Hôm nay,  

Học Ăn, Học Nói...

17/11/201200:00:00(Xem: 10391)
Từ Tháng 11 dương lịch (Lễ Tạ Ơn) cho đến Tháng Giêng âm lịch (Tết Việt Nam), người Việt ở Mỹ thường nghĩ đến các dịp gặp gỡ, tề tựu, với các món ăn đặc biệt hoặc thức uống ưa thích, cùng với việc thi đua nói năng ở bàn ăn. Bởi vì khuynh hướng thông thường của mọi sinh vật là Tìm Vui qua Sự Hưởng Thụ hoặc Sự Khoái Lạc (Pleasure) về vật chất lẫn tinh thần. Nhưng cần biết rằng Khoái Lạc không phải là Chân Hạnh Phúc (True Happines). Khoái Lạc chỉ được thỏa thích tạm thời (temporary), nên mau chán, và người ta sẽ tìm kiếm một khoái lạc mới, cho tuần tới hoặc tháng tới, nghĩa là suốt đời mờ mịt chạy theo các ảo ảnh bên ngoài... cho đến chết. Còn Hạnh Phúc thực sự đạt được, do chính ta huân tập, thường ở lại, bền vững trong tâm hồn thanh tịnh của chúng ta.

Tổ Tiên Người Việt có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở...” Ý nói hầu hết điều gì cũng phải học, ngay cả việc ăn, nói hằng ngày (tưởng là quá dễ!) hoặc gói và mở quà cho khéo và gọn (đâu có gì khó!). Xin đừng tự kiêu, “Tôi biết rồi mà!” Nhất là khi thấy một người khiêm tốn hỏi thăm việc gì “có vẻ tầm thường”, như nấu một món ăn, trồng một loại rau..., một số người Việt nóng nảy, lên giọng gắt gỏng người kia: “Có gì khó đâu mà hỏi!”, thay vì nhẹ nhàng hướng dẫn, với tâm từ ái. Vậy số người Không Biết Học Ăn, Học Nói nầy, đã vô tình làm nhục người kia trước đám đông và khiến người đó có thể trở thành tự kiêu như họ; từ đó, cái gì cũng “Tôi biết rồi!” và không học hỏi nữa. Bởi vì cùng trong đám thô lậu với những tâm hồn chật hẹp như nhau, ít tiếp xúc với xã hội bên ngoài, “ếch ngồi đáy giếng”, họ thấy nhau “đều hay”, cần gì mở rộng tâm hồn để học hỏi nơi người khác. Nếu có vài người nào thanh cao hơn, đến với họ; họ sẽ tìm mọi cách để hạ thủ, bằng số đông áp đảo. Số người Việt xấu tánh có thể tăng dần trong các phe nhóm đó và xã hội, và số người Việt tốt vơi đi... Lại có những người Việt không biết suy nghĩ trước khi nói, hoặc giành nói nhiều hơn nghe, và nói to tiếng, nói lấn át người kia. Chưa hết, họ còn chỉ tay vào mặt người đối diện trong khi “trổ tài ăn nói”, như “vua chúa” và “bà hoàng” đang quát nạt quan dân của họ. Thật buồn và cũng đáng thương cho những người Việt thiếu văn hóa nầy!!! Mới ra sống nơi xứ người vài năm cho tới vài chục năm, họ đã vội quên hết nguồn gốc và cung cách cư xử lịch sự, khiêm cung, biết điều và biết ơn nghĩa đồng bào với nhau, đã có từ hằng ngàn năm trước của dân tộc Việt.
hoc_an_hoc_noi_
Ngồi vào bàn ăn, nên nhớ tới câu “học ăn, học nói...”
Một em sinh viên đã hỏi tôi: “Thưa cô, em được học là người Châu Á, bao gồm người Việt, thì: thân thiện, ít nói, “trước khi nói phải uốn lưỡi 7 lần”, khi nói không nhìn thẳng vào mắt người kia, sợ vô phép; tuyệt đối không chỉ tay về phía người khác (a sign of aggressiveness), và nói nhỏ nhẹ... Mà sao ở đây, em thấy nhiều người Việt hung hăng quá. Họ lớn tiếng, chỉ tay, và trợn mắt trong khi nói, dù là việc nhỏ. Why do they make a molehill into a mountain? Em sợ quá, không dám đến gần họ nữa, dù cùng là người Việt... Xin cô cho biết tại sao...” Tôi đã mang bài giảng trong các lớp Psychology ra để tự cứu mình: “Chắc là em và cô phải làm vài cái surveys để tìm hiểu lý do trước khi kết luận. Còn theo Psychoanalysis thì có thể là thuở nhỏ, những người nầy không được chăm sóc đầy đủ về vật chất, hoặc thiếu tình thương, bị bỏ quên (neglected), bị lạm dụng (abused), thường xuyên bị đánh đập (physical abuse) và chửi rủa (verbal abuse)... Nếu không thể thoát khỏi nghịch cảnh nầy và tìm cách tự lập, để sống còn, họ đã phải nhập nhiễm và tập quen với các hành động thô lỗ, bạc ác, và tàn nhẫn kia; lâu dần, những cái xấu ác (bị nhìn thấy hằng ngày đó) trở thành một phần của con người họ, mà chính họ cũng không biết (unconsciousness). Tệ hơn là vì thiếu niềm vui trong đời, họ thường ghen ghét những ai vui hơn mình, nên sẵn sàng hạ nhục, làm hại, hoặc gây đau khổ cho người khác, cùng một cách mà họ đã từng bị hành hạ trước đây. Chu Kỳ Hận Thù, Báo Oán tiếp diễn...”

Có một cách để chặt đứt Oán Thù là Thức Tỉnh họ, nếu họ biết áp dụng Nội Quan (Self Awareness) của Tâm Lý Học: Tự chủ động quán sát những ý nghĩ, lời nói, và hành động của mình hằng ngày, với Chủ Tâm chặt đứt ngay lập tức, những điều thô xấu và bất công cho họ và người khác, ngay khi chúng phát khởi từ trong Ý Nghĩ, không cho cái thô ác có cơ hội bộc lộ ra Lời Nói (thô lỗ) và Hành Động (bạc nghĩa). Ít nhất phải thực hành liên tục khoảng 2 tháng, sẽ thấy kết quả; tâm hồn họ từ từ trở nên thanh thoát hơn, họ cư xử biết điều hơn, và người vui khỏe hơn. Phương pháp Thiền Định hoặc Niệm Phật (Nam Mô A Di Đà Phật) liên tục hằng ngày, chú ý nghe và tập trung vào tiếng Niệm Phật, để tâm hồn được yên tịnh, cũng là hai cách khác để Quán Sát Nội Tâm và mang lại Tâm Tĩnh Lặng (không vui không buồn), tức là Hạnh Phúc thanh tịnh.


Cũng về việc Ăn Nói, trong một đám cưới, thay vì quan tâm tới cô dâu chú rể, cầu mong cho họ được hạnh phúc, hay vui mừng cho gia đình hai bên đã khó nhọc Lo Xong Trách Nhiệm Dựng Vợ Gả Chồng Cho Con Cháu, thì có những người Việt chăm chú nhìn vào thức ăn và chê: “Tôi không ưa thứ thịt đó” hoặc “Món broccoli nầy thất bại rồi!”... Vậy Học Ăn, Học Nói rất quan trọng, nhất là đối với người lớn, để làm gương tốt (chứ không phải gương xấu) cho con cháu và người khác.

Một thí dụ nữa về Học Ăn, Học Nói, liên quan tới người ngoại quốc: Một người Tây Phương (a Western person) sau khi đi tới một chùa ở Thái Lan, nói rằng, tôi không thích chùa đó, vì các nhà sư ấy ghét nhau nên không nói chuyện với nhau trong bữa ăn. Lý do là vì người Tây Phương nầy không hiểu rằng các nhà sư Phật Giáo kia đã Thực Hành Thiền Định (Meditation Practice) ngay trong bữa ăn, không những với việc “ăn món gì”, mà với “cách ăn” nữa. Tức là khi ăn, cả Thể Xác và Tinh Thần phải được bồi bổ, bằng sự Tập Trung (concentration) và Tĩnh Lặng (serenity), kèm Sự Tri Ân (gratitude). Họ im lặng để nghĩ tới những ai đã cung cấp thức ăn đến chùa; ai đã trồng ra hạt gạo, đậu, rau quả; ai đã làm nên ly tách chén đũa cho họ dùng; ai đã nấu và dọn ra. Nếu có thịt cá tôm, họ tỏ lòng tri ân những sinh vật đã chết để mang lại thức ăn cho họ và nguyện cầu cho chúng được giải thoát... Nhất là vì theo Lý Thuyết Tái Sinh của nhà Phật, có thể những sinh vật kia là người thân quen của họ đời trước, do các nghiệp xấu ác đã tạo, nay bị đầu thai thành thú vật và vừa mới chết.

Chúng ta, đa số thích nói chuyện trong khi ăn, vì giao tế (socializing), hoặc vì quá lo lắng (worries), hoặc cãi cọ, buồn phiền... trong khi ăn vội vàng. Những điều nầy tạo ra một tâm hồn bất an, bất hòa, không an vui; cơ thể bị Căng Thẳng Liên Tục (Constant Stress), có thể đổi tính, sinh ra cộc cằn, hung dữ, hoặc bị các bệnh rối loạn tiêu hóa (indigestion), hoặc loét bao tử (ulcers). Dù rất bận rộn, nên dành thời gian sau bữa ăn để gia đình bàn chuyện không vui.

Cũng do thiếu sự dung thứ (tolerance) và lòng nhân từ (kindness), người ta có thể gây đau khổ cho người khác hoặc chính người thân, và đồng thời tạo ra khẩu nghiệp (karma of words) hoặc thân nghiệp (karma of bodily action) cho chính mình, qua bữa ăn. Thay vì nhăn mặt, to tiếng: “Cơm nhão quá, làm sao ăn?”; hãy tập dằn lòng và nói nhẹ nhàng: “Em ơi! Lần sau, em thêm gạo (hoặc bớt nước), thì cơm ngon hơn.” Thay vì hét lên: “Cái spaghetti sauce này chua quá! Tôi ăn không nổi”; hãy nói ngọt ngào: “Anh ơi! nếu anh bớt cà chua (hoặc thêm chút đường) thì món spaghetti nầy của anh tuyệt lắm đó!” Đã từng có một ông chồng giết vợ chỉ vì bà không làm món thịt bò chiên (beef steak) vừa ý ông. Sau khi qua cơn giận vì ham muốn, nghĩ lại, có thấy điên rồ, dại dột không?

Nên nhớ, miếng ngon chỉ ở nơi miệng, khi nó qua khỏi cổ họng, thì dù ngon, dở, vẫn được tiêu hóa như nhau, trong ruột và bao tử. Nỡ nào vì miếng ngon nhất thời, mà buông lời thô lỗ hoặc hành động bạc bẽo với người thân quen? Con người là một sinh vật biết suy nghĩ. Chính sự suy tư chân chính làm con người được xem là hơn loài vật. Hãy nhắc nhau cùng vận dụng trí tuệ của con người để tự kiểm soát từng ý nghĩ của chính mình, thay đổi cuộc sống, và mang lại Hạnh Phúc cho chính mình và người khác. Vạn Sự Do Tâm. Thiên đường hay địa ngục là do Tâm tạo, do mình tạo ra.

Trong các dịp ăn uống bình thường, chúng ta cần quan tâm đến Giá Trị Thực Sự của món ăn (the real values of food), tức là giữ gìn (sustain) và bồi bổ (nourish) cơ thể, tâm hồn, và đời sống của chúng ta. Không nên phung phí tiền bạc hoặc tranh cãi, hơn thua nhau, vì Giá Trị Giả Tạo của món ăn (the false values of food) như là mầu sắc, hương vị thơm ngon hơn (tastes), cách trình bầy hoa mỹ hơn, nhà hàng sang trọng hơn (presentation). Nếu liên tục tìm kiếm và bám víu vào các giá trị giả tạo kia, dần dần, Lòng Tham (greed) sẽ phát sinh trong tâm hồn và thể hiện qua lời nói cũng như hành động của chúng ta, và bad cholesterol cũng có thể sinh ra trong dòng máu ta, qua các bữa ăn thiếu lành mạnh.

Tóm lại, việc ăn của chúng ta không phải chỉ là việc cho thức ăn vào miệng, mà còn là một hành động thiết thực và hữu ích để phát triển thể xác, tâm hồn mình, và những người trong gia đình, cũng như xã hội xung quanh ta. Bởi vì thể xác, tâm hồn, trí tuệ của những cá nhân trong một gia đình, cộng đồng, xã hội liên quan lẫn nhau, và con người cần học hỏi và phát triển tương đồng về trình độ hiểu biết để dễ hài hòa với nhau hơn.

(Source: http://www.visalo.org/englishArticles/eating.htm).

Để Tưởng Nhớ Ngày Cựu Chiến Binh của Hoa Kỳ – Veterans Day, 11.11.2012.
GS Trần Thủy Tiên, M.A. in Psychology & Sociology

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.