Hôm nay,  

Trung Quốc: Thiếu Cân Đối

01/12/201100:00:00(Xem: 8589)
Trung Quốc: Thiếu Cân Đối

Nguyễn Xuân Nghĩa & Vũ Hoàng RFA

...doanh lợi của sản xuất không được trả lại cho công quỹ hay cho dân...

Chỉ mươi ngày sau bản báo cáo về hệ thống tài chính bất ổn của Trung Quốc, hôm 23 vừa qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF lại phổ biến phúc trình về tình trạng bền vững của kinh tế xứ này. Đáng chú ý trong bản phúc trình thứ nhì là những phân tích về sự thiếu cân đối trong cơ cấu chi thu khiến thành quả đạt được sẽ thiếu vững bền nếu không có cải cách. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu nội dung của bản phúc trình qua phần trao đổi cùng chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa, là tư vấn kinh tế của đài Á châu Tự do.
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF vừa phổ biến hai báo cáo về kinh tế Trung Quốc. Hôm 14 là báo cáo về hệ thống tài chính và ngân hàng với lời kêu gọi lãnh đạo Bắc Kinh phải đẩy mạnh cải cách hơn nữa để tránh một vụ khủng hoảng tài chính. Hôm 23 họ lại có báo cáo tên là "Bền Vững". Ông giải thích thế nào về sự xuất hiện dồn dập của hai tài liệu này?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đấy chỉ là sự ngẫu nhiên về thời điểm mà thôi.
- Về bối cảnh xuất hiện thì sau biến động tài chính bất ngờ tại Đông Á vào Tháng Bảy năm 1997 dẫn tới khủng hoảng lan rộng năm sau, Quỹ Tiền tệ Quốc tế bèn cùng Ngân hàng Thế giới lập ra chương trình gọi là "Thẩm định Tài chính" từ năm 1999 đề rà soát tình hình tài chính của các nước đã và đang phát triển hầu sớm phát hiện nguy cơ khủng hoảng mà kịp thời ngăn chặn. Trong chương trình này, Quỹ Tiền tệ IMF phụ trách thẩm lượng mức ổn định tài chính và Ngân hàng Thế giới chuyên trách về hệ thống tài chính của các nước đang phát triển. Cứ năm năm họ lại đánh giá một lần 25 nền kinh tế có ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế toàn cầu. Tháng Chín năm ngoái, IMF mở rộng việc thẩm định thành bắt buộc và trong 25 nền kinh tế là đối tượng rà soát thì có cả Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng nhiều nước khác. Hôm 14 vừa qua, IMF đã công bố bản thẩm định về nguy cơ bất ổn của hệ thống tài chính và ngân hàng Trung Quốc.
- Vụ thứ hai là phúc trình về Bền Vững hay "Sustainability Report" vừa được phổ biến hôm 23. Do yêu cầu từ Hội nghị Thượng đỉnh của khối G-20 năm ngoái, Quỹ Tiền tệ Quốc tế cùng bảy nước liên hệ đồng ý mở ra tiến trình gọi là "thẩm định nhau" trong đó có phúc trình về bền vững, với mục tiêu là tìm ra những bất cân xứng trong cơ cấu kinh tế từng nước. Bảy quốc gia đó là Anh, Ấn Độ, Đức, Mỹ, Nhật, Pháp và Trung Quốc. Đây là một thẩm định hỗn hợp giữa chuyên gia IMF với chuyên gia từng nước liên hệ. Tiêu chí do Thượng đỉnh G-20 năm ngoái đề ra là kịp đệ nạp Thượng đỉnh G-20 năm nay làm cơ sở cho một chương trình hành động chung.
Vũ Hoàng: Thưa ông, như vậy thì từ bối cảnh xuất hiện, ta thấy rằng việc khảo sát được các nước trù tính và thỏa thuận trước với Quỹ Tiền tệ IMF hầu sớm nhìn ra vấn đề mà ngăn ngừa, chứ không là một sáng kiến đơn phương của định chế quốc tế này, hoặc vì những ẩn ý chính trị gì khác như nhiều người có thể lầm tưởng.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, ta cũng không quên là mọi việc khảo sát hay nghiên cứu của các định chế quốc tế đều có sự đồng ý và hợp tác của quốc gia hội viên. Giá trị khách quan của cuộc khảo sát nằm ở đó, như khi ta đi khám bệnh thì phải tin vào bác sĩ và chịu khó khai báo rõ ràng về tình trạng sức khoẻ của mình. Vả lại, định chế tài chính quốc tế này có một trong bốn Phó Tổng giám đốc là một giáo sư Trung Quốc được đào tạo tại Mỹ, xưa kia là Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương của Bắc Kinh. Cũng vì thế mà bản phúc trình này càng đáng chú ý.
Vũ Hoàng: Bây giờ chúng ta bước qua nội dung. Thưa ông báo cáo này đáng chú ý ở những điểm nào?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đây là văn kiện chuyên môn, cô đọng, đệ nạp giới hữu trách về chính sách, trình bày với ngôn từ ngoại giao, kể cả khác biệt về cách thẩm định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và của giới chức Trung Quốc. Cho nên bối cảnh vẫn là sự minh bạch của khoa học.
- Nội dung gồm có mô tả sự thiếu cân đối của kinh tế, phân tích căn nguyên của sự bất cân đối, thẩm định yêu cầu của cải cách, và sau cùng là phương hướng giải quyết làm cơ sở cho một nỗ lực tái quân bình toàn cầu như nhóm G-20 đã đề xướng.
- Nhân đây, tôi xin được nói thêm rằng cách đây không lâu, Tổng lý Quốc vụ viện Trung Quốc là Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phát biểu rằng kinh tế Trung Quốc không cân đối, không công bằng, không ổn định và không bền vững. Tại Thượng đỉnh của Diễn đàn Đông Á ở Indonesia cách đây mươi ngày, Chủ tịch Trung Quốc là Hồ Cẩm Đào cũng nói đến tình trạng bất công và bất ổn này. Nghĩa là giới lãnh đạo Bắc Kinh có thấy ra vấn đề và đang muốn cải cách trước khi quá muộn.
Vũ Hoàng: Trước hết là về tình trạng thiếu cân đối khiến kinh tế Trung Quốc khó phát triển bền vững, đâu là những nhận định đáng chú ý nhất.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin được nói ngay về tính chất quá chuyên môn nên có thể là lạ kỳ trong cách nêu vấn đề.
- Khác với nhiều nước vào thời kỳ khởi phát, Trung Quốc có mô hình đặc biệt là đạt mức tăng trưởng cao mà vẫn có thặng dư cán cân vãng lai, tức là tăng trưởng mà không nhờ đầu tư hay tiết kiệm từ bên ngoài trút vào. Đáng chú ý là thặng dư vãng lai còn tăng vọt từ năm 2003 đến 2007 và lên tới 10% của Tổng sản lượng GDP trước khi trụ lại ở gần 5% như hiện nay. Điều ấy phản ảnh sức tiết kiệm cực lớn và còn gia tăng của các hộ gia đình. Và nói chung sức tiết kiệm của tư nhân, doanh nghiệp và nhà nước xứ này là cao nhất trong 20 nền kinh tế đứng đầu thế giới.
- Chuyện thứ hai là sức đầu tư cũng rất mạnh, mà lại là đầu tư theo lối "thâm dụng tư bản" - tức là nhờ máy móc thiết bị hơn là nhờ sức lao động. Cụ thể là nguồn tư bản tăng 12% một năm từ năm 2000 trong khi lượng lao động chỉ tăng chưa tới 1%. Tại một xứ có dân số quá đông thì đấy là bất thường. Bất thường là vì dù mô hình đó có kéo 500 triệu người ta khỏi cảnh bần cùng thì cũng không bền khi sức tiết kiệm và đầu tư đó sẽ dứt trong trung hạn, là từ hai đến năm năm tới. Chúng ta trở lại chuyện thiếu bền vững mà lãnh đạo Bắc Kinh cũng đồng ý.
Vũ Hoàng: Thính giả của chúng ta mà nghe thấy vậy cũng phải ngạc nhiên vì đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc là sức tiết kiệm và khả năng đầu tư rất cao, nhưng mà lại đầu tư vào máy móc hơn là lao động. Vì sao lại có nghịch lý đó? Và người dân họ sống bằng gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước tiên, ta nên nhắc lại rằng đấy là một sự mất cân đối và không bền!
- Về căn nguyên thì ta trở lại nỗ lực cải cách doanh nghiệp nhà nước từ gần hai chục năm trước khi nông nghiệp và tư doanh đã được giải phóng. Khi đó khu vực chế biến vẫn nằm trong tay các doanh nghiệp nhà nước quá lớn và kém hiệu năng trong khi cứ thu hút tài nguyên quốc gia. Việc cải cách đó thành công vì nâng cao hiệu năng sản xuất và đẩy mạnh đầu tư nhưng lại dẫn đến sự thiếu cân đối ngày nay.
- Lý do là việc cải tổ đó đẩy tài nguyên từ các hộ gia đình và từ khu vực nhà nước vào doanh nghiệp. Nói cho dễ hiểu là doanh lợi của sản xuất không được trả lại cho công quỹ hay cho dân mà mọi nguồn phúc lợi về y tế hay xã hội của chế độ bao cấp ngày xưa lại chấm dứt. Cũng từ đấy doanh nghiệp nhà nước còn thêm cơ hội mở ra cơ sở kinh doanh mới nhờ phương tiện sản xuất như đất, nước, xăng dầu, được trợ giá, và vì vậy càng có thế lực mạnh trên thị trường. Đâm ra người dân không được hưởng thành quả của sản xuất mà còn phải tiết kiệm nhiều hơn để dự phòng ốm đau, tuổi già, hay chi phí giáo dục cho con em.
Vũ Hoàng: Nhưng thưa ông sức tiết kiệm của người dân như vậy có là một khía cạnh đặc biệt của xã hội chủ nghĩa chăng?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng đấy là chuyện bất thường và là cái triệu bất tường!
- Thứ nhất vì mạng lưới an sinh xã hội không còn khi mà dân số bắt đầu thêm già lão nên nhà nhà đều thắt lưng buộc bụng phòng ngừa bất trắc. Thứ hai, vì khu vực gia cư cũng được tư nhân hoá nên không còn cảnh ở nhà của sở hay của nhà nước, các hộ gia đình trẻ phải để dành thì mới có tiền mua nhà. Do nạn đầu cơ trên thị trường địa ốc làm giá nhà tăng vọt, việc tiết kiệm vì vậy càng phải tăng. Thứ ba, vì khu vực tài chính vẫn còn bị kiểm soát và các ngân hàng lại giới hạn tín dụng, ưu tiên tài trợ cho doanh nghiệp nhà nước hoặc những ai có tài sản thế chấp, nên ta có hiện tượng bất thường là lãi suất hạ ở số âm, dân chúng khó vay tiền ngân hàng, tư doanh thì phải tìm nguồn tự tài trợ. Và ai ai cũng phải tiết kiệm để lo lấy thân. Sau cùng và bất thường nhất là chế độ hộ khẩu không được cải cách mà vẫn duy trì nên nhân công ở nông thôn và thành phần "dân công", là những kẻ tha phương cầu thực ở xa nguyên quán, bị thiệt vì khó tìm ra việc, có việc lại bị lương thấp và chẳng có quyền lợi về gia cư hay giáo dục, y tế. Ngần ấy yếu tố khiến người dân Trung Quốc phải bấm bụng và có tiền dằn lưng.
Vũ Hoàng: Nhưng chẳng lẽ lãnh đạo Trung Quốc lại không biết hay không làm gì sao?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Bắc Kinh có biết và đã cải tiến mạng lưới an sinh mà chưa đủ và Trung Quốc vẫn chưa đạt tiêu chuẩn bình quân của quốc tế. Đã thế, chính sách của họ lại là dung hợp với mức tiết kiệm cao, tức là bọc xuôi và sống chung với sự mất cân đối.
- Thí dụ như gia tăng xuất khẩu để bù cho số tổng cầu nên mới giữ tỷ giá đồng bạc thấp và điều chỉnh rất ít. Thứ hai là thu hút ngoại tệ vào khối dự trữ đã quá ba ngàn tỷ mà lại đông lạnh phần đối giá qua 30 lần nâng mức dự trữ ngân hàng bằng nội tệ và qua phát hành trái phiếu ngắn hạn. Thứ ba là kềm hãm lãi suất mỗi khi thấy có thặng dư cán cân vãng lai. Kết cuộc là dân có tiền ký thác đành chịu trận mà không đem tiền ra ngoài được, đâm ra tiết kiệm của các hộ gia đình lại thành tiết kiệm của nhà nước qua các trương mục ký thác. Nói vắn tắt thì chính là chính sách ứng phó với nạn bất cân đối lại càng duy trì tình trạng này!
Vũ Hoàng: Bây giờ thì có lẽ mọi người đều đồng ý là tình trạng mất cân đối ấy khó tồn tại và hiển nhiên là Bắc Kinh cũng thấy như vậy như lời phát biểu của lãnh đạo Trung Quốc mà ông vừa nhắc tới.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Bản phúc trình có viết ra rằng giới chức Bắc Kinh và các chuyên gia IMF đều đồng ý là mức đầu tư rất cao hiện nay sẽ không bền. Nhưng họ lại thẩm định khác biệt về chiều hướng của sức tiết kiệm sau này.
- Nhà cầm quyền thì cho rằng nhờ Kế hoạch Năm năm thứ 12, được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Kỳ 5 của Khoá 17 biểu quyết từ Tháng 10 năm ngoái, việc cải cách theo hướng khuyến khích tiêu thụ sẽ điều chỉnh tình trạng bất cân đối này và mức tiết kiệm sẽ giảm. Nôm na là dân chúng sẽ có thêm tiền tiêu và kinh tế sẽ nhập khẩu nhiều hơn nên cũng tái lập quân bình trong quan hệ kinh tế toàn cầu.
- Các chuyên gia IMF thì cho rằng dù Kế hoạch Năm năm này có tiềm năng lớn, nhưng vẫn cần thời gian lâu dài hơn mới có hiệu nghiệm và các biện pháp khuyến khích chưa đủ thay đổi nếp sinh hoạt một cách đáng kể, vì vậy mức thặng dư vãng lai này sẽ còn tăng khi đầu tư đã giảm.
Vũ Hoàng: Sau cùng, phúc trình của IMF đề nghị những gì để tái lập quân bình?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Họ nêu một số ưu tiên trong chính sách chẩn chỉnh, trước tiên từ cơ cấu.
- Đó là củng cố mạng lưới an sinh xã hội trên bình diện cả nước chứ không chắp vá cục bộ và phải mở ra các chương trình hưu liễm cho thành phần dân công và cư dân ở nông thôn. Thứ nhì, khi nâng tiêu thụ nội địa thì có thể gây lạm phát nên chính quyền cần tăng mức di động ngoại hối của đồng bạc, là nâng cao tỷ giá, và khuyến khích doanh nghiệp chuyển hướng từ xuất khẩu qua phục vụ thị trường nội địa. Thứ ba là giải phóng và phát triển hệ thống tài chính và ngân hàng với các dịch vụ tài chính ngoài ngân hàng như trái phiếu, bảo hiểm, v.v... để dân chúng bớt dần nhu cầu tiết kiệm nhờ có giải pháp khác. Thứ tư là phải yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phân phối doanh lợi và cụ thể là trả lại tiền lời cho nhà nước, là điều đã tính từ năm 2007 mà chưa thực hiện nổi. Thứ năm là giải toả chế độ hộ khẩu cho dân lao động được di chuyển và kiếm việc dễ dàng hơn. Và sau cùng là chấm dứt những lệch lạc giá cả của các phương tiện sản xuất được trợ cấp hầu nâng mức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong thị trường nội địa.
- Nói chung, tôi trộm nghĩ rằng những biện pháp đề nghị ấy là chính đáng, công bằng và cần thiết nếu Trung Quốc muốn có một nền tảng kinh tế vững bền. Nhưng cải cách như vậy lại có thể thu hẹp đặc lợi của các nhóm lợi ích vốn chỉ là một thiểu số. Nếu lãnh đạo không giải quyết nổi tình trạng bất cân xứng và bất công đó thì họ sẽ lãnh hậu quả bất ổn.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nguyễn Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.