền lợi phe nhóm mà vô cảm trước quyền lợi tối thượng của đất nước !
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh hoàn toàn không có tư tưởng, chỉ “có công ” đem chủ nghĩa Mác-Lê về áp dụng ở Việt Nam nhằm đưa Việt Nam biến thành một bộ phận của quốc tế cộng sản . Hồ Chí Minh luôn luôn cúc cung tận tụy phục vụ Đệ III quốc tế . Lúc ký thỏa hiệp 6/3 đón tiếp thực dân Pháp trở lại, Hồ Chí Minh giải thích với cán bộ thân tín “ Thà bị lệ thuộc 5, 10 năm nữa còn hơn là độc lập trong tay các đảng phái quốc gia ”. Mục tiêu của Hồ Chí Minh trước sau không phải là dành lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền chọn lựa người lãnh đạo, quyền có luật pháp của mình và nếp sống của mình. Mục tiêu của ông ta là cưỡng bức nhân dân phải chấp nhận chế độ toàn trị kiểu Staline và Mao Trạch Đông do ông ta chọn lựa, với tất cả đặc điểm của nó : Những cuộc hành quyết không qua xét xử, trại tập trung, sự chà đạp nhân phẩm và áp dụng mọi cách trả thù bẩn thỉu trong “cải tạo”, bỏ dân chúng chết đói và đảng viên cầm quyền các cấp tự do tham nhũng vô tội vạ .
Khi phát động chiến tranh giải phóng, Hồ Chí Minh khơi dậy những khát vọng tự nhiên của con người : Khát vọng tự do, thịnh vượng, tiến bộ, độc lập dân tộc để rồi hướng tất cả ý nguyện ấy của toàn dân vào những mục tiêu hoàn toàn trái ngược để chỉ nhằm phục vụ cho đường lối cộng sản Đệ III quốc tế mà thôi . Dân tộc Việt Nam đã bị ông ta lợi dụng thâm độc. Khi quần chúng nhận  ra được sự lừa đảo thì đã quá muộn. Họ đã bị cầm tù . Chính quyền độc tài toàn trị  đã được thiết lập và nhà tù đã khóa chặt cửa . Thế là Hồ Chí Minh đã thành công biển thủ những tình cảm cao quý, những sự dấn thân và hi sinh của toàn dân trong kháng chiến cho mục tiêu riêng của ông ta .
Trước những tội ác chống nhân loại trong các cuộc Cải cách Ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, thảm sát Mậu thân, và bao nhiêu vụ thanh toán các đồng chí để bảo vệ địa vị lãnh đạo của mình, Hồ Chí Minh vẫn giữ vẻ lương tâm thanh thản, cả trong khi nêu lên những mặt tiêu cực của chế độ, như trong vụ Cải cách Ruộng đất ở Miền bắc, hay khi thừa nhận hành động sát hại nhà ái quốc Tạ Thu Thâu với ký giả Guérin .
Lịch sử là hệ quả không phải của những ý định con người mà là của hành đông của họ. (Hồ Chí Minh, con người và di sản, của Jean–François Revel,Việt nam Infos, số 36, ngày 25-05-2006, Paris). Mà hành động tội ác chống nhân loại sẽ phải được đem ra xét xử trước một Tòa án dân chủ vì đó là những tội bất khả thời tiêu .
Mất nước
Ngày nay, người dân trong và ngoài nước đều khẳng định đất nước đã thật sự lệ thuộc Tàu Bắc kinh . Nhưng thật ra Việt Nam đã bắt đầu mất về mặt chánh trị từ khi cộng sản Hà nội cai trị cả nước. Chế độ độc tài toàn trị đã cướp đoạt mọi quyền của dân thì người dân không còn làm chủ đất nước của họ. Hơn nữa, họ không làm chủ được mạng sống của họ nữa. Nay chỉ mất thêm lãnh thổ, biển vào tay ngoại bang. Nhưng trên quan điểm « cùng phe xã hội chủ nghĩa» thì Việt nam vẫn tồn tại trong không gian xã hội chủ nghĩa, vì Việt nam xã hội chủ nghĩa thì không có biên cương quốc gia. Cùng «Tổ quốc xã hội chủ nghĩa» với nhau . Vấn đề cầm quyền ở nơi này hay nơi nọ chỉ là sự ủy nhiệm mà thôi.
Trong lịch sử xưa nay, mất nước thường không do quân giặc mạnh, mà do lòng dân không biết hay không muốn giữ nước. Ngày nay, Việt nam bị mất vào tay giặc Tàu không vì lòng dân không biết giữ nước, mà vì người dân không có quyền giữ nước .
Ngày 30-04 nay không mang ý nghĩa gì khác hơn là ngày mất nước cho giặc Tàu trong tinh thần thỏa hiệp cùng phe xã hội chủ nghĩa anh em với nhau !                                            
Nguyễn văn Trần
(Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:  www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net)

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.