Hôm nay,  

Thi Đua Tự Do Ngoại Thương

11/07/200700:00:00(Xem: 9532)

...nếu Việt Nam cải cách chậm lụt thì sẽ lại xếp hàng và làm công cho họ...

Hôm Thứ Sáu mùng sáu, nhân chuyến thăm viếng Ấn Độ, khi Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nói đến việc nâng cấp quan hệ Việt-Ấn lên hàng đa diện và chiến lược, thì cùng ngày, các Bộ trưởng của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương APEC tuyên bố tại Australia rằng nếu vòng đàm phán Doha của Tổ chức WTO không ra khỏi bế tắc, hội nghị Thượng đỉnh của APEC vào tháng Chín này sẽ khởi động thiết lập vùng Thương mại Tự do trong khu vực Á châu Thái bình dương.
Hai biến cố trên đã khiến dư luận thế giới và Đông Á chú ý đến một hiện tượng hợp tác kinh tế khác, là các Hiệp định Thương Mại Tự do giữa các nước. Vì vậy, Diễn đàn Kinh tế đài RFA kỳ này sẽ đề cập tới nguyên do và hậu quả của hiện tượng đó qua phần trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện hầu quý thính giả nghe đài.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trong chuyến viếng thăm Ấn Độ tuần qua, Thủ tướng Việt Nam là ông Nguyễn Tấn Dũng đã hứa hẹn là Việt Nam sẽ cải thiện và tạo ra một môi trường thuận lợi cho đầu tư và ngoại thương để tiến tới một quan hệ mang tính chiến lược và đa diện giữa hai nước. Cùng ngày Thứ Sáu mùng sáu đó, Diễn đàn APEC họp tại Australia cũng nói đến nỗ lực hợp tác của 21 nước hội viên trong khu vực châu Á Thái bình dương nhằm xây dựng vùng Thương mại Tự do Á châu Thái bình dương nếu như vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO không ra khỏi bế tắc.

Chúng ta đều biết, từ đầu năm nay Việt Nam đã là hội viên thứ 150 của WTO, và cũng là hội viên của Diễn đàn APEC - một khối kinh tế đóng góp tới 60% sản lượng kinh tế, và 50% ngạch số ngoại thương thế giới, nhưng trong đó không có Ấn Độ. Như vậy, quan hệ song phương của Việt Nam với Ấn Độ và chiều hướng tự do ngoại thương mở rộng của APEC để thay thế WTO có thể là một trào lưu đáng chú ý hay không"

Chúng ta có thể dành toàn bộ chương trình kỳ này để nói đến hiện tượng đó hầu nhìn ra cái thế chiến lược của Việt Nam trong các hồ sơ toàn cầu và cục bộ hay song phương của từng nước. Nhưng trước khi đề cập tới việc ấy, có lẽ cũng nên nhắc tới một chi tiết đáng chú ý. Đó là việc công ty tư vấn PriceWaterhouseCoopers vừa công bố một kết quả khảo sát về chỉ số hấp dẫn của các thị trường họ gọi là "đang lên", từ 20 xứ đang phát triển.

Sở dĩ đáng chú ý vì họ đánh giá thấp triển vọng của bốn thị trường nổi tiếng và đông dân nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga. Thấp hơn triển vọng của Việt Nam trong lãnh vực chế biến công nghiệp, tức là Việt Nam còn hấp dẫn hơn Trung Quốc và Ấn Độ tại Á châu! Về ngành dịch vụ hay tài chính, bốn đại gia ấy đều thua sáu nước nhỏ hơn như United Arab Emirates - là Cộng đồng các Tiểu vương quốc Á Rập Thống nhất - hay Saudi Arabia, Nam Hàn, Cộng hoà Tiệp hay Hungary và Ba Lan.

Bối cảnh ấy khiến chúng ta cần lượng định lại triển vọng của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác đang trở nên phức tạp hơn giữa các nước. Vì phức tạp nên ta cần tìm hiểu cho kỹ.

Hỏi: Mở đầu việc tìm hiểu là chuyện APEC, là một diễn đàn hợp tác kinh tế của vòng đai Á châu Thái bình dương, từ Đông Á qua tới Nam Bắc Mỹ. Vì sao, diễn đàn APEC muốn lập ra một chế độ thương mại tự do giữa 21 nước hội viên"

Trên diễn đàn này, ta nhiều lần nói đến hiện tượng gọi là "trâu chậm uống nước đục" của Việt Nam khi gia nhập quá trễ Tổ chức Thương mại Thế giới WTO mà vòng đàm phán Doha do tổ chức này khởi xướng từ cuối năm 2001 đã không vượt nổi những mâu thuẫn về quyền lợi của các hội viên giàu nghèo nên cho đến nay vẫn lâm vòng bế tắc, không mở rộng được sự hợp tác tự do về thương mại và đầu tư giữa các nước.

Trong khung cảnh ấy, nhiều hội viên của WTO đã tìm giải pháp hợp tác để thay thế, hoặc là hợp tác song phương, điển hình là các Hiệp định Tự do Thương mại Song phương gọi là FTA mà Hoa Kỳ đã vừa ký kết với Nam Hàn, hoặc là hợp tác cấp vùng, giữa các nhóm quốc gia với nhau. Việc các Bộ trưởng Thương mại của 21 hội viên APEC của Á châu Thái bình dương muốn nhân Thượng đỉnh tháng Chín tới sẽ đề xướng đợt thảo luận mới để lập ra khu vực tự do thương mại gọi là Free Trade Area of the Asia Pacific hay FTAAP cho thấy những giới hạn của cơ chế WTO và những bài toán mới cho Việt Nam.

Hỏi: Nhưng liệu cơ chế thu hẹp của APEC là FTAAP có hy vọng thành hình không nếu như các nước đã bị bế tắc vì vòng Doha của cơ chế WTO"

Tất cả là tùy ở trọng lượng của các quốc gia đối tác. WTO có 150 hội viên và 31 nước quan sát viên nhưng bị bế tắc chủ yếu do những mâu thuẫn quyền lợi giữa các nước như Ấn Độ hay Brazil và nước Pháp trong Liên hiệp Âu châu. Ba quốc gia ấy không thuộc khối APEC, là một nhóm quốc gia trong đó có ba nền kinh tế đứng đầu thế giới là Mỹ, Nhật và Trung Quốc và đang muốn mở rộng hợp tác. Khi ba xứ này đạt thoả thuận trong khuôn khổ APEC, các hội viên khác sẽ dễ dàng ngả theo. Đó là lý do thành công thứ nhất.

Lý do thứ hai là ở vòng ngoài, nhiều hội viên APEC khác như Australia, Nam Hàn, Singapore và cả Malaysia đều cũng muốn mở rộng quan hệ ngoại thương theo xu hướng tự do hơn, chưa kể là Australia đang chuyển về tương lai của xứ này là Á châu và trở thành đầu cầu về đầu tư từ các doanh nghiệp Hoa Kỳ và Âu châu vào châu Á.

Lý do thứ ba là Ấn Độ - một trở lực đáng kể của vòng Doha - lại có xu hướng Đông Tiến, tiến về phía Đông của Á châu, và đang muốn gia nhập APEC nên sẽ dễ dàng mở rộng sự hợp tác với 21 hội viên còn lại của Diễn đàn này. Việc Ấn Độ muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam cũng nằm trong chiều hướng ấy.

Hỏi: Ngoài ra ông còn thấy những yếu tố thành công nào khác chăng"


Một lý do đáng kể thứ tư là các xứ nghèo thường khó chịu với những điều kiện do các nước công nghiệp hoá đặt để ra cho họ. Nhưng, trong một khuôn khổ hợp tác khác, để bảo vệ môi sinh và ngăn chặn nạn nhiệt hoá địa cầu, các nước nghèo của khu vực Á châu Thái bình dương đã thấy ra một tiền lệ thuận lợi về hợp tác trong đó chủ điểm là đầu tư và chia sẻ công nghệ tiên tiến giữa các nước để tiết giảm khí thải. Phương pháp ấy là cách hợp tác hấp dẫn hơn những quy định đầy tính hạn chế của Nghị định thư Kyoto.

Ngoài ra, cũng nên nói đến một lý do thuận lợi ngoài kinh tế là Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á ASEAN đã không thể giải quyết một vấn đề nội bộ là tình trạng độc tài của một hội viên là Myanmar hay Miến Điện. Các nước Đông Bắc Á cũng bị bó tay về những chuyện phiêu lưu đầy rủi ro của Bắc Hàn. Nếu APEC tiến tới một chế độ hợp tác kinh tế tự do và đạt tốc độ phát triển cao hơn thì các nước trong khu vực cũng tìm ra động lực hấp dẫn hơn cho hai chế độ ngang ngược này suy nghĩ về sự chuyển hoá. Điều ấy là một yếu tố mà Nam Hàn đang vận động, và Việt Nam nên suy xét cho quyền lợi dân mình.

Hỏi: Ông vừa nhắc đến trường hợp Nam Hàn vì liên hệ đến chế độ cộng sản Bắc Hàn, riêng trong lãnh vực hợp tác kinh tế, Nam Hàn đã làm những gì mà Việt Nam nên chú ý"

Trong vòng 20 năm, kể từ khi Việt Nam bắt đầu đổi mới, Nam Hàn đã đổi mới gấp hai, vì vừa cải tổ kinh tế vừa cải cách chính trị để có nền kinh tế tự do hơn và chế độ chính trị dân chủ hơn. Ngày nay, Nam Hàn đang có ảnh hưởng khá mạnh tương lai kinh tế lẫn văn hoá và cả của Việt Nam vì là một tấm gương Việt Nam muốn nói theo, trước hết là về phần kinh tế.

Thật ra, trong khi Việt Nam vừa đổi vừa sợ, Nam Hàn đã tiến những bước quá xa, vượt xa Việt Nam đến gần một thế kỷ trong có mấy chục năm. Riêng về địa hạt mà Việt Nam đang tự hào là mở cửa giao thương với các nước thì từ năm 2004, họ đã ký kết Hiệp định Thương mại Tự do FTA với xứ Chile ở Nam Mỹ, năm sau ký với Singapore. Đầu tháng sáu năm nay họ vừa thực hiện việc đó với chín trong 10 nước ASEAN rồi cuối tháng là ký Hiệp định FTA với Hoa Kỳ trong khi chuẩn bị đàm phán một hiệp định tương tự với Trung Quốc. Những đối tượng kế tiếp mà Nam Hàn đang theo đuổi là Liên hiệp Âu châu, là Australia, Canada, New Zealand và cả Nghị hội
các nước Á Rập tại vùng Vịnh.

Trong hoàn cảnh ấy, nếu Việt Nam cải cách chậm lụt thì sẽ lại xếp hàng và làm công cho họ, trong khi dân chúng chẳng có quyền tự do bằng dân Nam Hàn.

Hỏi: Ông đang trở lại hoàn cảnh của Việt Nam. Đâu là những chọn lựa chiến lược của xứ này trong bối cảnh Á châu đang đẩy mạnh cải cách để hợp tác tự do hơn về kinh tế"

Trong kỳ trước, chúng ta đã nói đến một cơ hội cho Việt Nam trong quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ khi vẫn cứ đắn đo về sức hút của Trung Quốc. Chúng ta cũng nói đến sự kiện là nhiều nước Đông Á khác đang tìm một giải pháp điền thế hay bổ xung cho việc đầu tư hay giao thương với Trung Quốc, mà Việt Nam có thể là một. Sự kiện một công ty tư vấn có uy tín là PriceWaterhouseCoopers đánh giá Việt Nam có ưu thế về chế biến hơn cả Trung Quốc lẫn Ấn Độ là điều đáng mừng vì gia tăng khả năng khai thác cơ hội mới.

Tuy nhiên, nhìn trên viễn cảnh xa của toàn cõi Á châu, Việt Nam vẫn sẽ thua kém các trung tâm lớn về dịch vụ và công nghệ cao như Seoul tại Nam Hàn, Đài Bắc hay Hong Kong và Singapore, thậm chí cả Bangkok, Jakarta hay Kualar Lumpur của mấy xứ Đông Nam Á. Tức là họ đang tiến tới các bậc thang cao hơn của tiến trình sản xuất và giao dịch.

Hỏi: Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam cần làm gì"

Vì việc tự do hoá luồng trao đổi kinh tế - cả ngoại thương lẫn đầu tư - là xu hướng tất yếu, Việt Nam không nên đi chậm trong việc cởi mở xã hội và tự do hoá đời sống cho người dân. Nếu không, ta vẫn sẽ đi sau các nước nhờ duy nhất một lợi thế là nhân công rẻ. Lợi thế đó không bền và gây bất công xã hội. Phải nghĩ đến lợi thế cao hơn, là trình độ tổ chức và sản xuất của một thành phần lao động có tay nghề cao và tinh thần làm việc lương thiện, đáng tin cậy. Muốn như vậy, cùng với việc tranh thủ đàm phán các hiệp định thương mại tự do, Việt Nam phải cải tổ lại hệ thống chính trị, giáo dục và đào tạo. Và đấy là cách đảm bảo an ninh vững chãi nhất trong khu vực, ở bên cạnh Trung Quốc.

Hỏi: Xin hỏi thật, ông có lạc đề không mà nói đến chuyện an ninh trong hợp tác kinh tế"

Hoàn toàn không! Ngày xưa, ông Lý Quang Diệu của xứ Singapore đã phát biểu rằng đảo quốc tý hon của ông không sợ ngoại xâm vì là nơi đóng góp rất nhiều cho sự thịnh vượng kinh tế của các xứ khác. Mai này, Nam Hàn cũng bớt ngại võ khí hạch tâm của Bắc Hàn hay cả tranh chấp quân sự giữa Nhật Bản với Trung Quốc - là vấn đề đang khiến Tokyo quan tâm - nếu Seoul trở thành trung tâm kinh tế Đông Bắc Á còn mạnh hơn Singapore trong tiến trình sản xuất và trao đổi. Dường như các nước đều đang tranh đua để trở thành những đối tác kinh tế khó thay thế hay uy hiếp được qua các hiệp định tự do thương mại.

Nhưng, có nhiều cách đóng góp cho sự thịnh vượng của các nước để bảo vệ nền độc lập của mình. Muốn như vậy, Việt Nam phải nghĩ đến Sàigon hay Cam Ranh Đà Nẵng với tư thế khác và khả năng khác, hơn là một trung tâm gia công biến chế hay du lịch tình dục cho các nước giàu. Mà để dân chúng phải biểu tình vì chuyện đất đai như đang xảy ra trong Nam không là giải pháp đáng khen của hệ thống lãnh đạo hiện nay: nó chỉ lập lại một hiện tượng tiêu cực của Trung Quốc vì có cùng chung một nguyên nhân từ chế độ chính trị. An ninh của Tổ quốc lẫn danh dự của quốc gia đòi hỏi một lối suy tư khác về quyền lợi và sự độc lập của dân tộc, và cả sự sống còn của hệ thống chính trị.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.