Hôm nay,  

Hồi Kẻng Lui Quân

13/07/200700:00:00(Xem: 9267)

Lịch sử có thể ghi là Mỹ thất trận tại Iraq vào tháng Sáu 2007, tại hậu phương...

Trước hết, hãy mở cuốn lịch ra mà xem.

Đầu năm 2007, Tổng thống Bush đề nghị một chiến lược khác cho Iraq, với một bộ chỉ huy mới và hai vạn quân được tăng phái để diệt trừ khủng bố và phiến loạn trong các ùng chiến lược nhất, quanh Baghdad và tại hang ổ miền Bắc của các nhóm khủng bố sống trà trộn trong cộng đồng Sunni.

Chiến lược ấy thành công hay không, thời gian mới trả lời. Tư lệnh chiến trường Iraq là Đại tướng David Petraeus dự đoán là đến tháng Chín mới tạm biết được. Đâm ra, ông đặt ra thời hạn cho Quốc hội Dân chủ lấy đó làm cái mốc để gõ kẻng. Cái mốc thời gian đó là ngày 15 tháng Chín tới đây.

Điều không ai hiểu nổi là vì sao một siêu cường số một về quân sự phải mất một khoảng thời gian quá lâu như vậy (năm tháng) để đưa hai vạn quân vào Iraq. Quyết định đôn quân của ông Bush chỉ hoàn tất vào ngày 15 tháng Sáu, khi ngần ấy đơn vị đều bắt đầu có mặt tại chỗ để hoàn thành nhiệm vụ đề ra từ tháng Giêng.

Nghĩa là thành tích thắng bại của họ được thẩm định đúng ba tháng sau khi có khả năng ra tay, từ 15 tháng Sáu đến 15 tháng Chín. Các nhà quân sự phải tìm ra câu giải đáp cho nghịch lý này.

Trong khi chờ đợi, trên thế giới, và tại Hoa Kỳ, chưa khi nào có một cuộc chiến mà các đơn vị chiến đấu lại bị chính trường ở nhà chòm chõm  tính điểm hơn thua như cú nhòm nhà ma sau vỏn vẹn ba tháng hành quân. Mà lại là một cuộc chiến sinh tử cho nước Mỹ - chưa nói gì cho toàn khu vực Trung Đông và các nước Hồi giáo không muốn ngả theo xu hướng quá khích của quân khủng bố.

Nước Mỹ đang trình diễn một hài kịch vô tiền khoáng hậu cho thế giới, cho các quân đội khác, và cả lực lượng khủng bố lẫn kẻ thù gần xa.

Người ta không thể chờ đợi gì hơn từ đảng Dân chủ, vốn bị sức ép rất mạnh từ xu hướng phản chiến trong cơ sở đảng ở bên dưới. Mà bên trên thì chỉ nhìn thấy cuộc tranh cử 2008 là đáng kể. Từ nay đến đó, càng bó tay Chính quyền Bush là họ càng có hy vọng thắng cử, vào Toà Bạch Cung lẫn Quốc hội. Nội chi tiết ấy cũng đủ khiến Hoa Kỳ không xứng đáng lãnh đạo thế giới. Một chứng minh ngược về giá trị của nguyên tắc dân chủ trong thời chiến.

Nhưng, từ trong đảng Cộng hoà, tình hình cũng chẳng khá hơn.

Trước sau đã có hơn một tá Nghị sĩ Cộng hoà cắt chiếu đoạn tuyệt với Tổng thống Bush vì hồ sơ Iraq. Đảng Cộng hoà vốn chỉ có 49 ghế Nghị sĩ tại Thượng viện và năm người đã buông ông Bush từ trước. Từ bốn tuần qua có thêm chín người bỏ cuộc (bảy người nội trong tuần này).

Xưa nay, đảng Cộng hoà vẫn được tiếng là cứng rắn và đáng tin hơn đảng Dân chủ về các vấn đề an ninh hay quốc phòng (như đảng Dân chủ đáng tin hơn về các vấn đề xã hội). Chiều hướng ấy nay đã hết mà không nhờ công đảng Dân chủ. Đó là do sự thất bại của Chính quyền Bush và các lãnh tụ Cộng hoà.

Thất bại đầu tiên là về thông tin và tuyên truyền trong nội bộ nước Mỹ trước và trên thế giới - nhất là trong thế giới Hồi giáo.

Ngôi sao sáng về truyền thông - thông tin và tuyên truyền cho ông Bush - là bà Karen Hughes đã làm gì từ khi lo việc thông tin cho bộ Ngoại giao trong khối Hồi giáo" Chúng ta không biết - mà dân Hồi giáo cũng vậy!
Việc chính quyền Bush báo động về sự hồi sinh của al-Qaeda - bị tiết lộ trước rồi xác nhận sau vào hôm qua - là một thảm kịch.

Nếu tình báo Mỹ xâm nhập được vào cơ sở của al-Qaeda, tại Afghanistan hay trong vùng biên giới giữa xứ này với Pakistan, thì việc báo động là một sự rồ dại. Nếu đã biết thì cứ việc ra tay, nhất là khi xu hướng Hồi giáo cực đoan đang quậy phá ngay tại Pakistan với vụ xung đột tại ngôi đền đỏ, một lò đào luyện cán bộ quá khích và đặc công khủng bố. Cớ chi báo động để báo trước cho đối thủ"



Phải chăng vì Chính quyền Bush muốn nhắc nhở dư luận - và các đảng viên Cộng hoà đang trôi dần theo phe phản chiến - rằng quốc gia đang ở trong thời chiến và kẻ thù al-Qaeda sẽ có thể còn tấn công nữa, như Tổng trưởng Nội an Michael Chertoof gián tiếp xác nhận vào hôm kia" Nếu đúng như vậy thì chẳng riêng gì đảng Dân chủ mà cả Chính quyền Cộng hoà cũng đang chơi trò chính trị với một vấn đề sinh tử ở giữa thời chiến!

Hoa Kỳ lâm chiến tại Afghanistan để diệt trừ al-Qaeda và phá vỡ chỗ tựa của al-Qaeda là chế độ Taliban, chế độ ấy đang hồi sinh và al-Qaeda có thể lại ra đòn nữa!

Hoa Kỳ lâm chiến tại Iraq để dằn mặt các xu hướng Hồi giáo quá khích và cho thấy quyết tâm bảo vệ các nước hay các phe Hồi giáo ôn hoà. Bốn năm sau, chính Hoa Kỳ bị cô lập, y như ông Bush ở nhà, và các nhóm Hồi giáo quá khích nhất đều tái xuất hiện, bành trướng hoạt động, dù có hay không có liên hệ gì tới al-Qaeda, gây nội chiến tại Palestine, khuynh đảo xứ Lebanon và làm lung lay chế độ Pervez Musharraff - đồng minh của Mỹ tại Pakistan.

Ngay trong Chính quyền Bush, người ta e rằng các giới chức hữu trách cũng khó phân biệt được đòn phép hay cán bộ của Taliban với al-Qaeda, nói chi tới dư luận quần chúng! Thành tích chống khủng bố toàn cầu là như vậy chăng"

Điều kinh hãi nhất là hồ sơ Iraq có thể đang ngã ngũ, nhờ triển vọng dàn xếp giữa Washington và Tehran về tương lai của Iraq và của cả khu vực Trung Đông.

Khi Hoa Kỳ bị suy yếu đến cùng cực như hiện nay, vì Quốc hội Dân chủ nhất quyết kéo cờ trắng và được sự toa rập của một số nhân vật Cộng hoà, Tehran có lý do gì nhượng bộ không" Một cách hợp lý, các Giáo chủ Iran sẽ đòi tối đa để chiếm phần hơn tại Iraq khi Mỹ phải tháo chạy.

Tuy nhiên, Tehran cũng có thể già đòn mà tính ngược: thà là đạt một số thoả thuận với Chính quyền Bush hiện nay còn hơn là đi lại từ đầu cả tiến trình thương thảo (đã khởi sự từ ba năm nay) với một tân Tổng thống sẽ nhậm chức vào ngày Thứ Ba 20 tháng Giêng năm 2009. Kinh nghiệm xử lý với vị Tổng thống bạc nhược Jimmy Carter năm 1980 có thể dạy họ điều ấy.

Với một điều kiện.

Là người kế nhiệm ông Bush vào năm 2009 phải là một nhân vật cứng cựa và dám chơi bạo về an ninh như Ronald Reagan.

Trong đảng Dân chủ hiện nay, ta chưa thấy khuôn mặt đó trong số ứng viên Tổng thống. Nhân vật quả cảm và đáng sợ bên các ứng viên Cộng hoà là Nghị sĩ John McCain thì vừa bị tai nạn trong ban tham mưu tranh cử và ngày càng ít hy vọng được qua khỏi vòng loại vào đầu năm tới. Ông là người đáng kính và đáng sợ, nhưng chưa chắc là dân Mỹ đã cho là đáng lên lãnh đạo!

Cho nên, chính là những nhược điểm nội tại của nước Mỹ đang khiến kẻ thù của Mỹ sẽ thừa thắng xông lên. Mất hết hậu thuẫn từ phe ôn hoà bên đảng Dân chủ, ông Bush chỉ còn trông cậy vào cánh bảo thủ bên đảng Cộng hoà. Phe bảo thủ về tôn giáo thì đã bỏ ông từ lâu, phe bảo thủ về kinh tế thì thất vọng vì ông mạnh tay tăng chi và không dám phủ quyết những đề nghị ngân sách đầy lãng phí của Quốc hội. Còn lại, phe bảo thủ về an ninh thì thất vọng tràn trề về những gì đang xảy ra tại Iraq.

Ông Bush mất chỗ tựa, Hoa Kỳ mất luôn sự khả tín - hay đáng sợ - trước thế giới.
Và các chiến binh Mỹ tất nhiên không vui khi sẵn sàng hy sinh ngoài chiến tuyến nhưng lại bị hậu phương ở nhà đòi cúp đạn và đánh kẻng lui quân.

Họ mang tâm trạng của Nhạc Phi tại tiền tuyến, với hậu phương có quá nhiều Tần Cối!

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.