Hôm nay,  

Sự học & tiền bạc

17/09/201100:00:00(Xem: 6743)

Sự học & tiền bạc

Đinh Yên Thảo

Một dịp được nghe anh bạn kể rằng, đứa con trai 9 tuổi của anh khi mỗi ngày đều nghe cha mẹ nhắc nhở phải ráng học hành, có lần đã hỏi ngược lại rằng:

- Tại sao con phải học thật giỏi"

Anh trả lời:

- Để sau này có thể kiếm được thật nhiều tiền.

Cậu bé không chịu ngừng ở đó, khi tiếp tục các câu hỏi với cha:

- Nhiều tiền để làm gì"

Dù đã bắt đầu khó trả lời, nhưng anh vẫn kiên nhẫn:

- Để khỏi làm việc cực như ba mẹ. Để con muốn mua thứ gì cũng được, đi chơi đâu cũng được...

Ở tuổi đã có lý luận, bắt bẻ lại những điều được nghe, cậu bé “bắt bí” cha mình:

- Nhưng bây giờ công việc của ba mẹ cũng “ok” hay mua được nhiều thứ và đi chơi được mà.

Anh bạn này thú nhận rằng, anh không biết phải trả lời ra sao và làm cách nào để thuyết phục trọn vẹn cho đứa con trai hiểu về chuyện phải chăm chỉ học hành, khi đối đáp chỉ dừng lại ở đó.

Câu chuyện kể của anh bạn này đã ở trong tôi rất lâu, vì nó đại diện cho một suy nghĩ, quan niệm tương đối phổ biến trong một số người Việt chúng ta, mà chắc rằng chính bạn có lần đã được nghe đâu đó. Với riêng tôi, lại càng không phải lần đầu, lần thứ nhì hay lần thứ ba... Vì cũng trong một dịp khác, một đồng nghiệp gốc Việt khác lại than phiền về cậu con trai trưởng thành của mình rằng “cứng đầu, cứ đòi theo học báo chí thì lấy gì mà sống” (!"). Hay nếu có dịp đã đọc qua các cuộc phỏng vấn những đạo diễn trẻ gốc Việt tại hải ngoại, bạn sẽ thấy họ có chung một câu trả lời đại loại rằng “Ban đầu, cha mẹ không đồng ý khi tôi theo học điện ảnh”. Hoặc qua internet, nếu theo dõi tin tức quốc nội trên trang Tuổi Trẻ Online, bạn sẽ bắt gặp cuộc tranh luận binh chống khá hào hứng hồi tháng qua, bắt đầu từ suy nghĩ của một em học sinh thủ khoa giải bày trên mặt báo rằng, vì đam mê trong lãnh vực sinh hoá nên em quyết định theo học ngành Canh Nông nhưng đã bị cha mẹ bác bỏ, thậm chí cho là “bị thần kinh” vì không chọn trường Y hay Kinh Tế mà em đã thi đậu.

Trong khi suy nghĩ và nhìn nhận về sự học, tiền bạc cùng những giá trị đời sống khác nhau là vấn đề riêng của mỗi gia đình, nhưng liệu gieo rắc một ý niệm hay ép buộc con cái đeo đuổi sự học trong mục đích kiếm tiền, có phải là điều đúng đắn xét trong khái niệm giáo dục và xã hội"

Từ lớp một, các học sinh tại Mỹ đã bắt đầu học về các đơn vị tiền tệ trong chương trình học toán. Việc này được lặp lại trong những năm đầu bậc tiểu học, mức độ khó hơn và cũng trong khuôn khổ toán học. Lên những bậc học cao hơn, học sinh bắt đầu được học về các khái niệm tiền bạc theo ý nghĩa kinh tế, như sự vận hành hệ thống tiền tệ, ngân hàng, tín dụng, lãi suất, tiêu thụ... Trong khi trường học là nơi cung cấp cho trẻ nhỏ những kiến thức về tiền tệ, thì cha mẹ là những người giáo dục cho con mình hiểu về sự tiêu xài, cùng ý nghĩa của tiền bạc trong đời sống như thế nào và những điều này sẽ giúp đỡ, hình thành thói quen và ảnh hưởng đến suốt cuộc đời của các em. Trong một số gia đình, tiền bạc có thể là vấn đề của người lớn và không hề được nhắc đến với con cái. Cha mẹ làm việc, kiếm tiền và mua sắm, chu cấp cho con cái. Chấm hết. Trong một số gia đình khác, vấn đề giáo dục ý nghĩa tiền bạc như sự tiết kiệm, khác biệt giữa nhu cầu cần thiết và lòng ham muốn, giá trị tiền bạc từ công việc... lại được lưu tâm. Cách nào đi nữa thì các nhà giáo dục và tâm lý cho rằng việc giáo dục con nhỏ về tiền bạc sẽ chưa đầy đủ, nếu không dạy cho các em biết rằng các em là một thành viên có trách nhiệm và biết cảm thông trong cộng đồng, trong xã hội và trong một quốc gia, mà sự san sẻ, đóng góp công sức hay tiền bạc ngược lại cho xã hội là một trong những trách nhiệm đó. Các mục đích cao đẹp này có thể thực hiện qua việc đóng góp cho các tổ chức tôn giáo mình tín ngưỡng. Tham gia các hoạt động xã hội hay thiện nguyện nếu không có khả năng đóng góp tiền bạc, cũng là những bài học giá trị dạy cho trẻ nhỏ. Khi hiến tặng áo quần, vật dụng gia đình, khuyến khích các con nhỏ tham gia bằng cách tự mình chọn những quần áo, giày dép, đồ chơi để cho. Đây là những điều mà bất cứ gia đình nào cũng có thể thực hiện, tùy vào khả năng và không hề dựa vào mức độ, mà dựa trên ý nghĩa và tinh thần nhân ái. Trên thực tế, xã hội Mỹ là một trong những xã hội có tinh thần thiện nguyện và đóng góp từ thiện cao nhất trên thế giới. Các hệ thống đại học đã nhận được khá nhiều tiền tài trợ hay từ thiện từ những cựu sinh viên của trường, một khi họ thành công sau khi ra trường. Albert Einstein có câu ví von khá hóm hỉnh về vấn đề này bằng con mắt vật lý học của ông rằng, “Mỗi người có trách nhiệm phải trả lại thế giới này ít nhất tương đương với những gì đã lấy ra”. Và vì chính những điều này, tiền bạc có một giá trị đặc biệt trong việc giáo dục và hình thành tính cách nơi các em.

Trở lại câu chuyện dạy con của anh bạn VN cùng các mẫu chuyện khác bên trên, vấn đề tiền bạc lại có một vị trí khá riêng biệt trong văn hóa và tâm lý người Việt. Bởi nó gắn liền với suy nghĩ về sự học. Một trong những đặc điểm quan trọng của văn hóa Việt hay Á Đông nói chung là đề cao học vấn, coi nặng bằng cấp. Tâm lý “Nhất Sĩ, nhì Nông” hay sự phân chia giai tầng “Sĩ, Nông, Công, Thương” đã ăn sâu vào nhiều gia đình VN từ bao đời, khi xem “Sĩ” - tức giới có học là hàng dầu. Khi đến Mỹ, thụ hưởng môi trường và điều kiện học hành tốt nhất, sự thăng tiến trong con đường học vấn con cái của các gia đình Việt xem ra nằm trong tầm tay. Không chỉ các gia đình khá giả hay cha mẹ học vấn cao, mà không ít cha mẹ lam lũ và việc học giới hạn cũng nuôi dạy con cái học hành thành tài, đỗ đạt cao. Quả đây là một nét son trong cộng đồng Việt nói riêng hay Á Châu nói chung tại Hoa Kỳ. Theo số liệu của Bộ Giáo Dục, tỉ lệ vào đại học của học sinh gốc Á Châu là cao nhất trong mọi sắc dân, khi có đến 90 % các em tiếp tục việc học sau bậc trung học, trong khi các học sinh Mỹ trắng cũng chỉ đạt đến tỉ lệ 71%.

Nhưng một khi mục đích của việc học này là để kiếm tiền, tìm danh phận riêng mình và làm “rạng danh” gia đình, điều này làm mất đi ý nghĩa thật sự của việc học và ít nhiều khác biệt với nền giáo dục phương Tây. Với nền giáo dục Hoa Kỳ, việc học được đề cao nhằm tạo ra những lớp công dân có kỹ năng thích ứng và góp phần phục vụ đắc lực cho xã hội, không phân biệt ngành nghề. Nó khuyến khích các em đi theo những đam mê, sở thích của chính mình, hướng đến sự khai phóng, những chân trời vô hạn. Trong khi các gia đình Á Đông này chỉ nhắm đến những ngành nghề thực dụng, kiếm ra nhiều tiền và lầm tưởng rằng bằng cấp cùng tiền bạc kiếm được sẽ tạo ra được sự trọng vọng, thì với người dân Mỹ, những người có nghề nghiệp mang tính phục vụ tha nhân nhiều nhất như khoa học gia, giáo viên, quản thủ thư viện, những thiện nguyện viên, ký giả, lính chữa lửa, cảnh sát... lại là những người được kính trọng nhiều nhất, theo các cuộc thăm dò. Và quả thật, họ xứng đáng để được kính trọng, khi đây là những nghề nghiệp đi theo sự thôi thúc cao quý hơn là nhằm mục đích kiếm tiền.

Dạy con về kiến thức tiền tệ, sự tiết kiệm, giá trị của đồng tiền, san sẻ những cơ may khi thành đạt quả là điều rất cần thiết. Nhưng gieo rắc tâm lý về sức mạnh của đồng tiền và xem chúng là mục đích tối hậu của mọi chuyện, quả là điều nên suy nghĩ lại. Vì điều này có thể tạo ra những cá nhân thành đạt trong nghề nghiệp chuyên môn, nhưng ích kỷ, tham lam hay thậm chí dễ dàng chao đảo với giá trị làm người, vì lòng ham muốn sẽ không bao giờ đủ. Qua báo chí hay thử vào các trang mạng chính phủ, nơi cung cấp các thông tin chống lại sự gian lận trong y tế, chúng ta sẽ thấy danh sách không ít các bác sĩ trẻ gốc Việt bị truất bằng hành nghề, bị tù tội, phạt tiền trong thời gian qua. Trong một vụ án liên quan đến một bác sĩ gốc Việt trẻ tại Mississippi, quan toà đã nói trước toà rằng “Họ thất bại khi đi vào sự tin tưởng của xã hội. Họ quên rằng ai là người họ sẽ phục vụ mà chỉ lo cho chính mình”, khi ông tuyên bố một bản án khá nặng. Trong không ít lần tham dự các buổi lễ vinh danh các học sinh Thủ Khoa, Á Khoa gốc Việt và thử đặt câu hỏi về sự chọn lựa nghề nghiệp, lần nào cũng có vài em trả lời rất hồn nhiên rằng “Học bác sĩ vì kiếm được nhiều tiền...” Lỗi này không phải nơi các em. Mà là bậc làm cha làm mẹ, há không phải mỗi chúng ta đều mong muốn điều tốt đẹp nhất cho con cái hay sao"

Đinh Yên Thảo

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.