Hôm nay,  

Giao Trứng Cho Ác

28/06/200800:00:00(Xem: 9681)
‘Vào Ra Không Kể’ là kinh tế chính trị học... kiểu Hà Nội...

Khi chẩn đoán kinh tế Việt Nam, các nhà nghiên cứu đều nói đúng bệnh - chuyện không khó - mà lại không mó ra tật, là việc khó hơn nếu họ chưa hiểu được "kinh tế chính trị học Hà Nội".

Vì vậy, chúng ta cần nhìn lại, từ đầu, và từ trên xuống.... 

Việt Nam mất hơn 10 năm thương thuyết để xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Cuối cùng, năm 2007 là lúc giong buồm ra khơi, khi đã hềt trò chơi ngăn sông cấm chợ. Việt Nam ăn mừng là được hội nhập vào luồng trao đổi kinh tế toàn cầu. Đa số dân chúng đều mừng, chỉ một thiểu số được ăn.

Cả thế giới ngợi ca biến cố lịch sử ấy, rằng rốt cuộc rồi Việt Nam cũng giã từ ảo vọng cộng sản chủ nghĩa và mở cửa làm ăn với thế giới văn minh. Cả thế giới vẫn sai: "làm" là công việc của đại đa số, "ăn" là lợi thế của một thiểu số.

Sự hiểu lầm ấy là phổ biến, nhưng cần được nhắc nhở hoài hoài khi ta phân tách các triệu chứng khủng hoảng kinh tế hiện nay.

***

Nhìn trên mệnh giá, bạc mặt và ở ngoài da, các nhà nghiên cứu kinh tế đều có thể phán xét -không sai - rằng một năm sau khi gia nhập kinh tế Việt Nam đang bị điêu đứng vì một lượng tiền quá lớn đã được trút vào một cơ chế kinh tế quá lỏng lẻo, với chánh sách tài chánh bất cập.

Chúng ta cần diễn giải nhận xét ấy cho dễ hiểu:

Năm 2007, sự lạc quan thái quá của Chính quyền Hà Nội, của các nhà đầu tư ngoại quốc và của cả người Việt ở hải ngoại đã trút tiền về Việt Nam, khiến xứ này tiếp nhận một nguồn tiền lớn lao chưa hề có trong lịch sử. Nguồn tiền ấy là ngoại tệ, chủ yếu là đô la, giúp cho cán cân chi phó của Việt Nam. Cán cân chi phó là kết số thu chi bằng ngoại tệ, gồm cán cân thương mại - sai biệt của xuất nhập cảng - và các khoản thu khác, như đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài, viện trợ chính thức của quốc tế, và tiền bạc người Việt từ bên ngoài gửi về Việt Nam.

Trong các khoản thu này, lớn lao và đáng kể nhất là tiền bạc của người Việt, mà Hà Nội gọi là kiều hối. Nếu phiên dịch cho đúng thì đấy là sự... hối lỗi của Việt kiều, vào năm 2008. Nhưng, hãy tạm hoãn nói về sự hối lỗi đó... để giải thích tiếp về những bất cập của cơ chế và chánh sách.

Trong các năm 2005 và 2006, cán cân chi phó của Việt Nam được thặng dư khoảng 5-6% tổng sản lượng nội địa GDP. Tổng sản lượng nội địa GDP là tổng số sản vật và dịch vụ được sản xuất thêm trên lãnh thổ Việt Nam trong một năm, là tổng số xuất lượng khấu trừ các nhập lượng của từng chặng sản xuất, và cả sai biệt về xuất nhập cảng. Nói cho nôm na là trị giá gia tăng do cả nước làm ra trong một năm. Qua năm 2007, hiệu ứng lạc quan vì viễn ảnh WTO khiến xứ này đón nhận quá nhiều tiền và đạt mức thặng dư khoảng 25% tổng sản lượng nội địa.

Giới tài chánh quốc tế ước lượng số thặng dư đó của năm ngoái khoảng hơn 17 tỷ đô la. Trong số ấy, lượng "kiều hối" của bà con gửi về giúp thân nhân xây dựng đất nước lên tới 10 tỷ - xin đừng quên yếu tố này khi người viết gọi đó là sự hối lỗi! Phần còn lại là đầu tư trực tiếp (như lập nhà máy tại Việt Nam) và đầu tư gián tiếp (mua tài sản tại Việt Nam, thí dụ như cổ phiếu, để kiếm lời) và viện trợ chính thức.

Ngoại tệ tràn vào như nước có thể đóng góp cho sản xuất - vốn là mục tiêu lý thuyết và nguyên thủy. Nhưng trước khi tăng gia sản xuất thì đã gây ra vấn đề: làm đồng bạc Việt Nam lên giá. Tiền Việt Nam lên giá khiến hàng Việt Nam đắt giá và khó cạnh tranh trên thị trường xuất cảng. Làm sao giải quyết vấn đề dù sao cũng rất cổ điển này, nhất là khi đô la đang mất giá đều trên thị trường quốc tế"

Việt Nam can thiệp vào thị trường hối đoái (hay "ngoại hối", nói theo người Hà Nội), và thực tế là đánh ngược sóng thị trường, bằng cách bơm ra tiền đồng để thu vào tiền Mỹ. Bơm ra tiền đồng là mặc nhiên gây lạm phát tiền tệ vì có quá nhiều tiền chạy theo một số sản vật nhất định. Đó là chuyện năm ngoái, như hồi tháng Năm, khi 112 tỷ bạc được bơm ra với hy vọng thu vào bảy tỷ đô la ngoài chợ. Ngân hàng Trung ương của Việt Nam phải thi hành cái việc ngặt nghèo đó, và nhằm tránh lạm phát, năm nay phải vừa bơm tiền ra vừa cố hút tiền vào (phát hành trái phiếu, vay tiền trên thị trường ngỏ, và nâng dự trữ pháp định của các ngân hàng), với một cơ chế lỏng lẻo là hệ thống ngân hàng.

Việc vừa phóng tiền ra vừa hút tiền vào như vậy không đạt kết quả. Một trong nhiều nguyên nhân là lãi suất tiền đồng cao hơn lãi suất của đồng Mỹ kim cất trong khối dự trữ. Phí tổn đó, Ngân hàng Trung ương phải lãnh, nên... ngần ngại thi hành. Vì sao Ngân hàng Trung ương lại lãnh trách nhiệm quái đản và mâu thuẫn này là một phần khác của kinh tế chính trị học Hà Nội. Quái đản vì Ngân hàng Trung ương không chu toàn được trách nhiệm chính là kiểm soát hoạt động của hệ thống ngân hàng và là điều tiết khối lượng tiền tệ lưu hành trong nước. Mâu thuẫn vì chế độ hối đoái của Việt Nam giàng giá đồng bạc vào Mỹ kim theo một tỷ giá cố định do nhà nước ấn định và chỉ điều chỉnh rất ít.

Chưa hết!

Trong nhiều năm liền, hệ thống ngân hàng (đa số, tính theo tài sản và lượng tín dụng, vẫn là quốc doanh) của Việt Nam hồn nhiên bơm tiền vào kinh tế với khối tín dụng được cấp phát bừa bãi và gia tăng trung bình chừng 32% một năm. Qua năm 2007, người ta không chỉ hồn nhiên mà còn tích cực cho vay, với khối tín dụng cấp phát gia tăng hơn 50%, đa số lại là loại nợ bấp bênh, khó đòi và dễ mất. Trên toàn cõi Đông Á, dư nợ tín dụng của Việt Nam lên tới mức kỷ lục tính theo lợi tức một đầu người, và vượt quá 90% tổng sản lượng GDP.

Một hệ thống ngân hàng non yếu, thiếu vốn và kém khả năng mà lại huy động một nguồn tín dụng quá lớn như vậy thì chẳng khác gì cho đứa trẻ lái xe có phân khối cao được thoải mái tống ga. Và tất nhiên gây ra tai nạn, là chuyện sẽ nói sau.

Trước hết, nguồn tiền ấy được phân bố không đúng nơi, chủ yếu là chảy vào túi những kẻ có chức có quyền và thổi lên các trái bóng đầu cơ từ chứng khoán tới địa ốc. Chuyện ai làm và ai ăn là như vậy - cho tới ngày bóng bể.

Từ 167 điểm năm 2003, chỉ số VN Index của thị trường chứng khoán Sàigon tăng vọt lên đỉnh cao 1.170 điểm vào tháng Ba năm 2007. Xin vài chi tiết giải thich thêm: giá trị một cổ phiếu tùy thuộc vào khả năng sinh lời và chia lời của công ty phát hành (là số cổ tức chia cho các cổ đông) và chi phối trị giá. Trị giá cổ phiếu trên thị trường chia cho cổ tức là chỉ số PE, một thước đo về triển vọng sinh lời. Trong có ba tháng đầu năm ngoái, chỉ số PE của các công ty yết giá tại Sàigon đã tăng 50 lần nên ai ai cũng nói tới việc chơi stock! Vay tiền ngân hàng với lãi suất âm - vì thấp hơn lạm phát - để đi vào một thị trường tăng giá gấp năm chục lần trong vài tháng thì ai không ham"

Sống trong bong bóng là như vậy. Nhưng không phải ai ai cũng được hoàn cảnh đó. Chỉ có nửa triệu người sinh sống trong thành phố mới có khả năng mơ mộng như vậy, nhưng thủ thuật khớp lệnh để tính giá mua bán trên thị trường này khiến một thiểu số đại gia là có lời lớn khi sóng triều lên. Khi đó, đa số cò con còn lại thì chỉ được ngửi mùi hương - rồi lỗ thật khi trái bóng đầu cơ bị bể, là chuyện đáng lẽ ai cũng phải thấy từ trước. Khốn nỗi, sự thiếu am hiểu và lòng tham đã làm mờ mắt nhiều người, một khía cạnh khác của chuyện hối lỗi.

Khi nói Việt Nam đã mất cả chục tỷ trên thị trường chứng khoán người ta quên không hỏi là ai được" Trên thị trường gọi là hơn bù kém này (quy luật "zero sum game"), khoản lỗ của đám đông khờ dại là số lời của thiểu số tinh ma. Thiểu số ấy là ai"

Không chơi stock, người ta đẩy tiền qua thị trường địa ốc khiến thị trường này tăng giá gấp đôi. Câu nói "tấc đất tất vàng" phải được hiểu theo nghĩa đen, vì nhà cửa và phòng ốc tại các thành phố lớn đã đắt giá hơn cả các trung tâm kinh doanh Đông Nam Á. Rồi trái bóng ấy cũng đang bể.

Trở lại chuyện ngân hàng và đứa trẻ lái xe chạy bậy. Tai nạn mà đáng lẽ ai cũng phải thấy trước là nạn lạm phát ngày nay - mà người nghèo đói là nạn nhân đầu tiên. Ngày nay, người ta cứ hay đổ lỗi cho nạn lạm phát toàn cầu vì thương phẩm (nguyên nhiên vật liệu và nông sản) lên giá đồng loạt. Trước khi đó, cơ chế và chánh sách của Việt Nam đã tự gây hoạ cho mình! 

Việt Nam bị lạm phát tiền tệ ở vế cung vì đẩy ra một lượng tiền dư dôi quá nhiều, trước khi lãnh họa lạm phát nhập cảng từ vế cầu, là phải mua hàng đắt giá hơn. Các chuyên gia kinh tế giải thích như vậy, nhưng nói cho nôm na dễ hiểu thì Việt Nam bị lạm phát vì chính quyền dốt nát mù mờ. Mò mẫm mãi rồi họ mới chịu nâng lãi suất nửa vời vì vẫn chỉ là lãi suất âm. Loay hoay mãi giữa hai nhu cầu bơm và hút, họ gây ra tình trạng quái đản là tiền chảy đầy sông mà tín dụng ngân hàng bị cạn kiệt, nhiều doanh nghiệp không vay được tiền để sản xuất, để kinh doanh!

Làm và ăn khác nhau là ở đó!

***

Nhưng bài toán ấy chưa đủ phức tạp vì chúng ta phải trở lại nguyên ủy của vấn đề. Là ngoại tệ.

Khi tiền vào như nước vì hiệu ứng hồ hởi của WTO, một số người có chức có quyền đã như bị... đồng nhập: họ nhập cảng bừa phứa. Tiền rẻ với lãi suất hạ khiến tín dụng gia tăng ào ạt, tính đến tháng Ba năm nay là khi khủng hoảng bùng nổ thì tín dụng đã tăng hơn 60% quy ra toản năm, cao gấp rưỡi số gia tăng ký thác, nghĩa là lạm phát sẽ còn hoành hành. Trong sáu tháng đầu năm đã tăng gần 27%. Đối giá của hiện tượng đó là nạn nhập cảng, tăng hơn 70% kể từ đầu năm nay, và người ta không chỉ nhập cảng máy móc hay nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất mà còn rất nhiều sản phẩm phù du khác. Kể cả vàng! Ngày nay, khi dân chúng mua vàng thì họ mặc nhiên bỏ phiếu... bất tín nhiệm chính quyền, cơ chế và chánh sách kinh tế đầy bất trắc của Việt Nam.

Nhưng không phải ai ai cũng có quyền xin giấy phép nhập cảng như vậy. Rất nhiều doanh nghiệp trong hệ thống nhà nước có độc quyền thi hành việc đó, kể cả các doanh nghiệp tự xưng tư doanh được thiết lập ở các nước Đông Nam Á. Đấy là những máy bơm tiền... ra ngoài và trưng thu hoa hồng hay sai biệt hối suất ở giữa. Hậu quả là kinh tế bị nhập siêu, nhập nhiều hơn xuất, và tròn trịa làm sao, mức nhập siêu đó đã lên tới 17 tỷ, là số thặng dư của năm ngoái. Còn thặng dư chi phó của năm nay" Đã tan theo ngày nắng vội.

Xin đọc lại một chút: vì hồ hởi với viễn ảnh WTO, người ta đã trút tiền vào Việt Nam, ngày nay lượng tiền ấy chảy ra ngoài, và đem lại lợi ích cho một số doanh nghiệp hay cá nhân ngồi vào vị trí trung gian để chuyển hoá tiền từ nhập thành xuất. Làm và ăn khác nhau là ở đó. Bây giờ, yêu cầu họ tôn trọng kỷ luật chi thu và giới hạn nhập cảng thì ai nghe" Chủ tịch Allan Greenspan nổi tiếng của Hoa Kỳ và thế giới mà có ngồi vào vị trí Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì cũng phải bó tay.

Vì ông không là Trung ương Ủy viên hoặc có thân tộc ngồi trong bộ Chính trị.

***

Chuyện kinh tế chính trị học ấy hơi khó hiểu nên cần giải thích thêm.

Mọi kinh tế gia "vô can" đều có thể khuyên Việt Nam một số biện pháp kinh điển và cổ điển là 1) xiết chặt tiền tệ bằng cách nâng lãi suất, cả lãi suất huy động ký thác lẫn lãi suất cho vay; 2) tiết giảm công chi, nhất là công chi cho các dự án phù du của nhà nước và 3) giới hạn hoạt động phi kinh tế và kém hiệu năng của doanh nghiệp nhà nước.

Nhưng, dù xuất phát từ các thầy thuốc đại tài, phương thuốc ấy không ngăn được bệnh kinh tế vì không giải quyết được cái tật chính trị bên dưới, trong cơ chế chính trị của Việt Nam.

Vì quyền lợi của họ, thiểu số có chức có quyền sẽ cản trở hoặc không chấp hành, thậm chí phá hoại những biện pháp đúng đắn này. Nếu có cách chức Thống đốc Ngân hàng Trung ương, thay thế Bộ trưởng Tài chánh và Phó Thủ tướng đặc trách kinh tế tài chánh (nguyên bộ trưởng Tài chánh thời hồ hởi đã qua), thậm chí có cho Thủ tướng về vườn về mọi lý do linh tinh thì vẫn không giải quyết được vấn đề. Vì những người tân nhậm sẽ tiếp tục phục vụ cơ chế ấy, với những chánh sách quái đản cố hữu.

Niềm hy vọng duy nhất còn lại là chuyện "thiên hạ đồng thọ", là khi thị trường phán xét thì mọi người cùng chết. Đây là một sự bi quan nhuốm mùi lạc quan!

***

Năm 1997, thị trường đã một lần phán xét khiến khủng hoảng hối đoái bùng nổ tại Thái Lan vào ngày hai tháng Bảy, rồi lây lan qua Đông Nam Á, chạy ngược lên Đông Bắc Á thành khủng hoảng kinh tế Đông Á. Khủng hoảng lan tiếp qua Nga, qua Brazil và dội về New York.... Hàng loạt chính quyền đã bị đổ, đảng cầm quyền thất cử, các chính quyền mới phải cải tổ lại cơ chế và thay đổi từ chiến lược phát triển tới chánh sách kinh tế tài chánh, v.v....

Trong cuộc khủng hoảng đó, con thuyền Việt Nam mới chỉ mon men ở chốn ao hồ nên không trực tiếp bị sóng đánh, và đó là nhờ thiên tài của đảng. Bây giờ, con thuyền manh đó đã giăng buồm ra khơi nên sự thể sẽ khác khi thị trường tính sổ, thành ra thiên tai cho dân.

Cách đây ba tháng, giới quan sát kinh tế tài chánh quốc tế ước đoán rằng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam ở khoảng 23 tỷ 600 triệu Mỹ kim. Tuần qua, Việt Nam long trọng công bố để trấn an dư luận, rằng mình có khối dự trữ ngoại tệ khoảng hai chục tỷ. Phần sai biệt hơn ba tỷ có thể là lầm lẫn kế toán trong cõi âm dương mù mờ của bí mật nhà nước. Nhiều phần là nhờ tài phù phép của những người trong cuộc!

Khi loan báo rằng mình có tấm nệm khá dày như vậy, bằng bốn năm tháng nhập cảng, người ta cho rằng đấy là yếu tố an toàn. Nhưng, nếu so sánh với trường hợp Thái Lan năm 1997, thì tấm nệm đó chỉ là mảnh bè nát. Tức là nguy cơ khủng hoảng vẫn còn đó, có thật và tai hại vô lường.

Đó là phần bi quan của kịch bản. Tuy nhiên, như trong truyện "Tái ông thất mã", nếu khủng hoảng bùng nổ, may ra Việt Nam có cơ hội bằng vàng để cải tổ cơ chế. Đó là phần lạc quan.

Một thí dụ lý thuyết: nếu một chính quyền Đông Á mà bị khủng hoảng như Việt Nam thì phải mở ra bốn hướng cải cách sau đây: 1) trước tiên là chấn chỉnh hệ thống ngân hàng và thị trường tài chánh cho lành mạnh hơn; 2) kế tiếp là kiện toàn hạ tầng cơ sở cứng và mềm của xứ sở ("cứng" là hạ tầng vật chất cho môi trường sản xuất, "mềm" là hạ tầng luật lệ của môi trường kinh doanh), 3) cấp bách nâng sao năng suất lao động nhờ đầu tư rất mạnh vào... cái đầu, tức là cải cách giáo dục và đào tạo; và 4) sau cùng mà trên hết, giải quyết những bất công trong cơ chế và xã hội để nâng cao lợi tức và quyền tự do cho quảng đại quần chúng bình dân.

Nếu Việt Nam có tự do và dân chủ thì một đảng chính trị đối lập có thể sẽ đưa ra chương trình tranh cử gồm bốn điểm ấy với hy vọng sẽ đem lại một tương lai khác cho người dân. Nhưng, đó là phần lạc quan của chuyện rừng thỏ lông rùa.

Vì sẽ để đảng Cộng sản vào đâu"

Chuyển viển vông ấy không thể có nên mới nói là bi quan. Nhưng, lạc quan chừng nào, đây lại là thời thịnh đạt cho việc tẩu tán tài sản. Thiểu số đã kiếm lời rất nhiều trong thời nhá nhem vừa qua có thể là kém hiểu biết (ignorant), chứ không ngu (stupid). Tài sản họ dày công tích lũy được mà cứ để nằm đó thì sẽ bị thị trường quét sạch, hay bị phe bên kia cướp hết. Cho nên cũng phải lên đường vượt biên! Khi khủng hoảng Thái Lan bùng nổ, tư bản đã tháo chạy ào ạt, lần này cũng vậy mà thôi.

Khi nhìn vào vòng quay của đồng tiền - lượng "kiều hối" từ bên ngoài trút vào đang được thiểu số đảng viên cán bộ phù phép thổi ra ngoài - ta có quyền tự hỏi về yếu tố hối lỗi trong kiều hối. Nay đang tuôn chảy ra ngoài sau khi đã được rửa cho sạch.

Một kinh tế gia như Allan Greenspan có thể cóc biết điều ấy. Mà cũng chẳng cần biết. Nhưng chúng ta thì nên biết vì kinh tế chính trị học kiểu Hà Nội giúp ta hiểu ra quy luật kinh tế đạo đức học là "giao trứng cho ác"!

Còn than nỗi gì"

Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.