Hôm nay,  

Câu Chuyện Được, Thua

12/08/200900:00:00(Xem: 6007)
CÂU CHUYỆN ĐƯỢC, THUA
TRẦN PHONG VŨ
(Nhân bài viết của linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh.)
Từ trong nước, linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh, đã gửi cho cá nhân tôi (đồng thời, ngài cho biết cũng đã gửi cho VietCatholic) bài viết mới nhan đề: “Tam Tòa: Chuyện Nhỏ"” Trong Email hồi âm, tôi hứa với cha là sẽ giới thiệu với độc giả Diễn Đàn Giáo Dân trên số 94 phát hành tháng 9-2009.
Đọc đi đọc lại bài viết, như một phản ứng của vô thức, tôi không khỏi suy tư, trăn trở và tự thấy có trách nhiệm phải bày tỏ đôi điều. Trước hết để tạ lòng tác giả, một linh mục già thuộc dòng Thánh Phanxicô khó khăn, hiện đang sống cô đơn, tù túng trong vòng kiềm tỏa của một chế độ bất khoan dung tôn giáo, giữa những bất trắc nghi kỵ -không chỉ với bày lang sói thù nghịch Giáo hội…, vậy mà cha vẫn gạt bỏ mọi tị hiềm để can đảm lên tiếng. Thứ đến để một lần nói lên những suy tư chân thực, thẳng thắn của mình trước nỗi đau chung của Giáo hội và Quê hương, Đất nước hôm nay.
LM Nguyễn Ngọc Tỉnh đã nói gì"
Trước hết cha nói tới những phản ứng ngoạn mục của mọi thành phần Dân Chúa trong giáo phận Vinh, từ giám mục, linh mục đoàn tới cảnh tượng “nối vòng tay lớn” của 500 ngàn giáo dân thuộc 18 giáo hạt với ngót 200 giáo xứ trong giáo phận qua những buổi cầu nguyện vào những ngày cuối tháng 7, đầu tháng 8-2009. Tiếp theo là hình ảnh “người người hiệp thông” ở trong cũng như ngoài nước, sau khi Tam Tòa dậy sóng (công an nhà nước dùng bọn côn đồ hành hung giáo dân, phá bàn thờ, cướp thánh giá. Và máu giáo dân, máu linh mục đã đổ ra trên phần đất này).
Nói về một “sự im lặng đáng sợ”, linh mục tác giả viết: “Trong khi ở trong nước cũng như từ nước ngoài, các tín hữu bày tỏ tình hiệp thông với Tam Toà như vừa nói ở trên, thì ở trong nước các giám mục hoàn toàn im hơi lặng tiếng, khiến nhiều người ngạc nhiên…”
Ngược về quá khứ, cha đề cập một điều mà ngài nghĩ là may mắn cho Tam Tòa vì kể từ năm 2006 giáo xứ này được tháp nhập vào giáo phận Vinh, nếu không sẽ khó tránh khỏi số phận hẩm hiu của Thiên An, nếu còn nằm trong giáo phận Huế! Cha cũng bàn sâu vào lời tuyên bố không trọn ý của đức cha Nguyễn Văn Hòa với tư cách chủ tịch HĐGM về nội dung câu trả lời xấc xược của Nguyễn Minh Triết với giới truyền thông nước ngoài liên hệ tới vụ án bịt miệng linh mục Nguyễn Văn Lý năm 2007. Ngài cũng nói tới phản ứng chung chung, mang tính giáo điều của đức cha Nguyễn Văn Nhơn, đương kim chủ tịch HĐGM trong văn thư gửi nhà nước về những quy kết của giới cầm quyền đối với đức TGM Ngô Quang Kiệt và hàng linh mục, tu sĩ, giáo dân TGP Hànội trong vụ tòa Khâm sứ và giáo xứ Thái Hà. Từ đấy, cha gợi nhớ tới những lời lẽ quyết liệt, đanh thép, nghiêm khắc lên án cơ chế “Xin-Cho” trong một văn kiện của HĐGMVN được công bố năm 2002.
 Đề cập những “chuyện nhỏ, chuyện lớn”, tác giả nhắc tới vụ Bôxít nổ ra trong khi các GM chuẩn bị chuyến đi “ad limina”; vụ Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, vụ tòa Khâm Sứ, vụ Thái Hà trước đây và trường hợp giáo dân Tam Tòa bị bách hại hiện nay… đã bị lu mờ (nếu không muốn nói là bị quên lãng) vì niềm mơ ước thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Hànội, triển vọng Đức Thánh Cha thăm Việt Nam và việc sửa soạn mừng Năm Thánh 2010. 
Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh nêu lên nghi vấn: “Chẳng biết có phải đây là lý do khiến các giám mục Việt Nam giữ miệng làm thinh như ta đang chứng kiến"”
Rồi người mục tử già dòng Thánh Phanxicô Khó khăn suy nghĩ tiếp:
“Hồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Va-ti-can, có người bảo: sắp có bang giao giữa Toà Thánh và Việt Nam rồi. Tôi nói với mấy người bạn: Cứ chờ đi. Hồi Hội nghị Pa-ri, phải mất 6 tháng mới thoả thuận được về hình thù của cái bàn hôi nghị, thì nay các phái đoàn của Toà Thánh cứ việc đi đi về về mòn cả dép, chưa chắc gì đã có bang giao. Điều này xem ra đúng. Mà giả như nay mai có một vị sứ thần Toà Thánh ở Hà Nội, thì ta cũng chớ vội mừng: thử hỏi tại thủ đô Hà Nội, ông đại sứ của cường quốc số 1 là Hoa Kỳ, đã làm được gì để chính quyền cộng sản Việt Nam bớt độc tài, thối nát" Còn chuyện đức giáo hoàng sang Việt Nam, thì trong hoàn cảnh bình thường, có người tín hữu nào lại không mong điều đó. Nhưng trong hoàn cảnh thực tế, có lẽ mơ điều đó chỉ là mơ chuyện hão huyền. Và giả như để có được một cuộc viếng thăm như thế, cái giá phải trả là ngậm miệng làm thinh mặc cho các nhà đấu tranh cho dân chủ cứ nối tiếp nhau vào tù, mặc cho chuyện khai thác Tây Nguyên cứ việc tiếp tục, dù chẳng lợi lộc gì về kinh tế, môi trường bị huỷ hoại, an ninh quốc phòng bị xâm phạm, nguy cơ tiếp nối “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu” là không tránh khỏi, mặc cho ngư dân ở nhà thì chết đói, mà ra biển thì bị tàu Trung Quốc tấn công, v.v… Cái giá phải trả thật là quá cao so với niềm vui được đón tiếp đức giáo hoàng. Điều ta còn phải lo âu là nếu lãnh đạo tôn giáo vì muốn yên thân lo việc đạo mà nhắm mắt làm ngơ cho bạo quyền mặc sức lộng hành, phỉ báng sự thật, bóp chết tự do, chà đạp công lý, thì liệu đạo Chúa Ki-tô trên đất nước này có còn là men trong bột, là muối cho đời nữa chăng"”
Trước khi kết thúc, cha viết:
“Là công dân Việt Nam, tôi thấm thía nỗi đau của người nông dân bị cướp đất, của ngư dân phải ở nhà nhịn đói, không dám đi ra biển, của những trí thúc muốn xây dựng đất nước, nhưng chỉ vì dám nghĩ khác đảng cộng sản mà phải vào tù. Là tín hữu Chúa Ki-tô, tôi xót xa khi thấy anh chị em đồng đạo ở Thái Hà, ở Tam Toà bị bách hại. Nhất là tôi thất vọng trước vẻ thờ ơ lạnh lùng của những bậc cha mẹ của tôi trong đời sống đức tin. Nhưng tôi an tâm vững chí khi nhớ lại lời ông Moóc-đo-khai nói với hoàng hậu Ét-te: “Đến lúc này mà con vẫn cứ ngậm miệng làm thinh thì người tín hữu sẽ nhận được sự trợ giúp và giải cứu từ một nơi khác” (Et 4,14)”.
Nghĩ về chuyện Được, Thua
Tiền nhân chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm về chuyện khôn-dại, còn-mất, sống-chết, được-thua ở đời. Luận về lẽ “dại, khôn”, một nhà thơ viết:
Khôn nghề cờ bạc là khôn-dại,
Dại chốn văn chương, ấy dại-khôn
Các Phúc âm nhất lãm đều nhắc lại câu nói mang giá trị chân lý ngàn đời của Chúa Giêsu: “Hạt lúa có thối rữa, có chết đi mới trổ sinh nhiều bông trái”. Trong lời Kinh Hòa Bình, Thánh Phanxicô Xaviê viết: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Và trước phút giây bước lên đoạn đầu đài, anh hùng Nguyễn Thái Học đã nói một câu để đời khi luận về giá trị đích thực của hai chữ thành-bại trong kiếp nhân sinh:
“Không thành công, nhưng cũng thành nhân”.
Ứng dụng vào cảnh ngộ Giáo hội và Quê hương Việt Nam đưới chế độ vô thần ác độc cộng sản hôm nay, chúng ta nhận ra rất nhiều chứng tá cho thấy những chỉ dấu tuồng như mâu thuẫn qua những trường hợp tưởng THUA nhưng lại ĐƯỢC, trái lại không ít những lúc tưởng ĐƯỢC nhưng lại THUA. Mà là THUA ĐẬM. Thua đến mất hết cả chì lẫn chài!

Đời sống và cung cách hành sử của đức cha Philipphê Nguyễn Kim Điền, cố TGM giáo phận Huế là một thí dụ. Trường hợp cha Tađêô Nguyễn Văn Lý hiện nay là một thí dụ khác. Đánh giá bằng sự luận đoán qua con mắt đời thường, cả đức cha Điền và linh mục Lý đều thất bại, nói cách khác, đều thua đậm. Trong hai năm 1975-1976, cố TGM Huế đã thất bại trong nỗ lực sống tinh thần hợp tác với chế độ mới bằng thành tâm, thiên chí muốn góp phần mình vào công cuộc xây dựng lại đất nước sau nhiều thập niên bị chiến tranh tàn phá. Nhưng bàn tay của ngài đưa ra đã không được đảng và nhà nước CSVN nắm lấy. Trái lại chi là những xuyên tạc, những mưu chước lọc lừa dối trá. Sau khi phát hiện bộ mặt thật của một chủ nghĩa bất khoan dung, kỳ thị tôn giáo, chống lại con người, ngài quyết liệt khước từ mọi thỏa hiệp giai đoạn . Cuối cùng ngài đã chết một cách bí ẩn, tăm tối. Nhưng giống như hạt lúa có thối rữa, có chết đi mới trổ sinh hoa trái, sự hy sinh của đức cha Nguyễn Kim Điền đã không vô ích. Thái độ sống chan hòa, ngay thẳng và cung cách hành sử trong suốt trong sứ vụ chủ chiên của ngài đã trở thành tấm gương chói sáng cho nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân trong tổng giáo phận Huế noi theo. Người đầu tiên mạnh dạn bước theo chân thày mình chính là linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý. Kế tiếp là nhiều vị trong linh mục đoàn Huế, trong đó nổi trội hơn hết là hai linh mục Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải. Trong vài năm gần đây, cùng với cha Chân Tìn, các linh mục này đã kết hợp thành “Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền” tiếp tục dấn bước trên con đường đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho công bằng lẽ phải và cho nhân quyền, nhân phẩm Việt Nam.
Về phần linh mục Nguyễn Văn Lý, quan sát dọc dài cuộc đời của cha từ sau tháng tư năm 1975 đến nay, tuồng như lúc nào cũng chỉ là những thua thiệt, cay đắng và thất bại! Hết ra tù vào khám nhiều phen lại bị tước đoạt tự do bằng những năm dài quản thúc trong họ đạo, không được hành sử chức năng của người mục tử. Lần cuối cha bị kết án 8 năm tù trong một phiên tòa bịt miệng ngày 30-3-2007. Ngoài nỗi khổ ê chề thể xác, cha còn phải chịu đựng những dằn vặt về tinh thần: bị bôi xấu, bị bỏ rơi, bị hạ nhục, không chỉ bởi kẻ thù mà còn bới chính những bạn bè, kể cả bề trên của mình!
Bằng cái nhìn trần tục, linh mục Nguyễn Văn Lý đã thua đậm, đã thất bại nặng nề. Nhưng với nhãn quan hiểu biết và những cảm nhận sâu thẳm từ tâm linh, cha đã thành công, đã thắng lớn. Sau đức cố TGM Nguyễn kim Điền, sau cha Tađêô Nguyễn Văn Lý, dưới nhiều hình thức, cách thế khác nhau, cả một thế hệ linh mục, tu sĩ –cách riêng các linh mục, tu sỉ Dòng Chúa Cứu Thế- và hàng hàng lớp lớp tín hữu giáo dân đã đứng dậy. Đứng dậy ở tòa Khâm Sứ. Đứng dậy ở giáo xứ Thái Hà. Và hôm nay họ đang can trường đứng dậy ở Tam Tòa và 18 giáo hạt, ngót 200 giáo xứ thuộc giáo phận Vinh.
Như thế, đức cha Philipphê Nguyễn Kim Điền cố TGM giáo phận Huế tuy đã ra người thiên cố hơn hai thập niên trước, nhưng thực tế, ngài vẫn đang sống, sống lừng lẫy, sống chan hòa giữa lòng Giáo hội Việt Nam hôm nay. Và linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý dù đang bị vây hãm trong bốn bức tường nhà tù cộng sản, nhưng ý chí bất khuất của cha, lòng ham chuộng tự do, công lý và tinh thần yêu mến Giáo hội, yêu mến Quê Hương, Dân Tộc của cha vẫn đang bay bổng, vẫn đang hiện diện một cách sống động trong lòng mọi người.
Cũng như hàng trăm ngàn tiền nhân tử đạo xưa, cố tổng giám mục Nguyễn Kim Điền và linh mục Nguyễn Văn Lý đã nhận rõ được con đường phải đi của những con người có tinh thần trách nhiệm trong đạo ngoài đời, thực tâm yêu Chúa, yêu đạo, yêu đất nước, yêu sự thật, sự lành thánh và cái đẹp trong đời sống, không hề màng tới chuyện hơn thua, thành bại theo cái nhìn vị kỷ đời thường, khi dấn thân trong vai trò ngôn sứ.
Và một cách nào đó, cung cách hành sử chức năng mục tử giữa đoàn chiên của đức cha Ngô Quang Kiệt, TGM giáo phận Hànội trong vụ tòa khâm sứ, vụ giáo xứ Thái Hà,  và của đức cha Cao Đình Thuyên, giám mục giáo phận Vinh trong biến cố Tam Tòa hiện nay, ít nhất cũng mang một giá trị biểu tượng, chứng tỏ, dù trong cô đơn, trong nghịch cảnh, vẫn có những mục tử kiên cường bất khuất, luôn trung thành với Tin Mừng của Đấng Cứu Thế.
Đôi lời tạm kết
Đọc bài viết mới của cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh từ trong nước gửi ra, suy nghĩ về tâm sự của ngài, bất giác người viết những dòng này không khỏi liên tưởng tới nội dung cuốn phim “Les Missions” và bản phúc trình gửi về Tòa Thánh của các giám mục địa phương sau đó. Và để thay cho lời kết, xin tóm tắt vài dòng nội dung cuốn phim bất hủ này:
Phim thuật lại quang cảnh hãi hùng man rợ khi đoàn quân viễn chinh của thực dân da trắng mở cuộc tấn công vào các bộ lạc da đỏ. Các linh mục Thừa Sai (Les Missions) đang âm thầm thi hành tác vụ truyền giáo bên cạnh các sắc dân da đỏ khi ấy có hai thái độ chọn lựa.
* Thái độ thứ nhất: đứng hẳn về phía các nạn nhân người da đỏ, sát cánh với họ trực diện chống lại những hành vi gian ác của thực dân.
* Thái độ thứ hai: khước từ bạo lực, áp dụng phương thức đấu tranh ôn hòa, bất bạo động bằng những lời cầu nguyện: nài xin Thiên Chúa hoán cải tâm hồn chai đá của kẻ ác và thêm sức mạnh cho các nạn nhân.
Nhưng cuối cùng, với thái độ dã man và với sức mạnh áp đảo của vũ khí, bọn thực dân đã hung hãn mở cuộc tấn công và tiêu diệt tất cả bao gồm nạn nhân các bộ lạc người da đỏ và các nhà truyền giáo.
Trong bản phúc trình gửi về Tòa Thánh của hàng giám mục địa phương sau đó, người ta đọc được đoạn sau đây:
‘Hàng giáo sĩ trong số các Thừa Sai đã đứng ra bênh vực người da đỏ, chống lại thực dân. Có người mạnh dạn dùng bạo lực, có người đối kháng bằng phương thức ôn hòa qua lời cầu nguyện.
Cả hai nhóm giáo sĩ đều đã chết.
Họ đã chết, nhưng dường như họ vẫn sống.
Còn chúng tôi, hàng giám mục thì vẫn còn đang sống.
Chúng tôi đang sống, nhưng dường như chúng tôi đã chết!’
Nam California, Hoa Kỳ ngày 04-8-2009
TRẦN PHONG VŨ
GHI CHÚ:
1-  Đức cha dứt khoát phủ nhận sự hiện diện của cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước Việt Nam, nghiêm khắc cấm ngặt các linh mục, tu sĩ trong giáo phận gia nhập tổ chức này, trừng phạt những giáo sĩ tham gia Hội Đồng Nhân Dân các tỉnh thị do nhà nước lập ra. Hậu quả của thái độ cương quyết ấy là đức cha Điền đã bị công an cô lập, “mời làm việc” trong ba tháng trời ròng rã và bị cấm đoán, làm khó dễ trong suốt hơn mười năm cho đến chết ngày 08-6-1988, một cái chết mờ ám với nhiều nghi vấn. (Tìm đọc “Hai diện mạo, một tấm lòng” của TPV từ trang 605 đến trang 649 trong tuyển tập “Ba Mươi Năm CGVN Dưới Chế Độ CS 1975-2005” với nhiều tác giả do nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân và PT Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại ấn hành).

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.