Hôm nay,  

Lãnh Đạo Đâu Rồi?

05/10/201000:00:00(Xem: 15946)

Lãnh Đạo Đâu Rồi"

Vũ Linh

...Newsweek: Lãnh đạo tại Tòa Bạch Ốc đã thất bại...
 
Khi cuộc tranh cử tổng thống còn đang diễn tiến, nhân vật Barack Obama thường bị chỉ trích như một người với một quá trình trắng tinh. Nhiều người dĩ nhiên e ngại một chính khách không có chút kinh nghiệm lãnh đạo, chưa có kinh nghiệm điều hành gì làm sao lãnh đạo cường quốc lớn nhất thế giới, làm sao có thể điều hành một bộ máy chính quyền phức tạp nhất thế giới, để lấy những quyết định vĩ đại ảnh hưởng đến vận mạng của cả nước Mỹ, thậm chí cả thế giới.
Những người ủng hộ Obama đã mau mắn phản bác bằng hai lập luận chính:
- Tổng thống là người có viễn kiến đứng trên đỉnh núi chỉ hướng đi cho mọi người, và các cộng sự viên của ông là những người hoạch định và thực hiện những kế sách và phương tiện đưa đất nước theo hướng đó. Obama là lãnh tụ có viễn kiến hơn người. Vấn đề chỉ là khả năng chọn cộng sự viên, tức là tài dùng người, để thực hiện viễn kiến đó hay không.
- Và bằng chứng hiển nhiên về tài dùng người của ông Obama là guồng máy vận động tranh cử, một guồng máy cực kỳ hữu hiệu đã đánh bại được hai guồng máy khổng lồ của bà Hillary Clinton và ông John McCain. Không phải là chuyện chơi. Nhất là khi ông Obama là người trước đây không ai biết đến, và không có một hậu thuẫn nào ngoại trừ một khối cử tri nhỏ bé trong tiểu bang Illinois.
Đó là những lời biện minh cho ứng viên Barack Obama.
Nhìn vào kinh nghiệm vận động tranh cử của ứng viên Obama, ông đã thành công tập hợp được một nhóm cố vấn và phụ tá thật tài giỏi và thuần nhất, tung ra một cuộc vận động tranh cử hữu hiệu chưa từng thấy trong lịch sử Mỹ. Điều này không ai chối cãi được. Nhưng sự thành công của nhóm người đó thật ra không khó lắm vì tóm lại chỉ gồm có vài ba người, đều quen biết với nhau từ lâu, đầy kinh nghiệm vận động tranh cử cho các ứng viên cấp tiến của Dân Chủ từ nhiều năm. Họ biết họ phải làm gì và cũng thân thiết với nhau, dễ thỏa thuận và phối hợp công tác với nhau.
Trong nhóm người đó, Obama là người “yếu” nhất, ít kinh nghiệm nhất, do đó, vai trò của ông chỉ giới hạn trong vai trò một ứng viên đi lòng vòng đọc diễn văn, mà nhất cử nhất động đều đã được nhóm tham mưu phụ tá soạn, duyệt, và quyết định trước. Ông đi đâu, lúc nào, làm gì, nói gì, gặp ai… tất cả đều do nhóm tham mưu trù tính.
Nghĩa là các quyết định cũng đều do nhóm phụ tá, cố vấn lấy, chứ không phải là của Obama. Do đó, nói là sự thành công của cuộc vận động tranh cử chứng minh tài “quản lý” một tổ chức quy mô của Obama là không hoàn toàn đúng. Sự thật là ông có được một ê-kíp rất giỏi để điều hành cuộc tranh cử đó, nếu không muốn nói là điều hành cả ứng viên Obama luôn.
Như vậy có nghĩa là sau khi đắc cử, ông Obama cũng sẽ kiếm được một ê-kíp thật giỏi để điều hành cả nước"
Câu trả lời là… chưa chắc.
Cho dù là trong cuộc vận động tranh cử, ứng viên Obama thực sự là người điều  hành từ đầu đến đuôi, không hề lệ thuộc vào nhóm tham mưu thì vẫn chẳng có gì bảo đảm khả năng đó sẽ được chuyển qua khả năng trị quốc. Điều hiển nhiên là điều hành một cuộc tranh cử, dù quy mô cỡ nào đi nữa, cũng không thể so sánh được với việc trị quốc, điều hành cả nước.
Trước hết là vấn đề nhân sự. Ban tham mưu, những người có quyền lấy quyết định hay góp ý kiến với ứng viên Obama trong cuộc vận động tranh cử, chỉ gồm một số người rất ít, đếm trên một bàn tay. Đúng ra chỉ có bốn người, coi như là “tứ trụ khai quốc”: quân sư David Axelrod, quản lý cuộc vận động (campaign manager). David Plouffe, và hai phụ tá Robert Gibbs và bà Valerie Jarrett. Sau này, khi cuộc vận động lớn mạnh thì có thêm nhiều người tham gia, phụ trách nhiều việc chuyên môn, như gây qũy, mở trang web, thảo chiến lược kinh tế, ngoại giao, quân sự, v.v… Nhưng căn bản vẫn chỉ là “tứ trụ triều đình”.
Ở đây, ta có thể nhìn thấy “điều hành” một nhóm bốn người, đều là bạn thân thiết quen biết nhau từ lâu, không là một vấn đề nhức đầu cho lắm, nhất là khi cả nhóm đều có sự thống nhất ý chí, cùng khuynh hướng cấp tiến, và cùng chia sẻ quan điểm về chiến lược chiến thuật.
Đến khi chuyển qua điều hành cả nước thì vấn đề trở nên phức tạp gấp bội.
Tổng thống không còn nói chuyện với bốn người nữa, mà hầu như là phải nói chuyện với bốn ngàn người.
Đối nội, trong hành pháp dưới quyền tổng thống là nội các với cả trăm bộ trưởng, thứ trưởng, giám đốc, phụ tá, “Sa hoàng” - là các cố vấn điều hành riêng một hồ sơ, một lãnh vực, như một ông/bà trùm.
Lại còn các tướng lãnh trong bộ máy quân sự của một quốc gia trong thời chiến. Họ nhận chỉ thị điều hành bộ máy, họ chỉ huy các đơn vị tác chiến và phải trình bày sự thật, như họ thấy ở tại chỗ, lên vị Tổng tư lệnh Tối cao, qua những cái lọc là ban tham mưu chính trị của Tổng thống. Cuốn sách của Bob Woodward về cách điều hành chiến tranh của ông Obama có cho thấy vai trò và cá tánh nhiều khi mâu thuẫn của ban tham mưu chính trị ở nhà và các tướng lãnh ngoài chiến tuyến.
Đối ngoại là từ hơn 500 nghị sĩ, dân biểu bên Quốc Hội, các thẩm phán bên Tối Cao Pháp Viện, đến 50 thống đốc, các lãnh tụ đoàn thể, tổ chức, khối thế lực trong đủ mọi ngành nghề, từ lãnh tụ nghiệp đoàn đến đại tập đoàn, nguyên thủ của khoảng 200 quốc gia trên thế giới trong đó có không ít kẻ thù của Mỹ, hoặc cấp lãnh đạo các tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Liên Hiệp Âu Châu, Ngân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế…
Hầu hết khối người này chẳng quen biết gì nhau mà lại hoàn toàn khác biệt ý chí, quan điểm và quyền lợi, ngay cả trong nội các. Và hầu hết cũng đều là những người leo lên đến thượng đỉnh nhờ có cá tính mạnh, có quyết tâm, có cái tôi thật lớn, không phải là loại người gọi dạ bảo vâng.
Tài dùng vài ba người bạn nếu có, là một chuyện. Khi phải làm việc với cả ngàn người không quen biết thì hoàn toàn là vấn đề khác, nhất là khi tuyệt đại đa số những người đó không phải do mình tuyển chọn. Làm sao dung hoà khối người ô hợp này, đáp ứng được quyền lợi khác biệt, nhiều khi tương khắc của họ" Đó là bí quyết quản lý nhân sự và khả năng lãnh đạo.
Ở đây, nhược điểm của TT Obama hiện rõ.
Trong suốt quá trình hoạt động chính trị, xã hội của ông, từ vai trò tổ chức cộng đồng đến nghị sĩ liên bang, ông chưa hề quản lý một nhóm nhân viên nào, chưa làm giám đốc một công ty nào. Từ trước đến lúc tranh cử, vỏn vẹn chỉ quản lý đúng một người là thư ký riêng của ông. Bây giờ phải trực tiếp quản lý một nội các vĩ đại, và làm việc với cả ngàn người.


Truyền thông cấp tiến có lúc đồng loạt chê bai bà Sarah Palin là tay mơ, trước khi làm thống đốc tiểu bang Alaska mà hươu nai nhiều hơn dân cư, chỉ làm thị trưởng một thành phố nhỏ xíu, mà dân số chưa bằng số người đi coi một trận football. Đúng vậy, nhưng truyền thông đó đã cố tình lờ đi cái mâu thuẫn của họ khi họ ủng hộ một Obama, chưa bao giờ làm tới cái chức thị trưởng nhỏ nhoi đó, hay thống đốc cái tiểu bang vắng như chùa Bà Đanh ấy.
Một điểm quan trọng hơn nữa. Lãnh đạo gồm có hai phần: một phần là tài dùng người, tuyển chọn những cộng sự viên có khả năng, tạo ra một không khí hợp tác, thuần nhất trong cả nhóm. Và phần kia, quan trọng hơn, là phải lấy quyết định cuối cùng.
Trong khối người hợp tác hay đối tác với tổng thống, dĩ nhiên là trăm người ngàn ý. Ngay trong nội các và khối phụ tá, cố vấn, khác biệt ý kiến là không tránh được. Cho dù quan điểm lập trường cùng một hướng, thì phương tiện, cách làm cũng có thể khác nhau một trời một vực. Họ sẽ đưa ra những ý kiến tương phản. Và người phải lấy quyết định tối hậu vẫn chỉ có một: đó là tổng thống.
Ở đây, hiển nhiên viễn kiến không chưa đủ. Hướng đi thì có đấy, nhưng bây giờ nhóm cố vấn chỉ ra nhiều đường đi đến, đường nào đúng, đường nào sai, đường nào trắc trở nhiều, đường nào chông gai ít" Người lấy quyết định trong cái rừng ý kiến đó chính là tổng thống. Và đây mới là thử thách thật sự về khả năng lãnh đạo.
Một phần khả năng lãnh đạo này có thể là năng khiếu thiên phú, nhưng phần lớn chính là kinh nghiệm tích lũy từ nhiều năm, qua nhiều thăng trầm, thành công và thất bại. Chẳng những phải lấy quyết định đúng, mà còn phải lấy quyết định để các cộng sự viên và đối tác phục tùng, chấp nhận và thi hành đúng như ý của lãnh đạo.
 Điểm bất lợi lớn cho TT Obama trong vấn đề này là hầu hết các đối tác và thuộc hạ của ông, trong và ngoài nội các, đều tràn đầy kinh nghiệm so với ông tổng thống tay mơ. Họ chấp nhận ông làm lãnh tụ tối cao vì tôn trọng nguyên tắc dân chủ, nhưng chưa chắc đã tâm phục, khẩu phục. Thái độ của tướng McChrystal, Tư Lệnh chiến trường Afghanistan là điển hình về sự coi thường tổng thống tay mơ và ê-kíp của ông.
Ê-kíp Obama làm việc như thế nào đã là đề tài cho cuốn sách mới nhất của nhà báo kỳ cựu Bob Woodward vừa nói ở trên. Ông này là người đã mở cuộc điều tra cùng với một đồng nghiệp về vụ Watergate đưa đến việc TT Nixon phải từ chức, và cũng là người đã viết bốn cuốn sách nặng nề chỉ trích chính quyền Bush trong hai cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan. Không ai có thể nói ông ta là phe Cộng Hòa.
Bây giờ, ông viết về “Những Cuộc Chiến Của Obama” (Obama’s Wars). Cuốn sách vừa xuất bản đã đưa ra hình ảnh một nội các Obama giống như… chợ cá, trong đó không có một thứ tự trật tự gì, tất cả các viên chức cao cấp nhất, từ Phó Tổng Thống đến các Giám Đốc CIA, FBI, các Bộ Trưởng Nội An, Quốc Phòng, Ngoại Giao, các Phụ Tá An Ninh Quốc Gia, Phụ Tá Đặc nhiệm khác, các tướng tư lệnh chiến trường, các đại sứ tại Iraq và Afghanistan… Họ cãi nhau như mổ bò, đá giò lái và kèn cựa nhau, rình rập nhau, sỉ vả nhau, đưa ra những quan điểm và lập trường hoàn toàn đối nghịch!
TT Obama hoàn toàn bất lực không hòa giải được ai hết, và cũng không biết phải quyết định như thế nào. Kết quả, trong vấn đề đôn quân tại Afghanistan, khi phe “diều hâu” đòi tăng thêm 40.000 quân và phe “bồ câu” chỉ chấp nhận 20.000 quân, thì TT Obama sau hơn ba tháng bóp trán suy nghĩ, bất chấp chuyện lính Mỹ chết mỗi ngày, đã đi đến quyết định “ba phải” nhất là “cưa đôi”, tăng 30.000 quân, và vừa đôn quân vừa ra hạn kỳ sẽ rút! Ba phải, nhưng chẳng bên nào hoan hô mà cả hai phe đều bất mãn! Cuối cùng đưa đến sự từ chức của tư lệnh chiến trường, tướng Mc Chrystal.
Thật ra cuốn sách của Woodward chẳng có gì mới, nó chỉ xác nhận điều mà rất nhiều người đã lo ngại ngay từ đầu: TT Obama hình như chưa sẵn sàng trả lời chuông điện thoại khẩn vào ba giờ sáng, đúng như bà Hillary đã tố khi còn tranh cử.
Hình ảnh ‘xào xáo gia cang” đó dĩ nhiên không chỉ giới hạn trong cuộc chiến tại Afghanistan, mà chắc chắn là hiển hiện trong mọi hồ sơ khác. Điển hình là vấn đề kinh tế khi mà ba viên chức cao cấp nhất về kinh tế đã ra đi: Giám Đốc Ngân Sách, Chủ Tịch Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia, và Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn Kinh Tế. Cả ba đều từ chức sau khi ngồi với nhau được một năm rưỡi, và sau khi đã thất bại không vực kinh tế dậy lại được. Ngay cả Chánh Văn Phòng (thật ra là Đổng Lý Văn Phòng có thẩm quyền như Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống của ta ngày xưa) Rahm Emanuel cũng đang tẩu vi, về kiếm chức Thị Trưởng Chicago, béo bở hơn mà lại ít nhức đầu.
Quân sư Axelrod cũng đã thông báo sẽ từ chức đầu năm tới. Báo “phe ta” Washington Post sau khi nhận định ông Axelrod bây giờ mới khám phá ra điều hành một chính quyền khác xa vận động tranh cử, đi đến kết luận là những hứa hẹn “thay đổi” của Obama chỉ phản ánh hoặc là tính ngây ngô (naiïve - không biết gì về những khó khăn thực tế) hay tính xảo trá (cynical - biết về những khó khăn nhưng vẫn hứa bừa để đắc cử) của Obama.
Dân Mỹ đã tỉnh mộng tuy hơi muộn. Thăm dò mới nhất của cơ quan Politico và Đại Học George Washington cho thấy trong 10 người Mỹ, chưa tới 4 người (38%) cho là TT Obama xứng đáng được bầu lại vào năm 2012, và 6 người sẽ không bỏ phiếu cho ông nếu ông lại ra tranh cử. Một thăm dò mới đây tại tiểu bang Ohio còn đưa ra kết quả lạ lùng hơn: 35% dân Ohio mong muốn TT Bush ra làm tổng thống trở lại! Đó là về dân đen.
Về các nhà bình luận và hướng dẫn dư luận thì trong khi Thomas Friedmann, khét tiếng cấp tiến, nêu thắc mắc “Lãnh Đạo Đâu Rồi"” (Where Is The Leadership")  bỉnh bút cấp tiến là bà Eleanor Clift nhận định trên Newsweek: Lãnh đạo tại Tòa Bạch Ốc đã thất bại (I think there’s been a failure of leadership in this White House. May lắm thì còn Maureen Dowd của tờ New York Times, không thể ngợi ca lãnh tụ được, nàng thủ vai Phàn Lê Huê tấn công phe đối lập để cứu giá. Bao giờ Maureen cũng bỏ chạy như những người kia thì ta biết là thành phần ưu tú ở trên đã tỉnh mộng,
Con tầu đang chìm, thủy thủ đang tháo chạy - kể cả các nhà bình luận cấp của Washington Post, New York Times, Newsweek... Họ chúc thuyền trưởng ở lại may mắn. (3-10-10).
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng mỗi Thứ Ba trên Việt Báo.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.